TRẦN QUANG TRUNG

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của TRẦN QUANG TRUNG
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)


Câu 1. Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ)



Những giấc mơ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cuộc sống con người. Giấc mơ không chỉ là khát vọng hướng tới tương lai mà còn là nguồn động lực giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách. Khi có giấc mơ, con người biết mình sống vì điều gì, từ đó nỗ lực hoàn thiện bản thân và không ngừng vươn lên. Những giấc mơ đẹp còn nuôi dưỡng đời sống tinh thần, làm cho tâm hồn con người trở nên phong phú, nhân ái và giàu cảm xúc hơn. Ngược lại, khi con người đánh mất giấc mơ, họ dễ rơi vào trạng thái trống rỗng, hoang mang, sống chỉ để tồn tại. Trong xã hội hiện đại, dù vật chất ngày càng đầy đủ, nhưng nếu thiếu những giấc mơ, con người vẫn trở nên nghèo nàn về tinh thần. Vì vậy, mỗi người cần biết trân trọng, gìn giữ và nuôi dưỡng những giấc mơ của mình để sống một cuộc đời có ý nghĩa.





Câu 2. Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ)



Phân tích bài thơ Tương tư – Nguyễn Bính


Nguyễn Bính là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, nổi tiếng với hồn thơ chân quê, mộc mạc mà đằm thắm. Tương tư là một trong những bài thơ đặc sắc nhất của ông, thể hiện nỗi nhớ thương da diết, chân thành của người trai làng trong tình yêu.


Mở đầu bài thơ, tác giả đã khéo léo diễn tả nỗi tương tư bằng không gian làng quê quen thuộc:

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Một người chín nhớ mười mong một người.”

Hai thôn cùng một làng nhưng lại trở thành biểu tượng cho khoảng cách trong tình yêu. Cách nói dân gian “chín nhớ mười mong” làm nổi bật nỗi nhớ khắc khoải, đầy ám ảnh.


Nỗi tương tư ấy được ví như một căn bệnh:

“Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.”

So sánh độc đáo, hóm hỉnh nhưng cũng rất sâu sắc, cho thấy tình yêu là điều tự nhiên, không thể tránh khỏi, khiến con người day dứt, thao thức.


Thời gian trôi qua càng làm nỗi nhớ thêm da diết:

“Ngày qua ngày lại qua ngày,

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.”

Hình ảnh lá xanh hóa vàng vừa gợi sự trôi chảy của thời gian, vừa thể hiện sự mòn mỏi, chờ đợi đến héo hon của nhân vật trữ tình.


Dù khoảng cách chỉ “cách một đầu đình”, nhưng tình yêu vẫn xa vời:

“Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…”

Khoảng cách địa lý gần nhưng khoảng cách tình cảm lại mênh mông, cho thấy sự rụt rè, e ấp rất đặc trưng của tình yêu làng quê xưa.


Khép lại bài thơ là hình ảnh mang đậm màu sắc dân gian:

“Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”

Cau – giầu trở thành biểu tượng cho đôi lứa, cho khát vọng gắn bó bền chặt, kín đáo mà tha thiết.


Tóm lại, Tương tư là bài thơ giàu cảm xúc, mang vẻ đẹp mộc mạc, chân thành của tình yêu thôn quê. Qua đó, Nguyễn Bính đã khắc họa thành công một tâm hồn yêu thương sâu nặng, góp phần làm nên nét riêng không thể trộn lẫn trong thơ ca Việt Nam.



PHẦN I. ĐỌC HIỂU




Câu 1. Phương thức biểu đạt chính



Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là nghị luận.

→ Tác giả bày tỏ quan điểm, suy ngẫm, dùng lí lẽ và dẫn chứng để thuyết phục người đọc về ý nghĩa của “những giấc mơ”.





