Trần Thị Như Quỳnh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Thị Như Quỳnh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. (Khoảng 200 chữ)

Ý thức bảo vệ chủ quyền đất nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ ngày nay. Chủ quyền quốc gia là thiêng liêng, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm. Vì vậy, mỗi người trẻ cần nâng cao hiểu biết về lịch sử, biển đảo và biên giới quê hương để thêm yêu và tự hào về Tổ quốc. Trong thời đại hội nhập, việc bảo vệ chủ quyền không chỉ thể hiện ở hành động cầm súng nơi biên cương mà còn ở tinh thần học tập, rèn luyện, sống có trách nhiệm và lan tỏa lòng yêu nước đúng đắn. Thanh niên cần biết chọn lọc thông tin trên mạng xã hội, không tiếp tay cho những luận điệu sai trái làm ảnh hưởng đến hình ảnh đất nước. Bên cạnh đó, thế hệ trẻ cũng cần góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh bằng tri thức, ý chí và khát vọng cống hiến. Khi đất nước phát triển vững mạnh thì chủ quyền quốc gia càng được bảo vệ vững chắc hơn. Ý thức bảo vệ chủ quyền chính là biểu hiện đẹp của lòng yêu nước trong thời đại hôm nay.


Câu 2. (Bài văn nghị luận khoảng 600 chữ)

Tình yêu quê hương, đất nước luôn là nguồn cảm hứng lớn của thơ ca Việt Nam. Nếu đoạn trích “Tổ quốc ở Trường Sa” của Nguyễn Việt Chiến thể hiện tình yêu biển đảo và ý thức bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của dân tộc thì bài thơ “Màu xanh Trường Sơn” lại ca ngợi vẻ đẹp của con người Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh gian khổ. Dù viết về những đề tài khác nhau, cả hai tác phẩm đều gặp nhau ở tình yêu sâu nặng dành cho Tổ quốc.

Trong đoạn trích “Tổ quốc ở Trường Sa”, Nguyễn Việt Chiến khắc họa hình ảnh biển đảo thiêng liêng gắn với sự hi sinh của những con người ngày đêm bám biển giữ nước. Những câu thơ như: “Máu ngư dân trên sóng lại chan hòa” hay “Máu của họ ngân bài ca giữ nước” đã gợi lên sự mất mát, hi sinh lớn lao của nhân dân trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Hình ảnh “Mẹ Tổ quốc” được ví “như máu ấm trong màu cờ nước Việt” càng làm nổi bật sự thiêng liêng của Tổ quốc trong trái tim mỗi con người Việt Nam. Qua đó, nhà thơ bộc lộ niềm tự hào dân tộc và khơi dậy trách nhiệm bảo vệ chủ quyền đất nước.

Trong khi đó, bài thơ “Màu xanh Trường Sơn” lại đưa người đọc trở về không gian Trường Sơn thời kháng chiến chống Mĩ. Bài thơ khắc họa màu xanh của núi rừng, của lí tưởng cách mạng và của con người Việt Nam kiên cường. Hình ảnh “Tóc nhiều sợi bạc / Cho màu thêm xanh” gợi lên sự hi sinh thầm lặng của Bác Hồ dành cho dân tộc. Những gian khổ của người lính Trường Sơn hiện lên chân thực qua các câu thơ: “Ba lô trĩu nặng”, “Con đường cheo leo”, “Đất nung bàn chân”. Tuy vậy, vượt lên tất cả vẫn là niềm tin và ý chí mạnh mẽ của con người Việt Nam. “Màu xanh” trong bài thơ không chỉ là màu của thiên nhiên mà còn tượng trưng cho sức sống, niềm tin và khát vọng chiến thắng.

Điểm giống nhau của hai tác phẩm là đều thể hiện tình yêu nước tha thiết và niềm tự hào dân tộc. Cả hai bài thơ đều ca ngợi những con người âm thầm hi sinh vì Tổ quốc: người dân giữ biển nơi Trường Sa và người lính vượt Trường Sơn trong kháng chiến. Đồng thời, cả hai tác giả đều sử dụng hình ảnh giàu cảm xúc, ngôn ngữ thơ giàu tính biểu tượng để khơi gợi tình yêu quê hương đất nước trong lòng người đọc.

