Vũ Thị Thanh Hoa
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Bài thơ Yêu được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2:
Nhịp thơ linh hoạt, tự do, biến đổi theo cảm xúc.
Nhiều câu thơ có nhịp 2/3, 3/3 hoặc ngắt nhịp tự nhiên, tạo giọng điệu tâm tình, tha thiết.
Nhịp thơ khi thì chậm, trầm lắng, khi lại dồn dập, mãnh liệt, thể hiện những cung bậc cảm xúc phức tạp trong tình yêu.
Câu 3:
Đề tài của bài thơ là tình yêu đôi lứa.
Chủ đề:
Bài thơ thể hiện những suy tư, cảm xúc sâu sắc của tác giả về tình yêu. Qua đó, nhà thơ cho thấy tình yêu vừa đẹp đẽ, say mê nhưng cũng chứa đựng nhiều đau khổ, hi sinh và mất mát. Con người khi yêu luôn cho đi nhiều hơn nhận, dễ rơi vào cô đơn, lo âu và tổn thương. Đồng thời, bài thơ cũng khẳng định khát vọng yêu thương mãnh liệt và quan niệm về tình yêu chân thành, hết mình của nhà thơ.
Câu 4:
Một hình ảnh tượng trưng gây ấn tượng trong bài thơ là hình ảnh “sa mạc cô liêu”.
Hình ảnh này tượng trưng cho cảm giác cô đơn, trống trải và lạc lõng của con người trong tình yêu. Khi yêu, con người luôn khao khát được thấu hiểu, được đáp lại, nhưng không phải lúc nào cũng nhận được tình cảm tương xứng. Vì thế, họ có thể rơi vào trạng thái buồn bã, cô độc, giống như đang đi giữa một sa mạc rộng lớn, hoang vắng, không có điểm tựa. Qua đó, nhà thơ nhấn mạnh nỗi đau, sự hi sinh và những tổn thương mà tình yêu mang lại. Đồng thời, hình ảnh này cũng cho thấy tình yêu là hành trình đầy thử thách, đòi hỏi con người phải mạnh mẽ, chân thành và biết trân trọng những giá trị cảm xúc sâu sắc.
Câu 5:
Qua bài thơ Yêu của Xuân Diệu, em nhận ra rằng tình yêu là một tình cảm đẹp đẽ nhưng cũng đầy thử thách. Khi yêu, con người không chỉ được hạnh phúc mà còn phải chấp nhận hi sinh, đau khổ và đôi khi là cô đơn. Vì vậy, mỗi người cần biết trân trọng tình cảm của mình và của người khác, sống chân thành, thủy chung, không ích kỉ hay vô tâm. Đồng thời, chúng ta cũng cần có sự tỉnh táo, biết yêu đúng cách để không làm tổn thương bản thân và những người xung quanh. Đối với người trẻ, tình yêu không chỉ là cảm xúc mà còn phải gắn với trách nhiệm, giúp nhau cùng tiến bộ và hoàn thiện bản thân. Điều quan trọng nhất là phải biết cân bằng giữa tình cảm và học tập, tương lai, để tình yêu trở thành động lực tốt đẹp trong cuộc sống.
câu 1.
bài thơ trên được viết theo thể thơ tám chữ.
câu 2.
nhịp thơ trong bài khá linh hoạt, chủ yếu ngắt theo nhịp 3/5 hoặc 4/4, tạo cảm giác dồn nén, day dứt. điệp khúc “yêu, là chết ở trong lòng một ít” được lặp lại nhiều lần, tạo âm hưởng ám ảnh, xoáy sâu vào cảm xúc đau đớn của nhân vật trữ tình.
câu 3.
- đề tài: tình yêu.
