Doãn Ngọc Tim
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Ý nghĩa của việc gìn giữ bản sắc quê hương đối với thế hệ trẻ hiện nay
Trong dòng chảy hối hả của sự hội nhập, việc gìn giữ bản sắc quê hương đóng vai trò là chiếc neo vững chắc định vị giá trị của mỗi người trẻ. Bản sắc không chỉ là những phong tục, tập quán hay lời ca tiếng hát mà còn là hồn cốt, là căn cước văn hóa riêng biệt của dân tộc. Đối với thế hệ trẻ, việc trân trọng những giá trị cội nguồn giúp chúng ta không bị hòa tan giữa biển lớn nhân loại, tạo nên sự khác biệt và tự tin khi bước ra thế giới. Khi thấu hiểu những nỗi nhọc nhằn của cha ông qua hình ảnh "làng là mảnh lưới trăm năm", tuổi trẻ sẽ hình thành lòng biết ơn và trách nhiệm sống cống hiến. Gìn giữ bản sắc còn là cách để nuôi dưỡng tâm hồn, giúp con người tìm thấy điểm tựa tinh thần sau những áp lực của cuộc sống hiện đại. Nếu chối bỏ cội nguồn, chúng ta sẽ trở thành những "cái cây không rễ", dễ dàng gục ngã trước những biến động. Bởi vậy, mỗi bạn trẻ cần ý thức được rằng, việc bảo tồn văn hóa quê hương chính là cách tốt nhất để phát triển tương lai một cách bền vững.
Câu 2. So sánh giá trị nội dung của văn bản Quê biển và bài thơ Về làng
Mỗi mảnh đất quê hương luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca, và qua hai tác phẩm Quê biển của Nguyễn Doãn Việt cùng Về làng của Đỗ Viết Tuyển, ta bắt gặp những rung động sâu sắc về tình yêu cội nguồn nhưng với những sắc thái biểu đạt riêng biệt.
Về điểm chung, cả hai bài thơ đều là tiếng lòng của những người con hướng về nơi chôn rau cắt rốn. Đó là niềm xúc động, sự trân trọng trước những vẻ đẹp bình dị, thân thương của quê hương và lòng biết ơn đối với những người đã gầy dựng nên truyền thống làng quê.
Tuy nhiên, mỗi văn bản lại tập trung khai thác những khía cạnh nội dung khác nhau. Ở bài thơ Quê biển, tác giả tập trung khắc họa cuộc sống lao động nhọc nhằn nhưng đầy kiêu hãnh của con người miền biển. Hình ảnh quê hương hiện lên với vị mặn mòi của muối, với "mái nhà hình mắt lưới" và những đêm đợi biển dài đằng đẵng. Nội dung chính của tác phẩm là ngợi ca sự kiên trì, bền bỉ của những ngư dân và sự gắn bó máu thịt giữa con người với biển khơi. Biển không chỉ là nơi mưu sinh mà còn là một phần thân thể, một "mảnh lưới trăm năm" ôm trọn bao kiếp người. Tình cảm trong Quê biển là tình yêu mang tính gắn kết, thấu hiểu những đau thương và vất vả của làng chài.
Ngược lại, bài thơ Về làng lại thiên về cảm xúc hoài niệm của một người đi xa trở về. Nếu Quê biển là cái nhìn tại chỗ về một cuộc sống đang tiếp diễn, thì Về làng là cái nhìn từ xa cách đến lúc hội ngộ. Bài thơ gợi lên những hình ảnh đặc trưng của làng quê đồng bằng Bắc Bộ với "con đê đầu làng", "gió heo may", "khói bếp" và "cánh diều tuổi thơ". Giá trị nội dung của tác phẩm nằm ở nỗi băn khoăn về sự thay đổi của thời gian: "Người xưa giờ có còn sang hát chèo". Câu thơ cuối "Tóc xanh đã bạc mà chưa tới làng" thể hiện một nỗi ngậm ngùi, xót xa trước hành trình tìm lại quá khứ gian truân. Ở đây, quê hương là miền ký ức tươi đẹp, là nơi xoa dịu tâm hồn người lữ thứ.