Câu 2. Thao tác lập luận ở đoạn (5) và tác dụng



  • Thao tác lập luận: Chứng minh (kết hợp phân tích).
  • Tác dụng:
    • Đưa ra dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu (sự kiện Barack Obama đắc cử Tổng thống Mỹ) để làm rõ vai trò của “giấc mơ”.
    • Giúp lập luận trở nên xác thực, thuyết phục, khẳng định rằng giấc mơ có khả năng truyền cảm hứng, khơi dậy niềm tin và thay đổi con người.






Câu 3. Vì sao tác giả cho rằng: “Chúng ta thực sự là những kẻ nghèo đói”?



Tác giả cho rằng “chúng ta thực sự là những kẻ nghèo đói” vì:


  • Con người đã lãng quên những giấc mơ, đánh mất đời sống tinh thần và khát vọng sống.
  • Dù có đủ đầy vật chất, nhưng tâm hồn trống rỗng, không còn niềm tin, hi vọng, lý tưởng.
    → Đó là sự nghèo đói về tinh thần, nguy hiểm và đáng sợ hơn nghèo đói vật chất.






Câu 4. Cách chữa chạy cho “những cơn đau ốm tâm hồn” (đoạn 11)



Một số cách khả thi:


  • Gieo vào con người, đặc biệt là trẻ em, những giấc mơ đẹp, nhân văn.
  • Tăng cường giáo dục tinh thần, bồi dưỡng cảm xúc, lý tưởng sống trong gia đình và nhà trường.
  • Kể chuyện cổ tích, nuôi dưỡng trí tưởng tượng, lòng nhân ái.
  • Quan tâm nhiều hơn đến đời sống tâm hồn, không chỉ chăm lo sức khỏe thể chất.
    → Giúp con người sống có ý nghĩa, cân bằng và nhân văn hơn.




PHẦN II. LÀM VĂN




Câu 1. Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ)



Trong bài thơ Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa, hình tượng mưa mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Mưa không chỉ là hiện tượng thiên nhiên mà còn đại diện cho sự đổi thay, phai nhạt và những biến cố của cuộc đời. Mưa xóa nhòa lời hứa, dấu chân, mùi hương kỉ niệm, khiến những gì từng đẹp đẽ trở nên mong manh và xa vắng. Qua hình tượng mưa, Lưu Quang Vũ thể hiện nỗi lo âu của con người trước sự trôi chảy của thời gian và sự biến động của tình cảm. Đồng thời, mưa còn gợi lên cảm giác bất an, chập chờn, khi hạnh phúc không còn vững chắc mà dễ tan như “mưa sa”. Tuy vậy, ẩn sau nỗi sợ ấy là khát vọng được giữ gìn những giá trị xưa cũ, những yêu thương chân thành. Nhờ hình tượng mưa, bài thơ trở nên giàu tính triết lí và lay động lòng người.





Câu 2. Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ)



Trong hành trình sống của mỗi con người, có những khoảnh khắc khiến ta bừng tỉnh, nhìn lại bản thân và thế giới xung quanh. Howard Thurman từng nói: “Hãy tự hỏi xem điều gì sẽ khiến bạn tỉnh thức, và thực hiện điều đó. Bởi cái thế giới cần là những con người đã thức tỉnh.” Câu nói ấy nhấn mạnh ý nghĩa to lớn của sự tỉnh thức trong cuộc sống con người.


Tỉnh thức là khi con người sống có ý thức, hiểu rõ giá trị của bản thân, biết mình đang sống vì điều gì và không để cuộc đời trôi qua một cách vô nghĩa. Đó có thể là khoảnh khắc ta nhận ra thời gian là hữu hạn, nhận ra yêu thương cần được trân trọng, hay khi đối diện với mất mát, thất bại, ta học được bài học sâu sắc về cuộc sống. Những điều làm con người tỉnh thức không nhất thiết phải là biến cố lớn lao, mà đôi khi chỉ là một lời nói chân thành, một ánh nhìn cảm thông hay sự im lặng để suy ngẫm.