- chủ đề: bài thơ thể hiện quan niệm về tình yêu của xuân diệu – yêu là sự hi sinh, là nỗi đau, là cảm giác mất mát và cô đơn khi tình cảm không được đáp lại trọn vẹn. qua đó cho thấy tâm hồn nhạy cảm, mãnh liệt và đầy khát khao yêu thương của nhà thơ.
câu 4.
hình ảnh “cảnh đời là sa mạc cô liêu” là một hình ảnh tượng trưng gây ấn tượng mạnh. “sa mạc” gợi sự khô cằn, rộng lớn nhưng trống trải, thiếu sức sống. kết hợp với “cô liêu” càng nhấn mạnh cảm giác lạc lõng, bơ vơ của con người khi yêu mà không được đáp lại. hình ảnh này cho thấy tình yêu có thể khiến con người rơi vào trạng thái cô đơn tột cùng, giữa cuộc đời mênh mông nhưng không tìm được sự đồng điệu.
câu 5.
bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ về tình yêu. yêu không chỉ là hạnh phúc mà còn có thể mang đến đau khổ và tổn thương. tuy vậy, con người vẫn luôn khao khát được yêu và được sống hết mình với cảm xúc. điều đó cho thấy tình yêu là một phần không thể thiếu trong cuộc sống, giúp con người trưởng thành hơn, dù đôi khi phải đánh đổi bằng những “cái chết ở trong lòng”.
Câu 1:Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin (cụ thể là bản tin hoặc bài báo phổ biến kiến thức khoa học/lịch sử).
Câu 2:Đối tượng thông tin là hợp chất amylopectin có trong gạo nếp và vai trò của nó trong việc giúp tường thành vững chắc, bền bỉ hơn.
Câu 3:
dữ liệu mà tác giả đưa ra trong văn bản là dữ liệu thứ cấp
Chứng minh: Tác giả không trực tiếp làm thí nghiệm hay là người đầu tiên phát hiện ra điều này mà là người tổng hợp lại từ các nguồn khác. Ví dụ: Dòng ghi chú cuối bài: (Theo Đỗ An (tổng hợp), vietnamnet.vn, 5-3-2022)
Câu 4:
Phương tiện phi ngôn ngữ: Các số liệu (5-3-2022), các dấu ngoặc đơn giải thích "(hợp chất tạo sự kết dính)", dấu ngoặc vuông biểu thị lược trích [...]. (Nếu văn bản gốc có hình ảnh minh họa tường thành hoặc cấu trúc hóa học thì đó cũng là phương tiện phi ngôn ngữ).
Tác dụng: Giúp thông tin trở nên khách quan, chính xác, dễ hiểu và tăng độ tin cậy cho người đọc. Nó giúp cụ thể hóa các khái niệm khoa học phức tạp thành kiến thức phổ thông.
Câu 5:
Văn bản gợi cho em sự khâm phục về trí tuệ của người xưa. Việc sử dụng những nguyên liệu tự nhiên, gần gũi như gạo nếp để tạo ra những công trình bền vững hàng trăm năm cho thấy sự sáng tạo và am hiểu về đặc tính vật liệu rất sâu sắc. Nó cũng cho thấy giá trị to lớn của những sản vật nông nghiệp truyền thống không chỉ trong ẩm thực mà còn trong kỹ thuật.
Câu 1:
Mỗi dân tộc trên thế giới đều có một dòng chảy lịch sử riêng, được kết tinh qua những công trình, di tích còn lưu dấu theo thời gian. Những mái đình rêu phong, những thành quách cổ kính hay những địa danh từng in dấu chiến công không chỉ là vật thể vô tri mà còn là chứng nhân của bao thăng trầm dân tộc. Vì thế, việc bảo tồn các di tích lịch sử hiện nay là vấn đề mang ý nghĩa sâu sắc.Di tích lịch sử là nơi lưu giữ ký ức, truyền thống và bản sắc văn hóa của dân tộc. Tuy nhiên, nhiều di tích đang xuống cấp do tác động của thiên nhiên, thời gian và cả ý thức thiếu trách nhiệm của con người. Có nơi bị xâm hại, phá hoại, thậm chí bị lãng quên. Nếu không kịp thời bảo vệ, chúng ta sẽ đánh mất những giá trị vô giá của cha ông để lại. Bảo tồn di tích không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là nghĩa vụ của mỗi công dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Cần nâng cao ý thức giữ gìn, tham gia quảng bá và trân trọng di sản. Khi biết gìn giữ quá khứ, chúng ta mới có nền tảng vững chắc để hướng tới tương lai.