Về phương diện nghệ thuật hỗ trợ nội dung, Quê biển sử dụng nhiều hình ảnh biểu tượng, nhân hóa mạnh mẽ để làm nổi bật sự khốc liệt và sức sống mãnh liệt của làng chài. Trong khi đó, Về làng lại sử dụng những hình ảnh ước lệ, giàu sức gợi cảm để tạo nên không gian hoài niệm dịu dàng nhưng đầy trăn trở.
Tóm lại, dù Quê biển nhấn mạnh vào sự kiên cường trong lao động, còn Về làng thiên về nỗi lòng hoài hương, cả hai tác phẩm đều gặp nhau ở một điểm: tình yêu quê hương chính là sức mạnh tinh thần lớn lao nhất của mỗi con người. Hai bài thơ như hai mảng màu khác nhau, cùng tô điểm cho bức tranh tình yêu đất nước thêm đa dạng và sâu sắc.
Câu 1.
Thể thơ của văn bản trên là thể thơ tự do.
Câu 2.
Một hình ảnh thơ mang tính biểu tượng cho cuộc sống của làng biển được sử dụng trong bài thơ là: mảnh lưới trăm năm,cánh buồm nghiêng, những mái nhà hình mắt lưới, hàng phi lao.
Câu 3.
Phân tích ý nghĩa của hình ảnh mẹ tôi bạc đầu sau những đêm đợi biển: Hình ảnh thể hiện sự lo âu, khắc khoải và nỗi lòng trăn trở của người mẹ khi có người thân đang đối mặt với sóng gió ngoài khơi xa. Màu tóc bạc là minh chứng cho dòng thời gian chờ đợi đằng đẵng và những nhọc nhằn, ưu tư in hằn lên cuộc đời mẹ. Hình ảnh này góp phần làm nổi bật chủ đề về sự gian khổ, hy sinh thầm lặng của những con người miền biển. Nó cho thấy cuộc sống nơi đây không chỉ có cá tôm mà còn đầy rẫy những bất trắc, bấp bênh, qua đó thể hiện sự gắn bó máu thịt và tình yêu quê hương da diết của tác giả.
Câu 4.
Qua hình ảnh Làng là mảnh lưới trăm năm, ta có thể hiểu về cuộc sống và truyền thống của làng chài là
Về cuộc sống: Ngôi làng và nghề chài lưới hòa quyện làm một, không thể tách rời. Cuộc sống của người dân gắn liền với biển cả, với nhịp điệu quăng lưới, thả câu từ bao đời nay.
Về truyền thống: Chữ trăm năm gợi lên bề dày lịch sử và sự tiếp nối bền bỉ giữa các thế hệ. Nghề biển không chỉ là sinh kế mà đã trở thành di sản, thành căn tính và linh hồn của làng quê, được cha ông truyền lại cho con cháu một cách tự nhiên như hơi thở.
Câu 5.
Hình ảnh những người ngư phủ trong bài thơ Quê biển là minh chứng rõ nét cho giá trị của sự lao động bền bỉ và nhẫn nại. Trong cuộc sống hôm nay, sự kiên trì giúp con người vượt qua những thử thách khắc nghiệt, giống như cách người dân làng chài trụ vững sau mỗi trận bão về. Lao động nhẫn nại không chỉ tạo ra của cải vật chất để duy trì sự sống mà còn bồi đắp nên bản lĩnh và những giá trị tinh thần cao quý. Khi chúng ta làm việc với sự tâm huyết và bền bỉ, mỗi thành quả đạt được sẽ trở nên bền vững và có ý nghĩa sâu sắc hơn. Chính sự nhẫn nại là sợi dây kết nối giữa khát vọng và hiện thực, giúp mỗi cá nhân khẳng định được vị thế của mình trong xã hội. Tóm lại, lao động bền bỉ chính là chìa khóa vàng để kiến tạo nên một cuộc đời rạng rỡ và góp phần vào sự phát triển chung của cộng đồng.