Tuy nhiên, mỗi tác phẩm lại có nét riêng. “Tổ quốc ở Trường Sa” tập trung làm nổi bật ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo trong thời đại hôm nay với giọng thơ tha thiết, trang trọng. Còn “Màu xanh Trường Sơn” thiên về ca ngợi vẻ đẹp của con người Việt Nam trong chiến tranh với giọng thơ giàu chất trữ tình và lãng mạn. Một bên hướng về biển đảo quê hương, một bên gợi nhớ những năm tháng chiến đấu gian lao trên dãy Trường Sơn lịch sử.

Hai tác phẩm đã góp phần bồi đắp tình yêu nước và ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc cho thế hệ trẻ. Qua đó, người đọc càng thêm trân trọng những hi sinh của cha ông và có ý thức sống đẹp, sống có ích để xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước.


Câu 1.
Đoạn trích trên được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.
Một số từ ngữ tiêu biểu thể hiện hình ảnh biển đảo và đất nước:

  • “biển”, “sóng”, “Trường Sa”, “Hoàng Sa”
  • “Tổ quốc”, “cờ nước Việt”
  • “máu ngư dân”, “mẹ Tổ quốc”

Những từ ngữ ấy gợi lên hình ảnh thiêng liêng của biển đảo quê hương gắn với chủ quyền đất nước.

Câu 3.

Biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu:


“Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta
Như máu ấm trong màu cờ nước Việt”


So sánh “Mẹ Tổ quốc” với “máu ấm trong màu cờ nước Việt” nhằm khẳng định Tổ quốc luôn thiêng liêng, gần gũi và gắn bó máu thịt với mỗi con người Việt Nam. Qua đó thể hiện tình yêu nước sâu sắc và niềm tự hào dân tộc.

Câu 4.
Đoạn trích thể hiện:

  • Tình yêu tha thiết với biển đảo quê hương.
  • Niềm tự hào về Tổ quốc Việt Nam.
  • Sự biết ơn, trân trọng những người dân bám biển giữ nước.
  • Ý thức trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển đảo của dân tộc.


Câu 1: Trong kỷ nguyên số, việc giữ gìn bản sắc quê hương là "sợi dây" kết nối quan trọng giúp người trẻ định vị bản thân.Bản sắc là cội nguồn, là bệ đỡ tinh thần giúp người trẻ không bị hòa tan giữa dòng chảy toàn cầu hóa. Nó tạo nên cái "tôi" riêng biệt của mỗi quốc gia, dân tộc.Hiểu về truyền thống giúp thế hệ trẻ có ý thức trách nhiệm hơn trong việc xây dựng và cống hiến cho quê hương.Khi người trẻ trân trọng giá trị dân tộc (như áo dài, ẩm thực, tiếng Việt), họ chính là những sứ giả đưa văn hóa Việt Nam ra thế giới.Gìn giữ bản sắc không phải là cổ hủ, mà là cách để "hòa nhập nhưng không hòa tan

Câu 2:





Câu 1 :Thể thơ tự do. Dựa vào việc các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, không tuân theo quy tắc nghiêm ngặt về số chữ hay vần điệu của các thể thơ truyền thống.

Câu 2 : những cánh buồm quê", "khoang thuyền", "sóng biển", hoặc "mảnh lưới trăm năm".

câu 3 : Về nghĩa thực: Diễn tả sự khắc nghiệt của thời gian và sự lo âu, thao thức của người mẹ khi chờ đợi người thân trở về từ biển cả bao la đầy bất trắc.

Về cảm xúc: Thể hiện lòng biết ơn, sự thấu hiểu và xót xa của tác giả trước những hy sinh thầm lặng, sự chịu thương chịu khó của người mẹ miền biển.

Về chủ đề: Góp phần làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn con người làng chài: kiên cường, nhẫn nại và gắn bó máu thịt với biển khơi. Hình ảnh người mẹ là biểu tượng cho sự tiếp nối và gìn giữ nhịp sống của làng quê qua bao thế hệ.

Câu 4: Sự gắn kết bền chặt: "Mảnh lưới" là công cụ lao động đặc trưng, nhưng khi được ví với "Làng", nó tượng trưng cho sự gắn kết khăng khít giữa con người với con người và giữa con người với nghề nghiệp.