Câu 2:
Cuộc sống luôn tồn tại những nghịch lí: có khi con người sống giữa đủ đầy mà vẫn thấy trống rỗng, có lúc thời gian trôi rất nhanh nhưng lòng người lại đọng mãi những suy tư. Văn học, với khả năng chiêm nghiệm và phản ánh đời sống, thường khai thác những nghịch lí ấy để gửi gắm triết lí sâu xa về con người. Bài thơ “Đồng dao cho người lớn” của Nguyễn Trọng Tạo là một tác phẩm như vậy, giản dị về hình thức nhưng giàu suy tư về thời gian và thân phận.
Ngay từ nhan đề, bài thơ đã gợi sự độc đáo. “Đồng dao” vốn là lời ca hồn nhiên của trẻ nhỏ, nhưng ở đây lại dành “cho người lớn”. Điều đó gợi cảm giác về một tiếng nói tưởng như ngây thơ mà lại ẩn chứa nhiều triết lí sâu sắc. Toàn bài là chuỗi những câu thơ ngắn, liền mạch, mở đầu bằng điệp từ “có”: “có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi / có con người sống mà như qua đời…”. Những hình ảnh nghịch lí ấy tạo nên cảm giác mâu thuẫn giữa bề ngoài và bản chất. Có những điều đã mất đi trong thực tại nhưng vẫn sống mãi trong tâm tưởng; lại có những con người tồn tại về thể xác nhưng tinh thần đã khô héo. Qua đó, nhà thơ thể hiện nỗi trăn trở trước sự băng hoại giá trị, trước lối sống vô cảm của một bộ phận con người.
Bài thơ còn mở rộng suy tư về thân phận: “có cả đất trời mà không nhà cửa”, “có vui nho nhỏ có buồn mênh mông”. Giữa không gian rộng lớn của đất trời, con người vẫn có thể cảm thấy lạc lõng. Niềm vui thì nhỏ bé, còn nỗi buồn lại dường như bao trùm. Những đối lập ấy làm nổi bật sự mong manh của kiếp người. Tuy nhiên, giữa tất cả, sự sống vẫn tiếp diễn: “mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ / mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió”. Điệp cấu trúc “mà… vẫn…” khẳng định dòng chảy bền bỉ của cuộc đời. Dẫu buồn vui, mất mát hay đổi thay, thiên nhiên và cuộc sống vẫn vận động không ngừng. Câu thơ kết “có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi” gợi cảm thức về thời gian: đời người ngắn ngủi, khoảnh khắc trôi qua nhanh như cái chớp mắt.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do, không viết hoa đầu dòng, tạo cảm giác như một dòng suy tưởng liên tục. Điệp từ “có” được lặp lại nhiều lần tạo nhịp điệu dồn dập, vừa liệt kê vừa nhấn mạnh tính đa dạng, phức tạp của đời sống. Thủ pháp đối lập và nghịch lí được khai thác triệt để, làm nổi bật chiều sâu triết lí. Ngôn ngữ giản dị nhưng hàm súc, giàu tính gợi.
“Đồng dao cho người lớn” không chỉ là lời suy tư về những nghịch lí cuộc đời mà còn nhắc nhở con người sống tỉnh thức hơn trước thời gian và những giá trị tinh thần. Bài thơ để lại dư âm lắng đọng, khiến người đọc phải nhìn lại chính mình giữa dòng chảy bất tận của cuộc sống.
VT Vũ Thị Thanh HoaHãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
CN Cô Nguyễn Uyên Manager 11 tháng 3 2025 có câu trả lời biến thành câu hỏi
có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới
có cha có mẹ có trẻ mồ côi
có ông trăng tròn nào phải mâm xôi
có cả đất trời mà không nhà cửa
có vui nho nhỏ có buồn mênh mông
mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió
có thương có nhớ có khóc có cười
có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi.
NT NGUYỄN THỊ THÙY TRANG 22 tháng 2
trong dòng chảy phát triển không ngừng của xã hội hiện đại, việc bảo tồn những di tích lịch sử của dân tộc trở nên vô cùng quan trọng và cấp thiết. di tích lịch sử không chỉ là những công trình kiến trúc cổ kính mà còn là chứng nhân của thời gian, lưu giữ ký ức, truyền thống và bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia. đó có thể là những địa danh như văn miếu quốc tử giám hay cố đô huế – nơi ghi dấu bao thăng trầm của lịch sử dân tộc. tuy nhiên, hiện nay nhiều di tích đang bị xuống cấp do tác động của thời tiết, chiến tranh trước đây và đặc biệt là ý thức chưa cao của một bộ phận người dân. vì vậy, bảo tồn di tích không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là nghĩa vụ của mỗi công dân. mỗi người cần nâng cao ý thức giữ gìn, không xâm hại, không vẽ bậy, không phá hoại cảnh quan di tích. đồng thời, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục để thế hệ trẻ hiểu và trân trọng giá trị lịch sử. bảo tồn di tích chính là gìn giữ cội nguồn, để quá khứ tiếp tục soi sáng cho hiện tại và tương lai.
