TRẦN THỊ HỒNG ÁNH
Giới thiệu về bản thân
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Quảng Ninh, ngày 18 tháng 5 năm 2026
BẢN TƯỜNG TRÌNH
(Về việc: Chứng kiến vụ tai nạn giao thông)
Kính gửi: Cơ quan Công an
Họ tên: Trần Thị Hồng Ánh
Ngày tháng năm sinh: 12/10/2013
Quê quán: Phú Thọ
Nơi ở hiện nay: Hoành Bồ, Quảng Ninh
Công việc chính hiện đang đảm nhiệm: Học sinh
Thời điểm sự việc xảy ra hoặc phát hiện: ngày 18 tháng 5 năm 2026 vào lúc 16 giờ 00 phút (4 giờ chiều)
Trình tự diễn biến sự việc: Vào thời gian trên, khi em đang đi chuyển trên đoạn đường Lê Lợi , em đã chứng kiến một vụ tai nạn giao thông. Lúc đó, xe máy mang biển kiểm soát A14-399.11 do một người đàn ông điều khiển đang lưu thông thì bất ngờ va chạm với xe mays khac mang biển kiểm soát A19-036.67. Cú va chạm mạnh khiến người điều khiển xe máy ngã văng xuống đường, phương tiện bị hư hỏng. Ngay sau khi sự việc xảy ra, em cùng những người dân xung quanh đã chạy đến hỗ trợ gọi xe cấp cứu và bảo vệ hiện trường.
Nguyên nhân dẫn đến sự việc xảy ra: Theo quan sát của em, nguyên nhân là do phóng nhanh vượt ẩu dẫn đến va chạm.
Người viết tường trình (Ký tên)
Ánh
Trần Thị Hồng Ánh
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hoành Bồ ngày 18 tháng 5 năm 2026
BẢN TƯỜNG TRÌNH
(Về việc: Hai bạn học sinh xô xát trong lớp học)
Kính gửi: cô Phạm Thị Lâm _ gvcn lớp 7a3
Họ tên: Trần Thị Hồng Ánh
Ngày tháng năm sinh: 12/10/2013
Quê quán: Phú Thọ
Nơi ở hiện nay: khu An Biên 1, Hoành Bồ , QN
Công việc chính hiện đang đảm nhiệm: Tổ phó tổ 3
Thời điểm sự việc xảy ra hoặc phát hiện: ngày 18 tháng 5 năm 2026 (vào khoảng 3 giờ 35 phút, trong giờ ra chơi sau tiết toán )
Trình tự diễn biến sự việc: Vào thời gian trên, tại khu vực ngoài hành lang lớp học ban Vinh và bạn Dương đã xảy ra tranh cãi lớn tiếng. Do không giữ được bình tĩnh, hai banj đã lao vào xô xát, giằng co và đánh nhau, làm xê dịch một số bàn ghế xung quanh. Ngay lúc đó, em và các bạn trong lớp đã lập tức chạy đến can ngăn, tách hai bạn ra hai phía để ổn định trật tự trước khi giáo viên vào lớp.
Nguyên nhân dẫn đến sự việc xảy ra: Do hai bạn có mâu thuẫn, hiểu lầm từ trước dẫn đến lời qua tiếng lại và không kiềm chế được sự nóng nảy.
Người viết tường trình (Ký tên)
Ánh
Trần Thị Hồng Ánh
5-6 dòng:
Văn bản khắc họa chi tiết các phương tiện vận chuyển thô sơ, độc đáo của các dân tộc thiểu số Việt Nam trong lịch sử. Người dân miền núi phía Bắc chủ yếu dùng sức người với phương thức gùi, địu hoặc dùng sức súc vật như ngựa, trâu để thồ hàng qua địa hình hiểm trở. Trong khi đó, các dân tộc Tây Nguyên lại ưa chuộng việc cưỡi voi, dùng xe quệt kéo bằng trâu bò, còn cư dân vùng sông nước thì tận dụng thuyền đuôi én, thuyền độc mộc. Qua đó, tác phẩm làm nổi bật sự sáng tạo, tinh thần vượt khó và khả năng thích ứng tuyệt vời của đồng bào với môi trường tự nhiên. Cuối cùng, văn bản khẳng định các phương tiện này không chỉ mang giá trị vật chất mà còn là nét đẹp văn hóa truyền thống cần được trân trọng.