Câu 1. Viết đoạn văn
Trong bài thơ Những người đàn bà gánh nước sông, Nguyễn Quang Thiều đã xây dựng hình tượng người phụ nữ nông thôn với vẻ đẹp đầy ám ảnh và giàu đức hy sinh. Ngay từ những câu thơ đầu, họ hiện lên với ngoại hình khắc khổ qua những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái. Đây là kết quả của việc cả cuộc đời bám trụ vào đất đai, sông nước để mưu sinh. Hình ảnh họ gánh nước sông không chỉ là một công việc lao động thuần túy mà còn là biểu tượng cho sự tần tảo, gánh vác cả gia đình trên vai. Dù cuộc sống nhọc nhằn, "lưng áo mềm và ướt", họ vẫn hiện lên với vẻ đẹp lãng mạn, tâm hồn gắn kết với thiên nhiên qua chi tiết "bàn tay kia bám vào mây trắng". Đặc biệt, hình tượng này còn mang tính tiếp nối thế hệ, khi những bé gái rồi sẽ lại đặt đòn gánh lên vai, tiếp bước mẹ để duy trì sự sống. Qua đó, tác giả không chỉ thể hiện niềm xót xa trước kiếp người lam lũ mà còn bày tỏ sự trân trọng sâu sắc đối với những người phụ nữ là mạch nguồn nuôi dưỡng cuộc đời.
Câu 2. Viết bài văn nghị luận
Trong nhịp sống hiện đại hối hả, khi những tiêu chuẩn về sự thành công ngày càng được nâng cao, giới trẻ đang phải đối mặt với một vấn đề tâm lý nhức nhối mang tên burnout hay còn gọi là hội chứng kiệt sức. Đây không đơn thuần là sự mệt mỏi sau một ngày làm việc mà là một trạng thái kiệt quệ cả về thể chất, tinh thần và cảm giác mất đi mục đích sống.
Burnout thường bắt nguồn từ áp lực đồng trang lứa và sự kỳ vọng quá lớn của xã hội. Trong kỷ nguyên số, khi nhìn lên mạng xã hội, những người trẻ dễ rơi vào cái bẫy so sánh mình với hào quang của người khác. Họ lao vào làm việc, học tập quên ngày đêm với nỗi sợ bị bỏ lại phía sau (FOMO). Bên cạnh đó, văn hóa hối hả cổ xúy cho việc vắt kiệt sức lao động đã khiến ranh giới giữa công việc và đời sống cá nhân trở nên mờ nhạt. Khi một người trẻ phải gồng gánh quá nhiều trách nhiệm mà không có thời gian tái tạo năng lượng, họ sẽ rơi vào trạng thái trống rỗng, thờ ơ và mất đi khả năng sáng tạo.
Hệ lụy của hội chứng này rất nghiêm trọng. Về sức khỏe, nó dẫn đến các bệnh về tim mạch, mất ngủ triền miên. Về tâm lý, sự kiệt sức kéo dài dễ dẫn đến trầm cảm, lo âu và làm rạn nứt các mối quan hệ xã hội. Một thế hệ trẻ kiệt sức sẽ là một thế hệ thiếu sức sống, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cộng đồng.
Để vượt qua burnout, trước hết mỗi cá nhân cần học cách lắng nghe bản thân và chấp nhận những giới hạn của chính mình. Chúng ta cần hiểu rằng nghỉ ngơi không phải là lười biếng mà là bước đệm cần thiết để đi xa hơn. Việc thiết lập ranh giới rõ ràng cho công việc, ưu tiên chăm sóc sức khỏe tinh thần và tìm kiếm niềm vui từ những điều nhỏ bé là vô cùng quan trọng. Về phía gia đình và xã hội, thay vì tạo thêm áp lực bằng những điểm số hay thành tích, hãy tạo ra một môi trường cởi mở, nơi sự nỗ lực được ghi nhận và sự cân bằng được đề cao.
