Trương Phạm Linh Đan

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trương Phạm Linh Đan
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Thể tích công tác của một xi lanh là 0,6 lít. Tổng thể tích khí thải trong 1 phút là 14,4 lít.

Nhiệm vụ của cơ cấu phối khí Đóng/mở các cửa nạp và cửa thải đúng lúc để động cơ thực hiện quá trình nạp khí mới và thải khí đã cháy ra ngoài. Đảm bảo độ kín khít cho buồng cháy trong các quá trình nén và nổ (đốt cháy - giãn nở).

Giống nhau Cả hai đều dùng cam để đẩy xupáp mở ra và dùng lò xo để đóng xupáp lại. Trục cam đều được dẫn động từ trục khuỷu của động cơ. Khác nhau về cách truyền động Cơ cấu xupáp treo: Vị trí: Xupáp được đặt ở nắp máy (phía trên đỉnh piston). Truyền động: Phức tạp hơn. Cam tác động qua con đội, đến đũa đẩy, rồi đến đòn bẩy (cò mổ) mới đẩy được xupáp mở xuống. Ưu điểm: Buồng cháy gọn hơn, hiệu suất nạp và thải cao (phổ biến ở động cơ hiện đại). Cơ cấu xupáp đặt: Vị trí: Xupáp được đặt ở thân máy (bên cạnh xi lanh). Truyền động: Đơn giản hơn. Cam tác động trực tiếp lên con đội để đẩy xupáp mở lên. Nhược điểm: Buồng cháy thường bị kéo dài, hiệu suất nạp thải kém hơn nên hiện nay ít dùng cho động cơ xăng/diesel hiện đại.

Thể tích công tác của động cơ này là khoảng 6485,49 cm^3 (hoặc xấp xỉ 6,485 lít).

Nắp máy phức tạp vì nó vừa là "nắp" đậy buồng cháy, vừa là "trung tâm" điều khiển việc nạp, thải và đánh lửa cho động cơ.

Bước 1: Lắp đặt thiết bị: Đặt ống thủy tinh thẳng đứng trên giá đỡ. Nối loa với máy phát tần số. Đặt loa sát miệng ống trụ. Bước 2: Thiết lập tần số: Bật máy phát tần số, điều chỉnh để phát ra tín hiệu sóng hình sin với một tần số f xác định (ví dụ 500\text{ Hz} hoặc 1000\text{ Hz}). Bước 3: Tìm vị trí cộng hưởng thứ nhất: Di chuyển pit-tông từ miệng ống xuống dần cho đến khi nghe thấy âm thanh từ loa phát ra to nhất (cộng hưởng lần 1). Ghi lại vị trí d_1 của pit-tông trên thước đo. Bước 4: Tìm vị trí cộng hưởng thứ hai: Tiếp tục di chuyển pit-tông xuống thấp hơn cho đến khi lại nghe thấy âm thanh to nhất lần nữa (cộng hưởng lần 2). Ghi lại vị trí d_2 của pit-tông. Bước 5: Lặp lại thí nghiệm: Thay đổi tần số f hoặc lặp lại các bước trên nhiều lần để lấy giá trị trung bình nhằm giảm sai số.