Bề dày lịch sử: Cụm từ "trăm năm" khẳng định truyền thống lâu đời, bền vững của làng chài. Nghề biển không chỉ là sinh kế mà còn là di sản, là văn hóa được trao truyền qua nhiều đời.

Cuộc sống lao động: Cho thấy một cuộc sống đầy trải nghiệm, bao bọc và đan xen giữa niềm vui (đầy cá tôm) và những thử thách nơi đầu sóng ngọn gió.

câu 5 : Hình ảnh những con người làng biển với sự kiên cường trước sóng gió đã để lại bài học sâu sắc về giá trị của sự lao động bền bỉ. Trong cuộc sống hiện đại, sự nhẫn nại không chỉ giúp chúng ta vượt qua những khó khăn nhất thời mà còn là nền tảng để xây dựng những giá trị vững bền. Lao động bền bỉ rèn luyện cho con người bản lĩnh, sự trưởng thành và lòng tự trọng khi tạo ra thành quả bằng chính sức lực của mình. Giống như người ngư dân đợi biển, thành công không đến từ sự vội vàng mà từ quá trình tích lũy và kiên trì theo đuổi mục tiêu. Khi biết trân trọng giá trị của sự nỗ lực, con người sẽ tìm thấy ý nghĩa đích thực của cuộc sống và đóng góp tích cực cho xã hội. Cuối cùng, chính sự bền bỉ là "mảnh lưới" giúp chúng ta thu hoạch được những hạnh phúc ngọt ngào nhất giữa đại dương cuộc đời.



Câu 1 : Hình tượng người phụ nữ trong đoạn thơ phần Đọc hiểu hiện lên với vẻ đẹp vừa dịu dàng, vừa giàu đức hi sinh. Đó là người luôn âm thầm gánh vác những lo toan trong cuộc sống, chịu đựng khó khăn mà không một lời than vãn. Qua những hình ảnh giàu tính gợi tả, người phụ nữ hiện lên gần gũi, chân thực, gắn liền với công việc đời thường nhưng lại toát lên vẻ đẹp cao quý. Họ không chỉ đảm đang, tần tảo mà còn giàu tình yêu thương, luôn hướng về gia đình và những người thân yêu. Đặc biệt, dù phải đối mặt với nhiều thử thách, họ vẫn giữ được sự kiên cường, bền bỉ và lòng lạc quan. Hình tượng ấy góp phần ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam: chịu thương, chịu khó, giàu đức hi sinh và luôn là điểm tựa tinh thần vững chắc cho gia đình. Qua đó, tác giả bày tỏ sự trân trọng, biết ơn sâu sắc đối với những người phụ nữ bình dị mà vĩ đại trong cuộc sống.

Câu 2 : Trong xã hội hiện đại, “burnout” (kiệt sức) đang trở thành một hiện tượng phổ biến, đặc biệt ở giới trẻ. Đây là trạng thái mệt mỏi kéo dài về cả thể chất lẫn tinh thần, thường xuất phát từ áp lực học tập, công việc và kỳ vọng xã hội. Burnout không chỉ ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc mà còn tác động tiêu cực đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người trẻ.


Nguyên nhân dẫn đến burnout trước hết là do áp lực thành công ngày càng lớn. Nhiều bạn trẻ luôn cảm thấy phải giỏi hơn, nhanh hơn để không bị tụt lại phía sau. Mạng xã hội cũng góp phần làm gia tăng áp lực khi mọi người dễ dàng so sánh bản thân với những hình ảnh “hoàn hảo” của người khác. Bên cạnh đó, việc thiếu kỹ năng quản lý thời gian, không biết cân bằng giữa học tập, làm việc và nghỉ ngơi cũng khiến tình trạng kiệt sức trở nên nghiêm trọng hơn. Một số bạn còn có xu hướng làm việc quá sức, bỏ qua nhu cầu nghỉ ngơi của bản thân.


Biểu hiện của burnout khá rõ rệt: cảm giác mệt mỏi kéo dài, mất động lực, dễ cáu gắt, chán nản và thậm chí mất hứng thú với những điều từng yêu thích. Nếu không được nhận diện và khắc phục kịp thời, burnout có thể dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng như suy giảm sức khỏe, trầm cảm hoặc mất phương hướng trong cuộc sống.