10-12 dòng:
Văn bản "Phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày xưa" đã cung cấp một cái nhìn toàn diện và thú vị về cách thức di chuyển, vận chuyển hàng hóa của các tộc người thiểu số trên khắp đất nước. Do đặc thù địa hình hiểm trở, chia cắt, mỗi vùng miền lại hình thành nên những phương thức vận tải vô cùng độc đáo và sáng tạo. Ở vùng núi phía Bắc, đồng bào các dân tộc như Mông, Dao, Thái chủ yếu sử dụng sức người là chính với chiếc gùi đeo sau lưng, đôi khi là các loại gùi có quai đeo qua trán để giảm sức nặng. Bên cạnh đó, họ còn thuần hóa và sử dụng ngựa thồ, trâu thồ để di chuyển trên những con đường mòn dốc đá quanh co. Đối với vùng đất Tây Nguyên đầy nắng gió, hình ảnh những chú voi bản địa được thuần dưỡng để chở người và hàng hóa đã trở thành một biểu tượng đặc trưng. Người dân nơi đây còn sáng tạo ra xe quệt – một loại phương tiện không bánh, dùng trâu bò kéo để di chuyển thuận tiện trên địa hình đất cát, bùn lầy. Không chỉ đường bộ, các phương tiện đường thủy như thuyền độc mộc, thuyền đuôi én cũng được cư dân vùng lòng chảo hay ven sông suối sử dụng rất thành thạo. Tóm lại, văn bản không chỉ giới thiệu về mặt công nghệ vận chuyển thô sơ ngày xưa mà còn tôn vinh trí tuệ dân gian, khả năng thích ứng linh hoạt và bản sắc văn hóa phong phú của đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
5-6 dòng:
Văn bản khắc họa chi tiết các phương tiện vận chuyển thô sơ, độc đáo của các dân tộc thiểu số Việt Nam trong lịch sử. Người dân miền núi phía Bắc chủ yếu dùng sức người với phương thức gùi, địu hoặc dùng sức súc vật như ngựa, trâu để thồ hàng qua địa hình hiểm trở. Trong khi đó, các dân tộc Tây Nguyên lại ưa chuộng việc cưỡi voi, dùng xe quệt kéo bằng trâu bò, còn cư dân vùng sông nước thì tận dụng thuyền đuôi én, thuyền độc mộc. Qua đó, tác phẩm làm nổi bật sự sáng tạo, tinh thần vượt khó và khả năng thích ứng tuyệt vời của đồng bào với môi trường tự nhiên. Cuối cùng, văn bản khẳng định các phương tiện này không chỉ mang giá trị vật chất mà còn là nét đẹp văn hóa truyền thống cần được trân trọng.
10-12 dòng:
Văn bản "Phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày xưa" đã cung cấp một cái nhìn toàn diện và thú vị về cách thức di chuyển, vận chuyển hàng hóa của các tộc người thiểu số trên khắp đất nước. Do đặc thù địa hình hiểm trở, chia cắt, mỗi vùng miền lại hình thành nên những phương thức vận tải vô cùng độc đáo và sáng tạo. Ở vùng núi phía Bắc, đồng bào các dân tộc như Mông, Dao, Thái chủ yếu sử dụng sức người là chính với chiếc gùi đeo sau lưng, đôi khi là các loại gùi có quai đeo qua trán để giảm sức nặng. Bên cạnh đó, họ còn thuần hóa và sử dụng ngựa thồ, trâu thồ để di chuyển trên những con đường mòn dốc đá quanh co. Đối với vùng đất Tây Nguyên đầy nắng gió, hình ảnh những chú voi bản địa được thuần dưỡng để chở người và hàng hóa đã trở thành một biểu tượng đặc trưng. Người dân nơi đây còn sáng tạo ra xe quệt – một loại phương tiện không bánh, dùng trâu bò kéo để di chuyển thuận tiện trên địa hình đất cát, bùn lầy. Không chỉ đường bộ, các phương tiện đường thủy như thuyền độc mộc, thuyền đuôi én cũng được cư dân vùng lòng chảo hay ven sông suối sử dụng rất thành thạo. Tóm lại, văn bản không chỉ giới thiệu về mặt công nghệ vận chuyển thô sơ ngày xưa mà còn tôn vinh trí tuệ dân gian, khả năng thích ứng linh hoạt và bản sắc văn hóa phong phú của đại gia đình các dân tộc Việt Nam.