Tóm lại, burnout là một hồi chuông cảnh báo về lối sống mất cân bằng của thế hệ trẻ hôm nay. Hãy nhớ rằng cuộc đời là một đường chạy marathon dài chứ không phải là một đường đua nước rút. Thay vì thiêu rụi bản thân để tỏa sáng nhất thời, hãy học cách giữ cho ngọn lửa nhiệt huyết được cháy bền bỉ bằng sự thấu hiểu và yêu thương chính mình. Chỉ khi có một tâm hồn khỏe mạnh, người trẻ mới có đủ sức mạnh để kiến tạo tương lai.
Câu 1
Thể thơ của căn bản trên là Tự do.
Câu 2.
Các phương thức biểu đạt bao gồm: Biểu cảm kết hợp với miêu tả và tự sự.
Câu 3.
Tác dụng của việc lặp lại dòng thơ:
• Về nội dung: Nhấn mạnh dòng chảy của thời gian đằng đẵng và sự quan sát bền bỉ, ám ảnh của tác giả đối với cuộc sống lam lũ của người dân quê hương. Nó cho thấy những hình ảnh ấy không phải là khoảnh khắc nhất thời mà là một phần máu thịt trong ký ức của nhân vật tôi.
• Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu cho bài thơ, như một lời khẳng định về sự lặp đi lặp lại của những kiếp người, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các phần của văn bản.
Câu 4.
• Đề tài: Viết về người phụ nữ và cuộc sống lao động ở vùng nông thôn Việt Nam.
• Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự trân trọng, thấu hiểu và niềm xót xa trước cuộc đời lam lũ, nhọc nhằn nhưng đầy đức hy sinh của những người phụ nữ. Qua đó, tác giả bộc lộ tình yêu quê hương và sự trăn trở về sự tiếp nối của những kiếp người trong vòng xoáy nghèo khó của làng quê.
Câu 5.
Bài thơ gợi lên trong lòng người đọc sự xúc động sâu sắc về vẻ đẹp của những con người lao động bình dị. Hình ảnh những người đàn bà gánh nước với đôi chân xương xẩu là biểu tượng cho sự tần tảo, chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam qua nhiều thế hệ. Đồng thời, tác phẩm cũng nhắc nhở chúng ta về lòng biết ơn đối với những hy sinh thầm lặng của mẹ, của bà để nuôi dưỡng các thế hệ con cháu trưởng thành. Qua đó, mỗi người cần có ý thức trân trọng những giá trị truyền thống và có trách nhiệm hơn với gia đình, quê hương.
Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.
Thể thơ: Thất ngôn (thơ 7 chữ).
Câu 2. Nhận xét về nhịp thơ của bài thơ.
Nhận xét: Nhịp thơ đều đặn, chậm rãi xen lẫn sự ngắt quãng, góp phần tạo nên giọng điệu suy tư, trăn trở. Nó diễn tả bước đi âm thầm của nỗi buồn và sự hụt hẫng trong tâm trạng nhân vật trữ tình khi đối diện với nghịch lý của tình yêu.
Câu 3. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ.
Đề tài: Tình yêu đôi lứa.
Chủ đề: Bài thơ thể hiện quan niệm về sự hao tổn, mất mát của tâm hồn khi yêu. Đó là nỗi lòng của người tình si luôn khao khát sự đồng điệu nhưng lại rơi vào trạng thái cô đơn, trống trải vì không nhận lại được tình cảm tương xứng.
Câu 4. Phân tích ý nghĩa của một hình ảnh tượng trưng mà em thấy ấn tượng trong văn bản.
