TRẦN HÀ MY
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 :
Bài Làm
Trong đoạn trích “Chén thuốc độc “ của tác giả Vũ Đình Long đã khắc họa sắc nét sự biến chuyển tâm lí đầy bi kịch Thoong Thu . Cụ Thông để lại gia sản lớn nhưng gia đình nhanh chóng sa sút và lâm vào cảnh khánh kiệt. Nguyên nhân Bà vợ và con dâu mê đồng bóng, con trai trưởng ăn chơi trác táng, thiếu trách nhiệm.Diễn biến tâm lí của nhân vật Thông Thu được thể hiện rõ qua sự hối hận và nhận thức về lỗi lầm của bản thân . Thông Thu hiện lên với những con số nợ nần cụ thể (2000 đồng, 500 đồng,...). Sự tính toán chi li cho thấy sự tính ngộ vê tài chính khi đã quá muộn.Nhân vật tự phê phán lối sống của chính mình là "ném tiền qua cửa sổ", : "đắm đuối trong bể tình dục".Nỗi đau khổ về danh dự: Tự thấy mình làm "nhơ nhuốc" danh hiệu "tu mi nam tứ", thấy mình có lỗi với cha và gia đình khi phá tan gia sản chỉ trong 2 năm. Sự bế tắc và bi kịch chọn cái chết , nỗi sợ hãi hiện thực: Thông Thu sợ cảnh "áo số cơm hầm" nơi tù tội vì bản thân vốn "quen ăn sung mặc sướng" . Ông ta nhận ra mình là "con mọt trong xã hội", không giúp ích gì cho quốc dân nên chọn cái chết coi như là một sự giải thoát danh dự . Hành động"nâng cốc lên rồi đặt xuống" lặp lại nhiều lần thể hiện sự yếu đuối, sợ hãi trước cái chết và niềm khao khát sống, trách nhiệm với người thân (mẹ, vợ, em).Đặc sắc nghệ thuật độc đáosử dụng ngôn ngữ độc thoại nội tâm sắc sảo, bộc lộ trực tiếp những góc khuất trong tâm hồn nhân vật. Nhịp điệu kịch dôn dập, căng thăng, thế hiện qua những câu cảm thán, câu hỏi tu từ và các chỉ dẫn sân khấu (bóp trán, thở dài, khuấy thuốc,...). Đoạn trích không chỉ là tiếng khóc cho một số phận sa ngã mà còn là lời cảnh tỉnh về lối sống ăn chơi trác táng, quên đi trách nhiệm với gia đình và xã hội.
Câu 2 :
Câu 1 : Văn bản "Chén thuộc độc" thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2 : Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại
Câu 3 : - Các chỉ dân sân khấu trong văn bản:
+ "Bóp trán nghĩ ngợi"
+ "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống."
+ "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lẫy que khuấy.".
+ "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.".
+...
- Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:
+ Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thế của nhân vật.
+ Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống).
Câu 4 : - Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai:
Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lâm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm
"nhơ nhuốc" thanh danh gia đình.
- Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba:
Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hăn quyết định tìm đến cái chết đế giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!").
- Sự thay đối: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II) chuyến sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại đế viết thư cho em trai).
Câu 5 :
- Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa.
- Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên luy. đến những người thân xung quanh.
- Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động đế trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục".
'. Cái chết trong sự
bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược.
.
Câu 1 : biểu cảm , miêu tả
Câu 2 : Đề tài : nỗi buồn , sự đau khổ
Câu 3 : mặt nhựt tan thành máu, hôn ( một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bỗng dại khờ
bông phượng nở trong màu huyết, giọt châu
Hình ảnh hồn
tượng trưng cho cái tôi cá nhân, cho sự cô đơn, tuyệt vọng của chính thi nhân gắn liền với mặc cảm chia lìa. Khát khao yêu và được yêu, nhưng tình yêu của Hàn Mặc Tử vẫn tan vỡ, người kia vẫn ra đi, khiến cho thi sĩ ngậm ngùi đau đớn thất vọng
Câu 4 : Câu hỏi tu từ:
Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?/ Sao bông phượng nở trong màu huyết,/ Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?
- Tác dụng:
+ Thế hiện sự bơ vơ, lạc lõng của thi nhân giữa trần thế bao la, rộng lớn này.