Câu 1
Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn các di tích lịch sử của dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Những công trình như Hoàng Thành Thăng Long, Cố Đô Huế hay Tràng An không chỉ là dấu ấn của quá khứ mà còn là niềm tự hào, bản sắc văn hóa của người Việt. Tuy nhiên, nhiều di tích đang bị xuống cấp do thời gian, thiên tai và đặc biệt là sự thiếu ý thức của con người. Vì vậy, mỗi người, nhất là thế hệ trẻ, cần nâng cao nhận thức về giá trị của di sản, không xâm hại, vẽ bậy, hay làm hư hỏng các công trình. Bên cạnh đó, chúng ta nên tích cực tìm hiểu lịch sử, tham gia các hoạt động tuyên truyền, bảo vệ và quảng bá di sản văn hóa. Nhà nước cũng cần có chính sách bảo tồn, tu bổ hợp lí, kết hợp phát triển du lịch bền vững. Khi mỗi người đều có trách nhiệm gìn giữ, những di tích lịch sử sẽ được bảo vệ lâu dài, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và giúp văn hóa dân tộc được lan tỏa trong thời đại hội nhập.
VT Vũ Thị Thanh HoaHãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
CN Cô Nguyễn Uyên Manager 11 tháng 3 2025 có câu trả lời biến thành câu hỏi
có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới
có cha có mẹ có trẻ mồ côi
có ông trăng tròn nào phải mâm xôi
có cả đất trời mà không nhà cửa
có vui nho nhỏ có buồn mênh mông
mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió
có thương có nhớ có khóc có cười
có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi.
NT NGUYỄN THỊ THÙY TRANG 22 tháng 2
trong dòng chảy phát triển không ngừng của xã hội hiện đại, việc bảo tồn những di tích lịch sử của dân tộc trở nên vô cùng quan trọng và cấp thiết. di tích lịch sử không chỉ là những công trình kiến trúc cổ kính mà còn là chứng nhân của thời gian, lưu giữ ký ức, truyền thống và bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia. đó có thể là những địa danh như văn miếu quốc tử giám hay cố đô huế – nơi ghi dấu bao thăng trầm của lịch sử dân tộc. tuy nhiên, hiện nay nhiều di tích đang bị xuống cấp do tác động của thời tiết, chiến tranh trước đây và đặc biệt là ý thức chưa cao của một bộ phận người dân. vì vậy, bảo tồn di tích không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là nghĩa vụ của mỗi công dân. mỗi người cần nâng cao ý thức giữ gìn, không xâm hại, không vẽ bậy, không phá hoại cảnh quan di tích. đồng thời, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục để thế hệ trẻ hiểu và trân trọng giá trị lịch sử. bảo tồn di tích chính là gìn giữ cội nguồn, để quá khứ tiếp tục soi sáng cho hiện tại và tương lai.
Câu 1
Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn các di tích lịch sử của dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Những công trình như Hoàng Thành Thăng Long, Cố Đô Huế hay Tràng An không chỉ là dấu ấn của quá khứ mà còn là niềm tự hào, bản sắc văn hóa của người Việt. Tuy nhiên, nhiều di tích đang bị xuống cấp do thời gian, thiên tai và đặc biệt là sự thiếu ý thức của con người. Vì vậy, mỗi người, nhất là thế hệ trẻ, cần nâng cao nhận thức về giá trị của di sản, không xâm hại, vẽ bậy, hay làm hư hỏng các công trình. Bên cạnh đó, chúng ta nên tích cực tìm hiểu lịch sử, tham gia các hoạt động tuyên truyền, bảo vệ và quảng bá di sản văn hóa. Nhà nước cũng cần có chính sách bảo tồn, tu bổ hợp lí, kết hợp phát triển du lịch bền vững. Khi mỗi người đều có trách nhiệm gìn giữ, những di tích lịch sử sẽ được bảo vệ lâu dài, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và giúp văn hóa dân tộc được lan tỏa trong thời đại hội nhập.