Để hạn chế burnout, trước hết mỗi người trẻ cần học cách lắng nghe bản thân. Việc nghỉ ngơi hợp lý không phải là lãng phí thời gian mà là cách để tái tạo năng lượng. Bên cạnh đó, cần đặt ra mục tiêu phù hợp với khả năng, tránh ôm đồm quá nhiều việc cùng lúc. Rèn luyện thói quen sinh hoạt lành mạnh như ngủ đủ giấc, tập thể dục, duy trì các mối quan hệ tích cực cũng là những cách hiệu quả để giảm căng thẳng. Ngoài ra, gia đình và nhà trường cần tạo môi trường hỗ trợ, giảm bớt áp lực thành tích để người trẻ có thể phát triển một cách toàn diện.


Burnout không phải là dấu hiệu của sự yếu kém mà là lời cảnh báo rằng chúng ta đang vượt quá giới hạn của mình. Khi biết dừng lại đúng lúc và điều chỉnh nhịp sống, mỗi người trẻ sẽ tìm lại được sự cân bằng và động lực để tiếp tục hành trình phía trước.


Câu 1 : thể thơ : tự do

Câu 2 : Các phương thức biểu đạt chính bao gồm:

Biểu cảm: Bộc lộ cảm xúc, suy tư của tác giả trước cảnh vật và con người.

Miêu tả: Khắc họa hình ảnh dòng sông, những người đàn ông câu cá, người đàn bà gánh nước, lũ trẻ...

Tự sự: Kể về sự tiếp nối của các thế hệ bên dòng sông qua thời gian.

Câu 3 : -Tạo sự nhịp nhàng, nhấn mạnh tính nhạc và sự kết nối giữa các khổ thơ.

-Nhấn mạnh dòng chảy đằng đẵng của thời gian và sự quan sát bền bỉ, ám ảnh của nhân vật trữ tình. Nó khẳng định những hình ảnh về quê hương, về kiếp người đã in sâu vào tâm trí nhà thơ suốt nửa cuộc đời, không hề thay đổi.

Câu 4 : Bài thơ thể hiện tình yêu quê hương tha thiết, nỗi suy tư về sự tiếp nối giữa các thế hệ và sự ám ảnh trước những thân phận con người nhỏ bé, nhẫn nại trong cuộc mưu sinh đầy nhọc nhằn nhưng cũng rất đỗi thiêng liêng.

Câu 5 : Cảm xúc về sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên (dòng sông quê hương).Sự trân trọng những giá trị truyền thống và sự tiếp nối của các thế hệ: "Con gái lại đặt đòn gánh lên vai...", "Con trai lại vác cần câu...".Nỗi xúc động trước sự vất vả, lam lũ của cha ông và niềm tự hào về sức sống bền bỉ của vùng đất quê hương.Ý thức về trách nhiệm của bản thân trong việc giữ gìn và tiếp nối những giá trị tốt đẹp của gia đình, quê cha đất tổ.

Câu 1 : Bài thơ “Khán ‘Thiên gia thi’ hữu cảm” thể hiện rõ quan niệm đổi mới thơ ca của tác giả trong bối cảnh thơ ca hiện đại. Được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật – một hình thức truyền thống – nhưng nội dung bài thơ lại mang tinh thần cách tân mạnh mẽ. Qua những hình ảnh mang tính ẩn dụ như “thi trung”, “thi gia”, tác giả khẳng định rằng thơ ca hiện đại không thể tách rời đời sống mà cần phản ánh hiện thực sôi động của thời đại. Đặc biệt, hai câu thơ: “Hiện đại thi trung ứng hữu thiết, / Thi gia dã yếu hội xung phong” nhấn mạnh vai trò dấn thân của người làm thơ. Nhà thơ không chỉ sáng tác để thưởng thức mà còn phải nhập cuộc, hòa mình vào dòng chảy của xã hội. Bài thơ vừa thể hiện thái độ phê phán sự bảo thủ, lạc hậu của thơ cũ, vừa bộc lộ khát vọng đổi mới nghệ thuật. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp sâu sắc về trách nhiệm xã hội và tinh thần tiên phong của người nghệ sĩ trong thời đại mới.