+ Thế hiện sự nhạy cảm của thi nhân trước thiên nhiên, cuộc đời: Dường như thiên nhiên, cuộc đời cũng thương cho số kiếp đáng thương, hoàn cảnh lạc lõng của thi nhân mà xúc động, nghẹn ngào, khóc thương cho cuộc đời chàng Hàn Mặc Tử.
Câu 5 :
- Trước hết, bài thơ đi từ nỗi buồn vì không thể hồi đáp lại hết tình thương yêu, quý mến của mọi người dành cho thi nhân.
Nhà thơ rất muốn đền đáp nhưng bệnh tật khiến chàng không thể đền đáp nổi những điều trân quý ấy. Tiếp đó là nỗi đau đớn, bất lực vì tình yêu không trọn vẹn. Và cuối cùng là nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời mênh mông. Như vậy, bài thơ là sự vận động từ sự phiền muộn, khát khao yêu và được yêu sang nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa trần thế bao la của thi nhân.
Câu 1 :
Bài Làm
Đoạn trích trong tác phẩm "Vượt biển" (trích sử thi Đẻ đất đẻ nước của dân tộc Mường) là một bức tranh tráng lệ và đầy xúc động về cuộc hành trình chinh phục thiên nhiên của con người cổ đại. Trước hết, hình ảnh ”chèo đi rán thứ sáu “ gợi lên sự kiên trì và sức mạnh phi thường. Con số "thứ sáu" không chỉ đơn thuần là số đếm, mà là biểu tượng cho những thử thách chồng chất, những tầng sóng dữ mà con người phải vượt qua. Động từ "chèo" kết hợp với từ "rán" (gắng sức) tạo nên một nhịp điệu khẩn trương, mạnh mẽ, khắc họa tư thế chủ động của con người giữa muôn trùng sóng nước. Tuy nhiên, vẻ đẹp của đoạn trích không chỉ nằm ở sức mạnh cơ bắp mà còn ở sự thức nhận về giới hạn của cá nhân trước vũ trụ bao la. Lời khẩn cầu: "Đừng cho tôi bỏ thân chốn này, biển hỡi!" là một tiếng kêu nhân bản sâu sắc. Nó không phải sự yếu đuối, mà là khát vọng sống mãnh liệt và sự tôn trọng đối với quyền năng của biển cả. Việc nhân hóa biển qua tiếng gọi "hỡi" cho thấy mối quan hệ tương hỗ giữa người và thiên nhiên: biển vừa là đối tượng chinh phục, vừa là người mẹ thiên nhiên nắm giữ định mệnh. Tóm lại, bằng ngôn ngữ sử thi mộc mạc nhưng giàu sức gợi, đoạn trích đã ngợi ca vẻ đẹp của ý chí và tâm hồn con người – những thực thể nhỏ bé nhưng mang trong mình khát vọng vượt qua mọi giới hạn để tồn tại và phát triển.
Câu 2 :
Bài Làm
Trong dòng chảy hối hả của cuộc sống hiện đại, con người thường mải mê chạy theo những mục tiêu vật chất, danh vọng hay thành công cá nhân mà đôi khi quên mất một giá trị bền vững, thiêng liêng luôn hiện hữu bên mình: tình thân. Tình thân – tình cảm gia đình ruột thịt – không chỉ là điểm tựa tinh thần vững chắc mà còn là nền tảng hình thành nhân cách, giúp con người vượt qua khó khăn và sống nhân ái hơn trong cuộc đời.
Trước hết, tình thân là nơi khởi nguồn của yêu thương và sự bao dung. Mỗi con người khi sinh ra đều được chào đón trong vòng tay gia đình, được nuôi dưỡng bằng sự chăm sóc, hy sinh thầm lặng của ông bà, cha mẹ. Tình thân không đòi hỏi điều kiện, không tính toán thiệt hơn, mà xuất phát từ sự gắn bó máu mủ và trách nhiệm tự nhiên. Chính sự yêu thương vô điều kiện ấy giúp con người cảm thấy an toàn, được che chở, từ đó có niềm tin để bước ra thế giới rộng lớn. Khi vấp ngã hay thất bại, gia đình luôn là nơi sẵn sàng dang tay đón ta trở về, an ủi và tiếp thêm sức mạnh để ta đứng dậy.
