Phạm Ngọc Đăng
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 (0.5đ): Thể thơ của văn bản là: Thể thơ tự do. Câu 2 (0.5đ): Các phương thức biểu đạt chính được sử dụng: Biểu cảm (chủ đạo), kết hợp với Tự sự và Miêu tả. Câu 3 (1.0đ): Tác dụng của việc lặp lại dòng thơ "Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy": Về nội dung: Nhấn mạnh sự kéo dài dằng dặc của nỗi vất vả, nhọc nhằn. Nó cho thấy cái nghèo và sự lam lũ không phải là chuyện ngày một ngày hai mà là một sự cam chịu bền bỉ qua nhiều thế hệ. Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu chậm rãi, ám ảnh như bước chân gánh nước nặng nề; đồng thời thể hiện cái nhìn quan sát đầy xót xa, trăn trở của tác giả theo chiều dài thời gian. Câu 4 (1.0đ): * Đề tài: Người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động nghèo khó bên dòng sông. Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự trân trọng trước sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ, đồng thời bày tỏ nỗi đau xót trước vòng lặp của số phận nghèo khổ, quẩn quanh giữa các thế hệ ở một vùng quê. Câu 5 (1.0đ): Bài thơ gợi cho em suy nghĩ về: Sự biết ơn: Thấu hiểu hơn nỗi vất vả của những người mẹ, người bà đã dùng cả cuộc đời lam lũ để nuôi dạy con cái. Sự trăn trở về tương lai: Hình ảnh lũ trẻ "chạy theo mẹ và lớn lên" rồi lại tiếp tục nghiệp đòn gánh hay cần câu gợi ra sự bế tắc. Điều này nhắc nhở chúng ta về khát vọng thay đổi số phận, không để sự nghèo khó trở thành một "di sản" nối truyền. PHẦN II: LÀM VĂN (6.0 điểm) Câu 1: Phân tích hình tượng người phụ nữ (2.0 điểm) Trong bài thơ của Nguyễn Quang Thiều, hình tượng người phụ nữ hiện lên với vẻ đẹp của sự nhẫn nại nhưng đầy khắc khổ. Tác giả không tô vẽ mỹ lệ mà chọn những chi tiết trần trụi: "ngón chân xương xẩu", "móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái". Đó là hình ảnh của sự lao lực, của những con người cả đời bám mặt cho đất, bám chân vào bùn sông để mưu sinh. Hình ảnh "một bàn tay bám vào đầu đòn gánh... bàn tay kia bám vào mây trắng" mang tính biểu tượng rất cao: họ vừa gánh trên vai sức nặng nghìn cân của cơm áo gạo tiền, vừa phải vịn vào những hy vọng xa xăm để không ngã quỵ. Người phụ nữ trong bài thơ là biểu tượng của sự hy sinh vô điều kiện; dù dòng thời gian có trôi đi "mười lăm năm, ba mươi năm", họ vẫn lầm lũi nơi bến sông, làm điểm tựa cho đàn con lớn lên. Qua đó, nhà thơ bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc trước thân phận nhỏ bé, quẩn quanh của người phụ nữ trong xã hội cũ. Câu 2: Nghị luận về hội chứng “burnout” của giới trẻ (4.0 điểm) Bài làm: Nếu ví cuộc đời là một đường chạy marathon dài, thì giới trẻ hiện nay dường như đang cố gắng chạy với tốc độ của một vận động viên đua nước rút. Chính áp lực kinh khủng từ kỳ vọng xã hội và khát khao khẳng định mình đã dẫn đến hội chứng "burnout" – một tình trạng kiệt sức toàn diện đang bào mòn thế hệ trẻ. "Burnout" không đơn thuần là sự mệt mỏi sau một ngày làm việc; đó là trạng thái cạn kiệt năng lượng về cả thể xác lẫn tinh thần. Một người bị kiệt sức thường cảm thấy bất lực, trống rỗng và mất đi mọi động lực sáng tạo. Họ vẫn làm việc, vẫn tương tác, nhưng bên trong chỉ còn là một "chiếc pin" đã chai sạn và cạn sạch điện năng. Thực