Đinh Thị Thùy Linh
Giới thiệu về bản thân
cau 1: trong đoạn trích chén thuốc độc, diễn biến tâm lý của nhân vật thông thu đi từ sự hối hận muộn màng đến tuyệt vọng cùng cực. ở hồi hai, khi đối diện với đống nợ nần và gia tài tan hoang, ông thấy bàng hoàng và tự sỉ nhục bản thân là "con mọt" của xã hội, là kẻ làm nhuốc nhơ gia đình. tâm lý này cho thấy sự thức tỉnh về đạo đức nhưng đã quá muộn. sang hồi ba, nỗi sợ phải đi tù khổ sở và danh dự bị hủy hoại khiến ông rơi vào bế tắc. thông thu quyết định tìm đến cái chết để giải thoát nhưng tâm lý lại giằng xé dữ dội qua những lời độc thoại và hành động nâng cốc lên rồi đặt xuống. ông lo cho mẹ già, vợ yếu nhưng cuối cùng vẫn chọn tự tử vì thấy mình là kẻ vô dụng, không còn lối thoát. qua đó, tác giả đã khắc họa thành công hình ảnh một trí thức sa đọa bị bi kịch nợ nần và danh dự dồn vào đường cùng.
cau 2:
thói quen tiêu xài thiếu kiểm soát của một bộ phận giới trẻ hiện nay đang là một thực trạng đáng báo động, gợi nhiều suy nghĩ về lối sống hư hưởng. nhiều bạn trẻ ngày nay đang rơi vào cảnh "tiêu hoang ném tiền qua cửa sổ" giống như nhân vật thông thu trong vở kịch chén thuốc độc, dẫn đến những hậu quả khôn lường cho bản thân và gia đình.
nguyên nhân của lối sống này phần lớn đến từ tâm lý thích khoe mẽ, chạy theo trào lưu và chủ nghĩa hình thức. nhiều bạn trẻ sẵn sàng vay mượn, dùng thẻ tín dụng quá hạn mức chỉ để sở hữu những món đồ hiệu đắt tiền, những chiếc điện thoại đời mới nhất hay những chuyến đi chơi sang chảnh chỉ để "sống ảo" trên mạng xã hội. họ coi việc tiêu xài xa hoa là cách để khẳng định giá trị bản thân mà quên mất năng lực tài chính thực tế của mình hay sự vất vả của cha mẹ.
hậu quả của việc chi tiêu thiếu kiểm soát là rất lớn. nhẹ thì rơi vào cảnh nợ nần, "lãi mẹ đẻ lãi con", nặng thì dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật hoặc rơi vào bế tắc, tuyệt vọng như nhân vật thông thu khi gia tài khánh kiệt. không chỉ vậy, lối sống này còn bào mòn đi ý chí phấn đấu, khiến giới trẻ trở nên thụ động, chỉ biết hưởng thụ mà không biết tạo ra giá trị cho xã hội, trở thành gánh nặng cho gia đình.
để khắc phục tình trạng này, mỗi bạn trẻ cần tự thiết lập cho mình một tư duy tài chính lành mạnh. chúng ta cần học cách phân biệt giữa "thứ mình cần" và "thứ mình muốn", biết trân trọng giá trị của lao động. nhà trường và gia đình cũng cần giáo dục kỹ năng quản lý tài chính từ sớm để các bạn hiểu rằng giá trị con người không nằm ở những món đồ xa xỉ bên ngoài mà nằm ở kiến thức, đạo đức và những gì họ đóng góp cho cuộc sống.
tóm lại, tiêu xài thông minh là biểu hiện của một người trưởng thành và có trách nhiệm. đừng để những phù hoa nhất thời biến mình thành "con mọt" đục khoét tương lai, để rồi khi nhận ra thì mọi chuyện đã quá muộn màng như bi kịch của chén thuốc độc.
cau 1: the loại là kịch (bi kịch) nhé.
cau 2: hình thức ngôn ngữ chủ yếu là độc thoại nội tâm vì nhân vật toàn tự nói chuyện một mình để bộc lộ suy nghĩ thôi.
cau 3: mấy cái chỉ dẫn sân khấu là mấy chỗ trong ngoặc đơn như (bóp trán nghĩ ngợi), (thở dài), (cầm cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống)... vai trò là giúp người đọc hình dung được hành động của nhân vật trên sân khấu, đồng thời cho thấy sự do dự, bế tắc và sợ hãi của ông thông thu trước cái chết.