Câu 1
Bài làm
Nhân vật “tôi” trong đoạn trích là một cậu bé giàu trí tưởng tượng, nhạy cảm và có tâm hồn sáng tạo. Ngay từ nhỏ, “tôi” đã bị cuốn hút bởi bức tranh con trăn nuốt con mồi và tự vẽ nên bức tranh của riêng mình. Đối với cậu bé, đó là một kiệt tác thể hiện sự quan sát tinh tế và trí tưởng tượng phong phú. Tuy nhiên, người lớn lại không hiểu, họ cho rằng đó chỉ là một chiếc mũ. Điều này cho thấy sự khác biệt giữa thế giới trẻ thơ và thế giới người lớn. Trước sự thờ ơ và thiếu thấu hiểu ấy, “tôi” cảm thấy thất vọng và dần từ bỏ ước mơ trở thành họa sĩ. Dù vậy, sâu trong tâm hồn, “tôi” vẫn giữ được sự nhạy cảm và nhận ra sự hạn chế trong cách nhìn nhận của người lớn. Nhân vật “tôi” đại diện cho những đứa trẻ có tâm hồn sáng tạo nhưng không được người lớn thấu hiểu và khuyến khích. Qua đó, tác giả thể hiện sự trân trọng trí tưởng tượng của trẻ em và nhắc nhở người lớn cần biết lắng nghe, thấu hiểu thế giới của trẻ.
Câu 2
bài làm
Nhà thơ Giacomo Leopardi từng nói: “Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả.” Ý kiến này đã gợi lên sự khác biệt sâu sắc giữa cách nhìn nhận thế giới của trẻ em và người lớn. Từ góc nhìn của người trẻ, em hoàn toàn đồng ý với nhận định trên, bởi trẻ em có trí tưởng tượng phong phú và tâm hồn trong sáng, trong khi người lớn đôi khi bị giới hạn bởi thực tế và những lo toan cuộc sống.
Trẻ em có khả năng nhìn thấy vẻ đẹp và ý nghĩa trong những điều rất giản đơn. Một chiếc lá rơi, một đám mây trôi hay một bức tranh đơn giản cũng có thể trở thành cả một thế giới kỳ diệu trong mắt trẻ. Các em không bị ràng buộc bởi khuôn mẫu hay định kiến, nên luôn tò mò, khám phá và sáng tạo. Chính vì vậy, trẻ em “tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì”, bởi các em dùng trí tưởng tượng và cảm xúc để làm phong phú thế giới của mình.
Ngược lại, người lớn thường nhìn mọi thứ theo hướng thực tế và lý trí. Họ bận rộn với công việc, trách nhiệm và những áp lực cuộc sống, nên dần mất đi sự nhạy cảm và trí tưởng tượng. Khi nhìn một bức tranh, họ chỉ thấy hình dạng bên ngoài mà không cảm nhận được ý nghĩa sâu xa bên trong. Điều đó khiến họ “chẳng tìm được gì trong tất cả”, bởi họ đã đánh mất khả năng cảm nhận bằng tâm hồn. Đây là một thực tế đáng suy ngẫm, bởi khi con người chỉ sống theo lý trí mà quên đi cảm xúc, cuộc sống sẽ trở nên khô khan và thiếu màu sắc.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là người lớn hoàn toàn không thể tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống. Nếu biết giữ gìn tâm hồn trẻ thơ, biết lắng nghe và quan sát bằng cả trái tim, người lớn vẫn có thể cảm nhận được vẻ đẹp của thế giới. Đồng thời, người trẻ cũng cần học hỏi sự chín chắn và hiểu biết của người lớn để trưởng thành hơn. Sự kết hợp giữa trí tưởng tượng và lý trí sẽ giúp con người sống cân bằng và ý nghĩa hơn.
Là một người trẻ, em nhận ra rằng cần phải giữ gìn trí tưởng tượng, sự tò mò và niềm say mê khám phá. Đó là những điều giúp cuộc sống trở nên phong phú và ý nghĩa. Đồng thời, em cũng cần học tập và rèn luyện để trưởng thành, nhưng không đánh mất tâm hồn trong sáng của mình.