trạng này đang lan rộng một cách đáng lo ngại. Chúng ta dễ dàng bắt gặp những người trẻ tuổi đôi mươi nhưng ánh mắt thiếu sức sống, sáng đi làm trong sự cưỡng ép và tối về nằm dài trong sự vô định. Nguyên nhân chính đến từ áp lực thành công quá sớm. Trong thời đại mạng xã hội, khi ai cũng khoe ra những mặt lấp lánh nhất, người trẻ rơi vào cái bẫy "so sánh xã hội". Họ tự ép mình phải thành đạt, phải có thu nhập cao, phải hoàn hảo như những hình mẫu trên màn hình điện thoại. "Văn hóa hối hả" (hustle culture) đã vô tình biến việc nghỉ ngơi trở thành một tội lỗi trong mắt nhiều người. Hậu quả của burnout không chỉ dừng lại ở việc giảm năng suất lao động. Nó là mầm mống của những căn bệnh tâm lý nguy hiểm như trầm cảm, lo âu và sự rạn nứt trong các mối quan hệ. khi con người quá mệt mỏi, họ không còn đủ kiên nhẫn để yêu thương hay sẻ chia với người thân. Một thế hệ kiệt sức sẽ tạo nên một xã hội thiếu sức sống và khô cằn ý tưởng. Để giải quyết vấn đề này, điều quan trọng nhất là mỗi người trẻ cần học cách "định vị lại" bản thân. Chúng ta cần hiểu rằng sự bền bỉ quan trọng hơn tốc độ. Hãy cho phép mình được nghỉ ngơi, được ngắt kết nối với thế giới ảo để quay về chăm sóc thế giới nội tâm. Học cách nói "không" với những yêu cầu quá tải và trân trọng những bước tiến nhỏ thay vì chỉ nhìn vào mục tiêu xa vời. Tóm lại, thành công chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng ta còn đủ sức khỏe và tâm hồn để tận hưởng nó. Đừng để ngọn lửa đam mê biến thành ngọn lửa tự thiêu rụi chính mình. Hãy sống như một dòng sông: có lúc cuộn trào mạnh mẽ, nhưng cũng có lúc phẳng lặng để bồi đắp phù sa cho chính tâm hồn mình.
Câu 1 : Thể thơ của văn bản là: Thể thơ tự do. Câu 2 : Các phương thức biểu đạt chính được sử dụng: Biểu cảm (chủ đạo), kết hợp với Tự sự và Miêu tả. Câu 3 : Tác dụng của việc lặp lại dòng thơ "Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy": Về nội dung: Nhấn mạnh sự kéo dài dằng dặc của nỗi vất vả, nhọc nhằn. Nó cho thấy cái nghèo và sự lam lũ không phải là chuyện ngày một ngày hai mà là một sự cam chịu bền bỉ qua nhiều thế hệ. Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu chậm rãi, ám ảnh như bước chân gánh nước nặng nề; đồng thời thể hiện cái nhìn quan sát đầy xót xa, trăn trở của tác giả theo chiều dài thời gian. Câu 4 : * Đề tài: Người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động nghèo khó bên dòng sông. Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự trân trọng trước sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ, đồng thời bày tỏ nỗi đau xót trước vòng lặp của số phận nghèo khổ, quẩn quanh giữa các thế hệ ở một vùng quê. Câu 5 : Bài thơ gợi cho em suy nghĩ về: Sự biết ơn: Thấu hiểu hơn nỗi vất vả của những người mẹ, người bà đã dùng cả cuộc đời lam lũ để nuôi dạy con cái. Sự trăn trở về tương lai: Hình ảnh lũ trẻ "chạy theo mẹ và lớn lên" rồi lại tiếp tục nghiệp đòn gánh hay cần câu gợi ra sự bế tắc. Điều này nhắc nhở chúng ta về khát vọng thay đổi số phận, không để sự nghèo khó trở thành một "di sản" nối truyền. PHẦN II: LÀM VĂN (6.0 điểm) Câu 1: Phân tích hình tượng người phụ nữ (2.0 điểm) Trong bài thơ của Nguyễn Quang Thiều, hình tượng người phụ nữ hiện lên với vẻ đẹp của