Lựa chọn hình ảnh: Sợi dây vấn vít.
Phân tích: Hình ảnh sợi dây vấn vít tượng trưng cho sự ràng buộc, kết nối vô hình nhưng chặt chẽ của tình yêu. Nó không chỉ là sự gắn kết về mặt tình cảm mà còn gợi lên trạng thái quẩn quanh, khó dứt ra được của người đang yêu. Dù tình yêu có mang lại nỗi đau hay sự chết đi của một phần tâm hồn, con người vẫn bị cuốn vào vòng xoáy ấy, không thể tự giải thoát cho chính mình.
Câu 5. Văn bản gợi cho em những cảm nhận và suy nghĩ gì?
Về cảm nhận: Bài thơ đem đến một cái nhìn chân thực và đầy tính triết lý về mặt trái của tình yêu. Tình yêu không chỉ có màu hồng mà còn đi kèm với những tổn thương, sự cho đi không tính toán và cả những phút giây đơn độc đến tận cùng.
Về suy nghĩ: Từ văn bản, em nhận thấy rằng khi bước vào một mối quan hệ, sự thấu hiểu và sẻ chia từ hai phía là vô cùng quan trọng. Chúng ta nên trân trọng tình cảm của đối phương để tình yêu không trở thành sa mạc cô liêu, đồng thời cần có bản lĩnh để giữ gìn bản sắc cá nhân, tránh để bản thân hoàn toàn bị bào mòn bởi những nỗi buồn không đáng có.
Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.
Thể thơ: Thất ngôn (thơ 7 chữ).
Câu 2. Nhận xét về nhịp thơ của bài thơ.
Nhận xét: Nhịp thơ đều đặn, chậm rãi xen lẫn sự ngắt quãng, góp phần tạo nên giọng điệu suy tư, trăn trở. Nó diễn tả bước đi âm thầm của nỗi buồn và sự hụt hẫng trong tâm trạng nhân vật trữ tình khi đối diện với nghịch lý của tình yêu.
Câu 3. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ.
Đề tài: Tình yêu đôi lứa.
Chủ đề: Bài thơ thể hiện quan niệm về sự hao tổn, mất mát của tâm hồn khi yêu. Đó là nỗi lòng của người tình si luôn khao khát sự đồng điệu nhưng lại rơi vào trạng thái cô đơn, trống trải vì không nhận lại được tình cảm tương xứng.
Câu 4. Phân tích ý nghĩa của một hình ảnh tượng trưng mà em thấy ấn tượng trong văn bản.
Lựa chọn hình ảnh: Sợi dây vấn vít.
Phân tích: Hình ảnh sợi dây vấn vít tượng trưng cho sự ràng buộc, kết nối vô hình nhưng chặt chẽ của tình yêu. Nó không chỉ là sự gắn kết về mặt tình cảm mà còn gợi lên trạng thái quẩn quanh, khó dứt ra được của người đang yêu. Dù tình yêu có mang lại nỗi đau hay sự chết đi của một phần tâm hồn, con người vẫn bị cuốn vào vòng xoáy ấy, không thể tự giải thoát cho chính mình.
Câu 5. Văn bản gợi cho em những cảm nhận và suy nghĩ gì?
Về cảm nhận: Bài thơ đem đến một cái nhìn chân thực và đầy tính triết lý về mặt trái của tình yêu. Tình yêu không chỉ có màu hồng mà còn đi kèm với những tổn thương, sự cho đi không tính toán và cả những phút giây đơn độc đến tận cùng.
Về suy nghĩ: Từ văn bản, em nhận thấy rằng khi bước vào một mối quan hệ, sự thấu hiểu và sẻ chia từ hai phía là vô cùng quan trọng. Chúng ta nên trân trọng tình cảm của đối phương để tình yêu không trở thành sa mạc cô liêu, đồng thời cần có bản lĩnh để giữ gìn bản sắc cá nhân, tránh để bản thân hoàn toàn bị bào mòn bởi những nỗi buồn không đáng có.