Tóm lại, ý kiến của Leopardi đã cho thấy sự khác biệt giữa trẻ em và người lớn trong cách nhìn nhận thế giới. Mỗi người cần biết giữ gìn trí tưởng tượng và sự nhạy cảm của tâm hồn, để luôn tìm thấy ý nghĩa và vẻ đẹp trong cuộc sống.
Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản trên
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”.
Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là gì?
Kiệt tác của cậu bé là bức tranh vẽ con trăn đang nuốt (và tiêu hóa) một con voi – hình vẽ số một và hình vẽ số hai (vẽ rõ phần bên trong bụng trăn).
Câu 3. Vì sao người lớn lại bảo cậu bé chú trọng học các môn văn hóa thay vì khuyến khích cậu bé vẽ nhiều?
Vì
- Người lớn nhìn bức tranh chỉ thấy đó là “một cái mũ”, không hiểu được trí tưởng tượng và ý nghĩa thực sự của bức vẽ.
- Họ đề cao những môn học thực dụng như địa lí, lịch sử, toán, ngữ pháp hơn là hội họa và sáng tạo.Điều này cho thấy người lớn thiếu sự đồng cảm với thế giới tâm hồn trẻ thơ và không trân trọng năng khiếu nghệ thuật của cậu bé.
Câu 4. Những người lớn trong văn bản được miêu tả như thế nào? Nhận xét về các nhân vật ấy.
Những người lớn được miêu tả là:
- Khô khan, thực dụng, thiếu trí tưởng tượng.
- Không hiểu được suy nghĩ và thế giới nội tâm của trẻ em.
- Chỉ quan tâm đến những vấn đề “người lớn” như bài bạc, chính trị, cà vật Nhận xét:
Họ đại diện cho một kiểu người trưởng thành đã đánh mất khả năng mơ mộng, sáng tạo và cảm nhận vẻ đẹp cuộc sống một cách hồn nhiên. Đây là lời phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu sắc của tác giả đối với tư duy máy móc của người lớn.
Câu 5. Qua văn bản, em rút ra những bài học gì cho bản thân?
Qua văn bản, em rút ra bài học:
Cần biết trân trọng trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo của bản thân và của người khác.
Không nên nhìn mọi việc chỉ bằng con mắt khô cứng, thực dụng.
Phải học cách lắng nghe, thấu hiểu suy nghĩ của trẻ em cũng như của những người xung quanh.
Giữ gìn tâm hồn trong sáng, hồn nhiên dù đã trưởng thành.
Câu 1 :
Lão Goriot là hình tượng người cha giàu tình yêu thương nhưng mang số phận bi kịch. Trước kia, lão từng là một người cha hết lòng vì con, sẵn sàng hi sinh tất cả tài sản, danh dự, thậm chí cả cuộc đời chỉ để hai cô con gái Anastasie và Delphine được sống trong nhung lụa. Tuy nhiên, chính tình yêu thương mù quáng ấy đã khiến lão rơi vào cảnh nghèo khổ, cô độc. Trong những ngày cuối đời, lão Goriot vẫn chỉ có một khát vọng duy nhất: được gặp lại các con, dù trước đó lão đã nguyền rủa chúng. Điều đó cho thấy tình yêu của lão sâu nặng, bản năng và tha thiết đến mức vượt lên cả nỗi hận thù. Cái chết của lão Goriot – chết trong cô đơn, không một đứa con ở bên – là lời tố cáo xã hội tư sản tàn nhẫn, nơi đồng tiền làm băng hoại đạo đức con người, làm rạn nứt sợi dây tình thân. Qua hình tượng lão Goriot, Balzac gửi gắm niềm xót thương cho những người cha, người mẹ yêu con đến quên mình nhưng lại bị phản bội bởi chính tình yêu ấy.
Câu 2 :
Trong nhịp sống hiện đại hôm nay, giữa những tòa nhà cao tầng, những chiếc điện thoại thông minh và mạng xã hội phủ kín đời sống, người ta lại chứng kiến một nghịch lý: cha mẹ và con cái ngày càng trở nên xa cách.