sự nhẫn nại nhưng đầy khắc khổ. Tác giả không tô vẽ mỹ lệ mà chọn những chi tiết trần trụi: "ngón chân xương xẩu", "móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái". Đó là hình ảnh của sự lao lực, của những con người cả đời bám mặt cho đất, bám chân vào bùn sông để mưu sinh. Hình ảnh "một bàn tay bám vào đầu đòn gánh... bàn tay kia bám vào mây trắng" mang tính biểu tượng rất cao: họ vừa gánh trên vai sức nặng nghìn cân của cơm áo gạo tiền, vừa phải vịn vào những hy vọng xa xăm để không ngã quỵ. Người phụ nữ trong bài thơ là biểu tượng của sự hy sinh vô điều kiện; dù dòng thời gian có trôi đi "mười lăm năm, ba mươi năm", họ vẫn lầm lũi nơi bến sông, làm điểm tựa cho đàn con lớn lên. Qua đó, nhà thơ bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc trước thân phận nhỏ bé, quẩn quanh của người phụ nữ trong xã hội cũ. Câu 2: Nghị luận về hội chứng “burnout” của giới trẻ (4.0 điểm) Bài làm: Nếu ví cuộc đời là một đường chạy marathon dài, thì giới trẻ hiện nay dường như đang cố gắng chạy với tốc độ của một vận động viên đua nước rút. Chính áp lực kinh khủng từ kỳ vọng xã hội và khát khao khẳng định mình đã dẫn đến hội chứng "burnout" – một tình trạng kiệt sức toàn diện đang bào mòn thế hệ trẻ. "Burnout" không đơn thuần là sự mệt mỏi sau một ngày làm việc; đó là trạng thái cạn kiệt năng lượng về cả thể xác lẫn tinh thần. Một người bị kiệt sức thường cảm thấy bất lực, trống rỗng và mất đi mọi động lực sáng tạo. Họ vẫn làm việc, vẫn tương tác, nhưng bên trong chỉ còn là một "chiếc pin" đã chai sạn và cạn sạch điện năng. Thực trạng này đang lan rộng một cách đáng lo ngại. Chúng ta dễ dàng bắt gặp những người trẻ tuổi đôi mươi nhưng ánh mắt thiếu sức sống, sáng đi làm trong sự cưỡng ép và tối về nằm dài trong sự vô định. Nguyên nhân chính đến từ áp lực thành công quá sớm. Trong thời đại mạng xã hội, khi ai cũng khoe ra những mặt lấp lánh nhất, người trẻ rơi vào cái bẫy "so sánh xã hội". Họ tự ép mình phải thành đạt, phải có thu nhập cao, phải hoàn hảo như những hình mẫu trên màn hình điện thoại. "Văn hóa hối hả" (hustle culture) đã vô tình biến việc nghỉ ngơi trở thành một tội lỗi trong mắt nhiều người. Hậu quả của burnout không chỉ dừng lại ở việc giảm năng suất lao động. Nó là mầm mống của những căn bệnh tâm lý nguy hiểm như trầm cảm, lo âu và sự rạn nứt trong các mối quan hệ. khi con người quá mệt mỏi, họ không còn đủ kiên nhẫn để yêu thương hay sẻ chia với người thân. Một thế hệ kiệt sức sẽ tạo nên một xã hội thiếu sức sống và khô cằn ý tưởng. Để giải quyết vấn đề này, điều quan trọng nhất là mỗi người trẻ cần học cách "định vị lại" bản thân. Chúng ta cần hiểu rằng sự bền bỉ quan trọng hơn tốc độ. Hãy cho phép mình được nghỉ ngơi, được ngắt kết nối với thế giới ảo để quay về chăm sóc thế giới nội tâm. Học cách nói "không" với những yêu cầu quá tải và trân trọng những bước tiến nhỏ thay vì chỉ nhìn vào mục tiêu xa vời. Tóm lại, thành công chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng ta còn đủ sức khỏe và tâm hồn để tận hưởng nó. Đừng để ngọn lửa đam mê biến thành ngọn lửa tự thiêu rụi chính mình. Hãy sống như một dòng sông: có lúc cuộn trào mạnh mẽ, nhưng cũng có lúc phẳng lặng để bồi đắp phù sa cho chính tâm hồn mình.