Câu 1:
Di tích lịch sử không chỉ là những công trình cũ kỹ mà còn là nhịp cầu nối liền quá khứ với hiện tại, là bằng chứng sống động về cội nguồn và bản sắc của một dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ như hiện nay, việc bảo tồn các di tích này trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Chúng là bài học thực tế về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần sáng tạo của cha ông. Tuy nhiên, nhiều di tích đang đứng trước nguy cơ bị xuống cấp nghiêm trọng do thời gian và sự tác động tiêu cực của con người như xâm lấn đất đai hay trùng tu sai cách. Để bảo tồn hiệu quả, trước hết mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức, không vẽ bậy hay phá hoại khi tham quan. Nhà nước cần có những chính sách đầu tư bài bản, kết hợp giữa bảo tồn nguyên trạng và phát triển du lịch bền vững. Khi chúng ta trân trọng quá khứ, chúng ta đang xây dựng một nền tảng vững chắc cho tương lai, giúp thế hệ mai sau vẫn có thể tự hào về dòng máu và lịch sử hào hùng của dân tộc mình.
Câu 2
Tác giả Nguyễn Trọng Tạo, một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ đầy chiêm nghiệm. Bài thơ "Đồng dao cho người lớn" sáng tác năm 1992 là một tác phẩm mang đậm tính triết lý, sử dụng hình thức đồng dao vốn quen thuộc với trẻ em để nói lên những trăn trở, suy tư của thế giới người lớn.
Bài thơ mở ra một thế giới đầy những nghịch lý và biến động qua điệp từ "có". Tác giả liệt kê những trạng thái đối lập: sự sống và cái chết (cánh rừng chết vẫn xanh), sự đầy đủ và thiếu thốn (có cha mẹ có trẻ mồ côi, có đất trời mà không nhà cửa). Những hình ảnh này phản chiếu sự phức tạp của đời sống thực tại, nơi niềm vui thường nhỏ bé còn nỗi buồn thì mênh mông. Tác giả nhấn mạnh vào sự vô thường của thời gian qua câu thơ cuối "có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi", nhắc nhở con người về sự ngắn ngủi của kiếp người trong dòng chảy vĩnh hằng của vũ trụ. Qua đó, bài thơ gửi gắm thông điệp về sự chấp nhận cả những điều chưa hoàn hảo, giữ lấy lòng trắc ẩn (thương, nhớ, khóc, cười) để tâm hồn không bị chai sạn trước những giông bão cuộc đời.
Tác giả sử dụng thể thơ tự do với nhịp điệu dàn trải, mô phỏng lối hát đồng dao, tạo nên sự gần gũi nhưng cũng đầy ám ảnh. Phép điệp từ "có" và cấu trúc đối lập được vận dụng nhuần nhuyễn để nhấn mạnh vào những mâu thuẫn tồn tại song hành trong cuộc sống. Hình ảnh thơ vừa thực (nhà cửa, tiệc cưới) vừa mang tính biểu tượng cao (cánh rừng chết, ông trăng tròn), tạo nên một không gian nghệ thuật đa chiều, giàu sức gợi cảm.
Bằng ngôn từ giản dị nhưng sâu sắc, "Đồng dao cho người lớn" không chỉ là lời tâm sự của tác giả về thời cuộc mà còn là bài học về cách nhìn nhận cuộc sống đa diện, giúp con người tìm thấy sự cân bằng và bồi đắp tâm hồn mình giữa những biến thiên của cuộc đời.
câu 1
Văn bản thuộc kiểu văn bản thông tin
câu 2
Đối tượng thông tin chính là Vạn lý trường thành
câu 3
Các dữ liệu trong văn bản chủ yếu là . Dữ liệu thứ cấp Tác giả đã tổng hợp, trích dẫn thông tin từ các nguồn khác nhau để viết bài.
ví dụ : Văn bản trích dẫn số liệu từ UNESCO ("gần một phần ba công trình này đã biến mất") hoặc từ Daily Mail ("tổng chiều dài của Vạn Lý Trường Thành... là 21.196,18 km"). Đây là những dữ liệu đã qua xử lý và công bố bởi các tổ chức/cơ quan truyền thông khác.