cau 4: diễn biến tâm lý là ở hồi hai thì ông này thấy hối hận, bàng hoàng khi nhận ra mình đã phá hết gia sản, tự trách mình là con mọt xã hội. sang hồi ba thì tâm lý chuyển sang tuyệt vọng hẳn vì sợ cảnh phải đi tù khổ sở nên quyết định tự tử, nhưng trong lòng vẫn cứ giằng xé giữa việc chết để giải thoát và việc lo lắng cho mẹ già, vợ con không ai nuôi.
cau 5: em không đồng tình với quyết định của ông thông thu. vì tự tử chỉ là cách trốn tránh trách nhiệm hèn nhát sau những lỗi lầm mình gây ra thôi. ông ấy chết đi thì nợ vẫn còn đó, mẹ già với vợ con lại càng khổ thêm vì mất đi chỗ dựa. thay vì chọn cái chết thì ông ấy nên sống để lao động trả nợ và sửa chữa sai lầm thì mới đúng đạo lý hơn.
câu 1:
bài thơ “những giọt lệ” của hàn mặc tử thể hiện nỗi buồn sâu sắc và tâm trạng đau đớn của thi nhân trước tình yêu và cuộc đời. ngay từ đầu bài thơ, nhà thơ đã đặt ra những câu hỏi đầy day dứt như “trời hỡi, bao giờ tôi chết đi?” cho thấy tâm trạng tuyệt vọng và đau khổ của tác giả. khi người mình yêu rời xa, thi nhân cảm thấy tâm hồn như bị chia làm hai, “một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bỗng dại khờ”. hình ảnh này thể hiện sự mất mát lớn lao trong tâm hồn nhà thơ. ở khổ thơ cuối, những câu hỏi tu từ tiếp tục được sử dụng để diễn tả cảm giác bơ vơ, lạc lõng của thi nhân giữa cuộc đời rộng lớn. qua bài thơ, hàn mặc tử đã bộc lộ một tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc nhưng cũng đầy cô đơn và đau khổ.
câu 2:
trong cuộc sống, ý chí và nghị lực là những yếu tố rất quan trọng giúp con người vượt qua khó khăn và đạt được thành công. ý chí là sự quyết tâm theo đuổi mục tiêu, còn nghị lực là sức mạnh tinh thần giúp con người không bỏ cuộc trước thử thách. trong thực tế, không ai có thể đạt được thành công một cách dễ dàng, mỗi người đều phải trải qua nhiều khó khăn và thất bại. nếu không có ý chí và nghị lực, con người rất dễ nản lòng và từ bỏ ước mơ của mình. ngược lại, những người có ý chí mạnh mẽ sẽ luôn cố gắng đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. chẳng hạn như nhiều người dù hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn cố gắng học tập, lao động để thay đổi cuộc sống của mình. nhờ có nghị lực, họ không ngừng phấn đấu và từng bước đạt được mục tiêu đã đặt ra. tuy nhiên, trong xã hội vẫn có một số người dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn, sống thiếu mục tiêu và thiếu quyết tâm. điều đó khiến họ khó đạt được thành công trong cuộc sống. vì vậy, mỗi chúng ta cần rèn luyện ý chí và nghị lực cho bản thân, biết kiên trì, cố gắng và không ngại đối mặt với thử thách. khi có ý chí mạnh mẽ, con người sẽ có thêm động lực để vượt qua khó khăn và tiến gần hơn tới ước mơ của mình.
câu 1: những phương thức biểu đạt trng bài thơ là biểu cảm và miêu tảr.
câu 2: đề tài của bài thơ là nỗi buồn và sự đau khổ của nhà thơ trước tyêu và cuộc đờii.
câu 3: mộtt hình ảnh thơ mang tính tượng trưng trong bài là “một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bỗng ddại khờ”. hình ảnh “hồn” tượng trưng cho thế giới nội tâm của nhà thơ. khi người mình yêu rời đi, tâm hồn thi sĩ như bị chia làm hai nửa, một nửa mất đi, nửa còn lại trở nên dại khờ, đau đớn. qua đó thể hiện nỗi cô đơn và tuyệt vọng của nhà thơ.
câu 4: biệm pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ cuối là câu hói tu từ. những câu hỏi này thể hiện tamtrạng bơ vơ, lạc lõng và đau khổ của nhà thơ giữa cuộc đời rộng lớn, đồng thời làm nổi bật nỗi cô đơn và tuyệt vọng của thi nhân.
câu 5: cấu tứ của bài thơ được triển khai theo mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình. ban đầu là những câu hỏi đầy đau đớn về tình yêu và số phận, sau đó là nỗi buồn khi người yêu rời xa khiến tâm hồn nhà thơ mất mát, cuối cùng là cảm giác cô đơn, bơ vơ và lạc lõng giữa cuộc đời.