Câu 1. Bài thơ Yêu của Xuân Diệu được viết theo thể thơ tám chữ. Câu 2. Nhịp thơ trong bài khá đa dạng, chủ yếu ngắt theo nhịp 4/4, 3/5, tạo giọng điệu khi nhẹ nhàng, khi nghẹn ngào, da diết. Nhịp thơ chậm buồn giúp thể hiện nỗi lòng cô đơn, đau đớn của con người trong tình yêu. Câu 3. Đề tài: Tình yêu lứa đôi. Chủ đề: Bài thơ bộc lộ những suy ngẫm của tác giả về tình yêu: yêu là sự dâng hiến hết mình nhưng cũng có thể mang đến khổ đau, hụt hẫng và cô đơn. Qua đó thể hiện tâm hồn giàu cảm xúc và khát vọng yêu thương mãnh liệt của nhà thơ. Câu 4. Hình ảnh tượng trưng khiến em ấn tượng nhất là “trăng tàn, hoa tạ” trong câu thơ: “Tưởng trăng tàn, hoa tạ với hồn tiêu.” Đây là hình ảnh gợi sự phai tàn, tan vỡ và mất mát. “Trăng tàn” gợi ánh sáng lụi tắt, “hoa tạ” gợi vẻ đẹp úa phai, qua đó diễn tả nỗi đau của con người khi tình yêu không trọn vẹn. Hình ảnh ấy cho thấy trong cảm nhận của Xuân Diệu, tình yêu có sức ảnh hưởng rất lớn đến tâm hồn con người. Câu 5. Bài thơ giúp em cảm nhận được tình yêu là một tình cảm thiêng liêng và sâu sắc. Khi yêu, con người sống chân thành hơn, biết hi sinh và biết rung động trước cuộc đời. Nhưng tình yêu cũng có thể đem đến buồn đau nếu thiếu sự cảm thông và trân trọng. Vì thế, mỗi người cần yêu bằng sự chân thành, biết giữ gìn hạnh phúc và tôn trọng cảm xúc của nhau. Đồng thời, ta cũng hiểu rằng những thử thách trong tình yêu sẽ giúp con người trưởng thành hơn.
Câu 1. Bài thơ Yêu của Xuân Diệu được viết theo thể thơ tám chữ. Câu 2. Nhịp thơ trong bài khá đa dạng, chủ yếu ngắt theo nhịp 4/4, 3/5, tạo giọng điệu khi nhẹ nhàng, khi nghẹn ngào, da diết. Nhịp thơ chậm buồn giúp thể hiện nỗi lòng cô đơn, đau đớn của con người trong tình yêu. Câu 3. Đề tài: Tình yêu lứa đôi. Chủ đề: Bài thơ bộc lộ những suy ngẫm của tác giả về tình yêu: yêu là sự dâng hiến hết mình nhưng cũng có thể mang đến khổ đau, hụt hẫng và cô đơn. Qua đó thể hiện tâm hồn giàu cảm xúc và khát vọng yêu thương mãnh liệt của nhà thơ. Câu 4. Hình ảnh tượng trưng khiến em ấn tượng nhất là “trăng tàn, hoa tạ” trong câu thơ: “Tưởng trăng tàn, hoa tạ với hồn tiêu.” Đây là hình ảnh gợi sự phai tàn, tan vỡ và mất mát. “Trăng tàn” gợi ánh sáng lụi tắt, “hoa tạ” gợi vẻ đẹp úa phai, qua đó diễn tả nỗi đau của con người khi tình yêu không trọn vẹn. Hình ảnh ấy cho thấy trong cảm nhận của Xuân Diệu, tình yêu có sức ảnh hưởng rất lớn đến tâm hồn con người. Câu 5. Bài thơ giúp em cảm nhận được tình yêu là một tình cảm thiêng liêng và sâu sắc. Khi yêu, con người sống chân thành hơn, biết hi sinh và biết rung động trước cuộc đời. Nhưng tình yêu cũng có thể đem đến buồn đau nếu thiếu sự cảm thông và trân trọng. Vì thế, mỗi người cần yêu bằng sự chân thành, biết giữ gìn hạnh phúc và tôn trọng cảm xúc của nhau. Đồng thời, ta cũng hiểu rằng những thử thách trong tình yêu sẽ giúp con người trưởng thành hơn.