Câu 4
-Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh minh họa về Vạn Lý Trường Thành (đoạn tường thành chạy dài trên sườn núi).
tac dung : giúp người đọc dễ dàng hình dung về sự hùng vĩ, quy mô và cấu trúc thực tế của đối tượng được nhắc đến.
Làm cho văn bản trở nên sinh động, trực quan và hấp dẫn hơn, tránh cảm giác khô khan khi chỉ có chữ viết.
Tăng độ tin cậy và minh chứng cho những mô tả trong bài.
Câu 5
-Ngưỡng mộ trí tuệ và công sức phi thường của người xưa (sử dụng gạo nếp làm vữa, xây dựng suốt hàng ngàn năm với quy mô khổng lồ).
-Đây không chỉ là một bức tường mà còn là chứng nhân lịch sử, lưu giữ những dấu tích chiến tranh và văn hóa của nhiều triều đại.
-Cảm thấy tiếc nuối khi một phần ba công trình đã "biến mất" do thiên nhiên và con người, từ đó nhận thức rõ hơn về trách nhiệm bảo vệ các di sản văn hóa thế giới trước sự tàn phá của thời gian.
câu 1
Nhân vật lão Goriot trong đoạn trích hiện lên là hình ảnh một người cha có tình yêu thương con vô bờ bến nhưng mang số phận bi kịch. Trong những phút giây cuối cùng của cuộc đời, lão vẫn luôn nhắc đến hai cô con gái Anastasie và Delphine với niềm mong mỏi được gặp họ lần cuối. Dù trước đó lão từng đau đớn, oán trách vì bị con cái bỏ rơi, nhưng sâu thẳm trong lòng, lão vẫn yêu thương và sẵn sàng tha thứ cho các con. Điều đó cho thấy tình phụ tử thiêng liêng và vô điều kiện của người cha. Tuy nhiên, chính tình yêu mù quáng ấy lại khiến lão rơi vào bi kịch: hy sinh tất cả cho con nhưng cuối đời phải sống trong nghèo khổ, cô đơn và tuyệt vọng. Qua hình tượng lão Goriot, nhà văn đã khắc họa sâu sắc nỗi đau của người cha bị con cái phụ bạc, đồng thời phê phán xã hội thực dụng đã làm tha hóa tình cảm con người. Nhân vật lão Goriot vì thế trở thành biểu tượng cảm động của tình phụ tử trong văn học.
Câu 2
Trong cuộc sống, gia đình luôn là nơi bình yên nhất, là điểm tựa tinh thần quan trọng của mỗi con người. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại ngày nay, khoảng cách giữa cha mẹ và con cái dường như ngày càng lớn. Điều này trở thành một vấn đề đáng suy nghĩ đối với mỗi gia đình và toàn xã hội.
Sự xa cách giữa cha mẹ và con cái có thể hiểu là tình trạng thiếu sự thấu hiểu, chia sẻ và gắn bó giữa các thế hệ trong gia đình. Nhiều người trẻ ngày nay dành phần lớn thời gian cho học tập, công việc, bạn bè hoặc các thiết bị công nghệ mà ít quan tâm đến cha mẹ. Ngược lại, cha mẹ đôi khi quá bận rộn với công việc mưu sinh nên cũng không có nhiều thời gian trò chuyện, lắng nghe con cái. Chính vì vậy, khoảng cách về tâm lý và tình cảm giữa hai thế hệ ngày càng rõ rệt.