Không chỉ vậy, tình thân còn góp phần quan trọng trong việc hình thành nhân cách và lối sống của mỗi người. Gia đình là “trường học” đầu tiên dạy ta biết yêu thương, sẻ chia, kính trên nhường dưới và sống có trách nhiệm. Những lời dạy của cha mẹ, tấm gương sống của người thân âm thầm ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành động của ta suốt cuộc đời. Một người lớn lên trong môi trường gia đình ấm áp, chan chứa yêu thương thường có xu hướng sống nhân hậu, biết quan tâm đến người khác. Ngược lại, sự thiếu vắng hoặc rạn nứt tình thân dễ khiến con người cảm thấy cô đơn, lạc lõng và khó cân bằng cảm xúc.
Trong những biến động của cuộc sống, giá trị của tình thân càng được khẳng định rõ nét. Khi đối diện với bệnh tật, mất mát hay khủng hoảng, không phải tiền bạc hay danh vọng mà chính là sự ở bên, động viên của người thân giúp con người có thêm nghị lực để vượt qua. Tình thân tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn, giúp ta không gục ngã trước nghịch cảnh. Đồng thời, đó cũng là nguồn hạnh phúc giản dị nhưng bền lâu: bữa cơm gia đình ấm cúng, lời hỏi han chân thành, hay chỉ là sự hiện diện lặng lẽ bên nhau cũng đủ làm dịu đi những mệt mỏi của cuộc sống.
Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, không ít người xem nhẹ tình thân, để khoảng cách vô hình hình thành giữa các thành viên gia đình do áp lực công việc, công nghệ hay lối sống ích kỷ. Điều này đòi hỏi mỗi chúng ta phải biết trân trọng và gìn giữ tình cảm gia đình bằng những hành động cụ thể: dành thời gian quan tâm, lắng nghe, thấu hiểu và chia sẻ với người thân, bởi tình thân nếu không được nuôi dưỡng sẽ dần phai nhạt.
Tóm lại, tình thân là giá trị tinh thần vô giá, là cội nguồn của yêu thương, sức mạnh và hạnh phúc trong cuộc sống con người. Dù xã hội có đổi thay ra sao, tình thân vẫn luôn là điểm tựa vững chắc, nhắc nhở mỗi chúng ta sống nhân ái, biết yêu thương và trân trọng những người thân yêu khi còn có thể.
câu 1 :
- Sa dạ sa dồng
câu 2 :
- Hình ảnh “biển” hiện ra trong văn bản có đặc điểm : dữ dội ,hung hiểm ,đầy sóng gió ,là nơi các sa dạ sa dồng phải chèo thuyền phục vụ các quan slay ở cõi âm
câu 3 :
- Chủ đề của văn bản : phản ánh cuộc sống bất công đầy , tăm tối và oan trái , đặc biệt là số phận cực khổ của người dân tộc thiểu số nghèo . Qua đó lên án những hủ tục, sự tàn bạo và thể hiện khát vọng giải thoát cho người lao động bị áp bức và mong ước công lý.
câu 4 :
- Trong văn bản "Vượt Biển", các rán nước (từ rán thứ sáu đến rán thứ mười hai) tượng trưng cho những thử thách, gian truân, hiểm nguy liên tiếp và dữ dội mà con người phải đối mặt trong cuộc đời, thể hiện sự đấu tranh sinh tồn và khát vọng vượt lên số phận của nhân vật.
câu 5 :
Trong đoạn thơ, các âm thanh chính được thể hiện là tiếng nước "gầm réo" dữ dội, mạnh mẽ và tiếng kêu "xin đừng giết tôi", "đừng lôi lấy thuyền" yếu ớt, cầu khẩn, tất cả tạo nên âm thanh của một cơn bão biển kinh hoàng, gợi lên cảm giác sợ hãi, hoảng loạn, tuyệt vọng và cảm thương cho số phận con người trước sức mạnh thiên nhiên hung tàn.+ "Nước sôi gầm réo": Tiếng sóng biển vỗ, gầm rít, ầm ầm, dữ dội như quái vật khổng lồ.
+ "Biển ơi, xin đừng giết tôi / Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền": Tiếng kêu thảng thốt, cầu xin của con người.
- Cảm nhận sự nhỏ bé, mong manh của con người và nỗi đau khổ của họ
- Lời kêu cứu yếu ớt, tuyệt vọng trước sức mạnh áp đảo của thiên nhiên.
=> Đoạn thơ khắc họa thành công âm thanh của sự đối đầu giữa con người và thiên nhiên, thể hiện sự bi tráng và nỗi kinh hoàng khi đối mặt với tai ương.