Câu 1 Di tích lịch sử là những “chứng nhân” thầm lặng của thời gian, lưu giữ ký ức và bản sắc của một dân tộc. Vì vậy, việc bảo tồn các di tích lịch sử hiện nay mang ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trong thực tế, nhiều di tích đang bị xuống cấp do tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người. Điều đó không chỉ làm mất đi giá trị văn hóa mà còn khiến thế hệ sau khó có cơ hội hiểu sâu sắc về lịch sử dân tộc. Bảo tồn di tích không đơn thuần là tu sửa hay giữ gìn hiện trạng, mà còn là cách để nuôi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc trong mỗi con người. Bên cạnh sự vào cuộc của Nhà nước, mỗi cá nhân cũng cần có ý thức bảo vệ, không xâm hại hay làm biến dạng di tích. Đặc biệt, thế hệ trẻ cần tích cực tìm hiểu, trân trọng và lan tỏa những giá trị lịch sử ấy. Chỉ khi di tích được gìn giữ đúng cách, chúng mới thực sự trở thành cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, góp phần làm giàu đẹp thêm bản sắc văn hóa dân tộc.
Câu 2 Bài thơ “Đồng dao cho người lớn” của Nguyễn Trọng Tạo là một tác phẩm độc đáo, mang đậm màu sắc triết lí về cuộc sống và con người. Với hình thức giống như một bài đồng dao giản dị nhưng nội dung lại chất chứa nhiều suy ngẫm sâu xa, bài thơ đã mở ra trước người đọc một thế giới đầy những nghịch lí và chiêm nghiệm. Trước hết, bài thơ gây ấn tượng bởi việc tái hiện những nghịch lí tồn tại trong đời sống. Tác giả liên tiếp sử dụng cấu trúc “có…” để đưa ra hàng loạt hình ảnh đối lập: “cánh rừng chết vẫn xanh”, “con người sống mà như qua đời”. Những câu thơ ấy gợi lên một thực tế đáng suy nghĩ: có những giá trị tưởng như đã mất nhưng vẫn tồn tại trong tâm hồn con người, trong khi có những con người tuy còn sống nhưng lại sống vô nghĩa, thiếu sức sống tinh thần. Không dừng lại ở đó, các nghịch lí như “câu trả lời biến thành câu hỏi”, “ngoại tình ngỡ là tiệc cưới” còn cho thấy sự đảo lộn về nhận thức và đạo đức trong xã hội. Con người nhiều khi không còn phân biệt rõ ràng giữa đúng và sai, thật và giả, khiến cuộc sống trở nên phức tạp, rối ren. Bài thơ còn phản ánh những nghịch cảnh và bất công trong đời sống xã hội. Hình ảnh “có cha có mẹ có trẻ mồ côi” hay “có cả đất trời mà không nhà cửa” đã gợi lên nỗi xót xa về những số phận thiếu thốn cả về tình cảm lẫn vật chất. Đó không chỉ là những câu thơ mang tính miêu tả mà còn là lời cảnh tỉnh về trách nhiệm của con người trước những bất hạnh xung quanh mình. Đồng thời, tác giả cũng khắc họa những trạng thái cảm xúc đối lập như “vui nho nhỏ” và “buồn mênh mông”, cho thấy đời sống nội tâm của con người luôn đa dạng, phức tạp và không thể giản lược.Tuy nhiên, giữa những nghịch lí ấy, bài thơ vẫn ánh lên một niềm tin vào sự sống. Điệp từ “mà” trong các câu thơ “mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ / mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió” như một sự khẳng định: dù cuộc sống có nhiều biến động, những giá trị tự nhiên và tinh thần vẫn bền bỉ tồn tại. Con người vẫn tiếp tục sống, yêu thương và khát vọng. Câu thơ cuối “có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi” mang đậm ý nghĩa triết lí về thời gian, gợi nhắc rằng đời người trôi qua rất nhanh, từ đó khiến ta biết trân trọng từng khoảnh khắc sống và sống có ý nghĩa hơn. Về nghệ thuật, bài thơ nổi bật với thể thơ tự do, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi. Việc lặp lại cấu trúc “có…” và “mà…” tạo nên nhịp điệu gần gũi như lời đồng dao, nhưng ẩn chứa bên trong lại là những suy tư sâu sắc dành cho người trưởng thành. Biện pháp đối lập và nghịch lí được sử dụng xuyên suốt, giúp làm nổi bật nội dung tư tưởng của bài thơ. Ngôn ngữ giản dị, cô đọng nhưng hàm súc, mỗi câu thơ như một phát hiện độc đáo về cuộc sống. Có thể thấy, “Đồng dao cho người lớn” không chỉ là một bài thơ giàu tính nghệ thuật mà còn là một lời nhắn nhủ sâu sắc về cách nhìn nhận cuộc đời. Tác phẩm giúp người đọc nhận ra những mặt trái, những nghịch lí trong xã hội, đồng thời khơi dậy niềm tin vào những giá trị bền vững của con người và cuộc sống.
Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin (thuyết minh).
Câu 2. Đối tượng thông tin của văn bản là Vạn Lý Trường Thành – công trình kiến trúc nổi tiếng và có giá trị lịch sử của Trung Quốc.
Câu 3. Các dữ liệu trong văn bản chủ yếu là dữ liệu thứ cấp, vì được tổng hợp từ nhiều nguồn nghiên cứu, tổ chức và báo chí. Ví dụ: Thông tin “gần một phần ba công trình đã biến mất” được dẫn từ UNESCO → đây là nguồn có sẵn, không phải do tác giả trực tiếp khảo sát.
Câu 4. Phương tiện phi ngôn ngữ: hình ảnh minh họa về Vạn Lý Trường Thành. Tác dụng: Làm rõ nội dung thông tin, giúp người đọc dễ hình dung. Tăng tính trực quan, sinh động cho văn bản. Thu hút sự chú ý và tạo hứng thú khi tiếp nhận thông tin. Câu 5. Văn bản giúp em nhận thức rõ hơn về giá trị to lớn của Vạn Lý Trường Thành – không chỉ là một công trình kiến trúc đồ sộ mà còn là minh chứng cho lịch sử, sức lao động và trí tuệ con người. Đồng thời, việc công trình đang dần bị mai một khiến em ý thức hơn về trách nhiệm bảo vệ các di sản văn hóa. Từ đó, mỗi người cần nâng cao ý thức gìn giữ, trân trọng và phát huy những giá trị lịch sử quý báu cho thế hệ sau.
a) Trình bày những bài học cơ bản của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 đến nay. -Những bài học cơ bản của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 đến nay - Thứ nhất, không ngừng phát huy tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân. - Thứ hai, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. - Thứ ba, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Thứ tư, phát triển sáng tạo nghệ thuật chiến tranh nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân. b) Là một học sinh, em cần làm gì để góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc hiện nay? - Những việc học sinh có thể làm để góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc: + Chủ động tìm hiểu các tư liệu lịch sử, pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế,… để có nhận thức đúng đắn về vấn đề: chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông. + Quan tâm đến đời sống chính trị - xã hội của địa phương, đất nước. + Thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, đặc biệt là các chủ trương, chính sách liên quan đến vấn đề chủ quyền biển, đảo; đồng thời vận động mọi người xung quanh cùng thực hiện đúng các quy định của pháp luật. + Phê phán, đấu tranh với những hành vi xâm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam; những hành vi đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc; + Tích cực tham gia, hưởng ứng các phong trào bảo vệ chủ quyền biển đảo, ví dụ như: “Vì Trường Sa thân yêu”, “Góp đá xây Trường Sa”, “Đồng hành cùng ngư dân trẻ ra khơi”,... Câu 2. Trình bày thành tựu cơ bản về kinh tế trong công cuộc Đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay. - Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. - Tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, xuất khẩu thô, lao động nhân công giá rẻ và mở rộng tín dụng, từng bước chuyển sang dựa vào ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. - Nông nghiệp: Việt Nam đã vươn lên thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. An ninh lương thực quốc gia được bảo đảm. - Công nghiệp: Tăng trưởng và chuyển biến tích cực về cơ cấu sản xuất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh, hình thành một số ngành công nghiệp có quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh và vị trí vững chắc trên thị trường quốc tế. - Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng mạnh, cơ cấu xuất, nhập khẩu chuyển dịch theo hướng tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, chế tạo, giảm xuất khẩu thô. - Quy mô nền kinh tế được mở rộng, GDP bình quân đầu người ở Việt Nam ngày càng tăng.