Trong thực tế, không khó để bắt gặp những biểu hiện của sự xa cách ấy. Có những người con hiếm khi trò chuyện với cha mẹ, thậm chí cảm thấy khó chia sẻ suy nghĩ của mình. Một số người trẻ chỉ chú trọng đến cuộc sống cá nhân mà quên mất công lao nuôi dưỡng của cha mẹ. Ngược lại, nhiều bậc cha mẹ lại áp đặt suy nghĩ của mình lên con cái, ít quan tâm đến cảm xúc và mong muốn của con. Những điều đó khiến mối quan hệ gia đình trở nên lạnh nhạt, thiếu sự gắn bó.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Trước hết là sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện đại khiến con người trở nên bận rộn hơn với học tập, công việc và các mối quan hệ xã hội. Bên cạnh đó, sự phát triển của công nghệ, mạng xã hội cũng khiến nhiều người trẻ dành nhiều thời gian cho thế giới ảo mà quên đi việc quan tâm đến gia đình. Ngoài ra, khoảng cách thế hệ trong suy nghĩ và lối sống cũng khiến cha mẹ và con cái khó thấu hiểu lẫn nhau.
Sự xa cách giữa cha mẹ và con cái có thể để lại nhiều hậu quả tiêu cực. Gia đình mất đi sự ấm áp và gắn kết vốn có. Con cái thiếu đi sự định hướng, chia sẻ từ cha mẹ, trong khi cha mẹ lại cảm thấy cô đơn, buồn tủi. Nếu tình trạng này kéo dài, nó có thể làm suy giảm những giá trị tốt đẹp của tình cảm gia đình – một trong những nền tảng quan trọng của xã hội.
Để khắc phục tình trạng này, mỗi người cần có ý thức vun đắp tình cảm gia đình. Con cái cần biết yêu thương, kính trọng và quan tâm đến cha mẹ, dành thời gian trò chuyện và chia sẻ nhiều hơn. Cha mẹ cũng cần lắng nghe, thấu hiểu và tôn trọng suy nghĩ của con cái, tạo ra một môi trường gia đình cởi mở và ấm áp. Khi cả hai phía cùng cố gắng, khoảng cách giữa các thế hệ sẽ dần được thu hẹp.
Tình cảm gia đình là điều vô cùng thiêng liêng và quý giá. Vì vậy, mỗi người cần trân trọng và giữ gìn mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái để gia đình luôn là nơi đầy yêu thương và hạnh phúc.
câu 1
Ngôi kể được sử dụng trong văn bản là ngôi kể thứ ba
Câu 2
Đề tài của văn bản: Tình phụ tử và bi kịch của người cha già bị con cái thờ ơ, bỏ rơi trong xã hội.
Câu 3
Lời nói của lão Goriot gợi lên nỗi đau đớn, tuyệt vọng và khát khao được gặp con trước khi chết. Qua đó thể hiện tình yêu thương sâu sắc, hết lòng của người cha dành cho con, dù bị con cái thờ ơ, phụ bạc. Đồng thời cũng khiến người đọc xót xa, thương cảm cho số phận bi kịch của lão Goriot
Câu 4
Lão Goriot vẫn khao khát gặp các con dù trước đó đã nguyền rủa vì:
Tình yêu của người cha dành cho con là vô điều kiện và sâu nặng.
Dù bị con cái phụ bạc, trong lòng ông vẫn mong được gặp con lần cuối trước khi chết.
-> Điều đó cho thấy tình phụ tử thiêng liêng và cảm động.
Câu 5.
Lúc cuối đời, lão Goriot rơi vào tình cảnh vô cùng đáng thương và bi kịch: bệnh nặng, nghèo khổ, cô đơn và không có con cái bên cạnh. Dù đã hy sinh tất cả cho con, ông vẫn bị chúng thờ ơ bỏ rơi. Điều đó thể hiện số phận đau đớn của người cha và sự phê phán xã hội lạnh lùng, thực dụng.