Nguyên nhân trước hết xuất phát từ nhịp sống gấp gáp, áp lực công việc và học tập khiến cha mẹ ít có thời gian dành cho con, còn con trẻ lại mải mê với thế giới ảo, dần thu hẹp giao tiếp thật. Bên cạnh đó, khoảng cách thế hệ về tư duy, lối sống cũng khiến hai bên khó thấu hiểu, dễ nảy sinh hiểu lầm và lạnh nhạt. Có những đứa trẻ coi bố mẹ chỉ như người chu cấp vật chất; có những bậc cha mẹ lại chỉ biết áp đặt, ít lắng nghe con. Khi tình cảm không được vun đắp, sợi dây gia đình mỏng manh dần và dễ đứt gãy.
Sự xa cách ấy để lại hậu quả nặng nề: con cái dễ sa vào cô đơn, khủng hoảng tâm lý; cha mẹ cảm thấy trống rỗng, hối hận muộn màng khi con đã trưởng thành. Đáng buồn hơn, trong nhiều gia đình, người ta vẫn sống chung nhà mà tâm hồn lại cách nhau hàng dặm.
Muốn khắc phục, cả cha mẹ và con cái cần học cách hiểu – lắng nghe – chia sẻ. Một bữa cơm trọn vẹn, một cuộc trò chuyện chân thành, hay chỉ một cái ôm thôi cũng có thể xóa đi khoảng cách. Cha mẹ hãy bớt bận rộn, con cái hãy bớt thờ ơ, cùng nhau tìm lại tiếng nói chung của tình thân.
Sự phát triển của xã hội không thể đánh đổi bằng sự lạnh lẽo trong gia đình. Bởi cuối cùng, dù đi đến đâu, điều con người cần nhất vẫn là một nơi để trở về – nơi có cha mẹ, có tình yêu thương ấm áp chờ đợi.
Câu 1
Ngôi kể được sử dụng trong văn bản:
→ Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mình, xưng “ông”, “lão”, “Eugène”, “Bianchon”...).
Câu 2.
Đề tài của văn bản:
→ Nỗi đau khổ, bi kịch của tình phụ tử và số phận bất hạnh của lão Goriot, người cha hết lòng yêu thương con nhưng bị chính các con ruột bỏ rơi trong cô đơn, tuyệt vọng.
Câu 3.
Cảm nhận, suy nghĩ về lời nói của lão Goriot:
→ Lời nói của lão Goriot khiến ta cảm nhận được:
- Tình yêu thương con vô bờ bến của một người cha dù đã bị con cái phụ bạc.
- Nỗi đau đớn, cô đơn, tuyệt vọng khi lão khao khát được gặp con mà không thể.
- Câu “Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống” là ẩn dụ sâu sắc cho sự thiếu thốn tình thương, cho một cuộc đời luôn cho đi mà không bao giờ được nhận lại.
→ Từ đó gợi suy nghĩ về bổn phận làm con, phải biết trân trọng, yêu thương và đền đáp cha mẹ khi họ còn sống.
- Câu 4Vì sao lão Goriot lại khao khát được gặp các con ngay sau khi nguyền rủa, mắng chửi chúng?
→ Bởi vì: - Lão yêu con một cách mù quáng và bản năng, tình cha quá lớn khiến lão không thể oán hận lâu.
- Sự nguyền rủa chỉ là tiếng kêu đau đớn của trái tim bị tổn thương, chứ tận sâu trong tâm can, lão vẫn khao khát được gặp, được tha thứ cho con, được yêu thương lại.
- Đó là bi kịch của tình phụ tử bị phản bội nhưng vẫn không thể dập tắt tình yêu của người cha.
Câu 5.
Nhận xét về tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot:
→ Lão Goriot chết trong cô độc, nghèo khổ và tuyệt vọng, không có các con ở bên, chỉ có sự thương cảm của người xa lạ (Eugène, Bianchon).
→ Cái chết của lão là bi kịch cùng cực của tình phụ tử – người cha đã hi sinh tất cả cho con nhưng chỉ nhận lại sự vô ơn và ruồng bỏ.
→ Qua đó, nhà văn H. Balzac lên án xã hội tư sản tàn nhẫn, đồng tiền làm tha hóa con người, đồng thời ngợi ca tình phụ tử thiêng liêng, cao cả.