Câu 2 : Văn hóa truyền thống là kết tinh của lịch sử, tâm hồn và bản sắc dân tộc, được hình thành và bồi đắp qua nhiều thế hệ. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống không chỉ là trách nhiệm chung của xã hội mà còn là nghĩa vụ quan trọng của giới trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước.


Trước hết, văn hóa truyền thống chính là cội nguồn làm nên bản sắc dân tộc. Đó là tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán, lễ hội, trang phục, nghệ thuật dân gian và những giá trị đạo đức tốt đẹp như lòng yêu nước, tinh thần hiếu nghĩa, truyền thống đoàn kết. Nếu giới trẻ thờ ơ, quay lưng với văn hóa dân tộc thì bản sắc ấy sẽ dần mai một, đất nước dễ bị hòa tan trong dòng chảy văn hóa ngoại lai. Vì vậy, ý thức giữ gìn văn hóa truyền thống chính là giữ gìn căn cước của chính mình.


Tuy nhiên, thực tế cho thấy một bộ phận giới trẻ hiện nay chưa thực sự quan tâm đúng mức đến văn hóa truyền thống. Nhiều bạn chạy theo xu hướng hiện đại, sùng ngoại, xem nhẹ các giá trị văn hóa dân tộc; thậm chí có thái độ thờ ơ với lịch sử, phong tục, lễ nghi truyền thống. Điều này đặt ra yêu cầu cấp ».


Để giữ gìn và bảo tồn văn hóa truyền thống, trước hết giới trẻ cần có nhận thức đúng đắn về giá trị của văn hóa dân tộc. Việc tìm hiểu lịch sử, học tập các loại hình nghệ thuật truyền thống, trân trọng tiếng Việt, giữ gìn phong tục tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng là những hành động thiết thực. Bên cạnh đó, giới trẻ cần biết chọn lọc khi tiếp nhận văn hóa ngoại lai, không mù quáng chạy theo những trào lưu lệch chuẩn.


Quan trọng hơn, văn hóa truyền thống không chỉ được “giữ” mà còn cần được “phát huy”. Trong thời đại công nghệ số, giới trẻ có nhiều điều kiện để sáng tạo, lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc thông qua mạng xã hội, âm nhạc, phim ảnh, thời trang… Việc kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại sẽ giúp văn hóa dân tộc trở nên gần gũi, sống động và phù hợp với đời sống hôm nay.


Tóm lại, giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống là trách nhiệm thiêng liêng của giới trẻ. Khi biết trân trọng quá khứ, sống có bản sắc và sáng tạo trong hiện tại, giới trẻ sẽ góp phần xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.


Câu 1 : Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2 : Bài thơ viết theo luật bằng của thơ Đường.

Câu 3 :  Biện pháp tu từ ẩn dụ – đối lập được sử dụng nổi bật trong bài thơ.

Hình ảnh “thi gia”, “thi trung”, “hội xung phong” mang tính ẩn dụ, cho thấy sự vận động mạnh mẽ, sôi nổi của thơ ca hiện đại, đồng thời đặt trong thế đối lập với thơ cũ đã yếu thế, lạc hậu. Biện pháp này giúp tác giả thể hiện rõ thái độ trân trọng cái mới và phê phán sự bảo thủ của thơ ca cũ.

Câu 4 :  Tác giả cho rằng thơ ca hiện đại cần có tinh thần đổi mới mạnh mẽ, dấn thân vào đời sống xã hội, phản ánh hiện thực sôi động của thời đại. Người làm thơ không thể đứng ngoài cuộc mà phải xông pha, nhập cuộc, bắt kịp nhịp sống mới. Quan niệm này thể hiện ý thức cách tân thơ ca và tinh thần tiến bộ của tác giả.

Câu 5 : Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, theo bố cục quen thuộc của thơ Đường luật (đề – thực – luận – kết), nhưng nội dung lại mang tinh thần hiện đại. Tác giả kết hợp hình thức truyền thống với tư tưởng đổi mới, tạo nên nét độc đáo và giá trị riêng cho tác phẩm.