Trong xã hội hiện đại, nhiều người sống vội vàng, chạy theo vật chất và danh vọng mà quên mất giá trị tinh thần. Chính vì vậy, sự tỉnh thức giúp con người biết dừng lại, lắng nghe chính mình và sống chậm hơn để cảm nhận hạnh phúc. Một con người tỉnh thức sẽ biết sống tử tế, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng. Họ không sống vô cảm, không thờ ơ trước nỗi đau của người khác, mà sẵn sàng sẻ chia và hành động vì những điều tốt đẹp.


Thế giới hôm nay không chỉ cần những con người tài giỏi, mà còn cần những con người biết yêu thương, biết suy nghĩ và biết sống có ý nghĩa. Khi mỗi cá nhân tỉnh thức, xã hội sẽ trở nên nhân văn hơn, bớt đi ích kỉ và thờ ơ. Vì vậy, mỗi chúng ta cần tự hỏi: điều gì khiến mình tỉnh thức? Đó có thể là ước mơ, trách nhiệm, hay khát vọng cống hiến. Khi tìm được câu trả lời, ta cần dũng cảm thực hiện nó để sống một cuộc đời trọn vẹn.


Tóm lại, sự tỉnh thức chính là chìa khóa giúp con người sống sâu sắc và có giá trị. Một thế giới tốt đẹp hơn chỉ có thể được tạo nên bởi những con người đã thật sự thức tỉnh trong tâm hồn.



PHẦN I. ĐỌC HIỂU




Câu 1. Xác định thể thơ



Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.

→ Số chữ mỗi dòng không đều, nhịp điệu linh hoạt, phù hợp để bộc lộ cảm xúc trữ tình sâu lắng.





Câu 2. Cảm xúc của nhân vật trữ tình



Bài thơ thể hiện nỗi lo âu, bất an, sợ hãi trước sự đổi thay của thời gian và tình cảm, đồng thời là nỗi tiếc nuối, yêu thương tha thiết đối với những kỉ niệm đẹp trong quá khứ. Nhân vật trữ tình sợ mưa như sợ sự phai nhạt của lời hứa, của tình yêu và hạnh phúc mong manh.





Câu 3. Ý nghĩa của một biện pháp tu từ trong đoạn thơ



Trong đoạn thơ:


Mưa cướp đi ánh sáng của ngày

Đường chập choạng trăm mối lo khó gỡ

Thức chẳng yên dở dang giấc ngủ

Hạnh phúc con người mong manh mưa sa.


Tác giả sử dụng biện pháp nhân hóa (“mưa cướp đi ánh sáng của ngày”).

→ Biện pháp này khiến cơn mưa hiện lên như một thế lực vô hình, có khả năng tước đoạt ánh sáng, niềm vui và sự bình yên của con người. Qua đó, mưa trở thành biểu tượng của những biến cố, lo âu và bất trắc trong cuộc sống, làm cho hạnh phúc trở nên mong manh, dễ tan vỡ. Cách diễn đạt này giúp cảm xúc lo sợ của nhân vật trữ tình được thể hiện sâu sắc và giàu sức gợi.





Câu 4. Cách cư xử của con người trước tương lai chưa biết



Khi đối diện với một tương lai đầy những điều chưa biết, con người cần bình tĩnh, bản lĩnh và chủ động. Ta không nên quá sợ hãi trước những biến động, mà cần chuẩn bị cho mình tâm thế vững vàng, sống tích cực, trân trọng hiện tại và giữ gìn những giá trị tốt đẹp. Niềm tin, nghị lực và tình yêu thương sẽ giúp con người vượt qua bất trắc và hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.



PHẦN II. LÀM VĂN




Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ)



Trong đoạn trích Sống mòn, Nam Cao đã khắc họa sâu sắc diễn biến tâm lý đầy day dứt của nhân vật ông giáo Thứ. Ban đầu, Thứ rơi vào trạng thái hoảng hốt, lo âu khi nhận ra cuộc đời mình cứ lặp lại trong bế tắc, nghèo đói và trách nhiệm nặng nề. Đến khi đối diện với bữa cơm gia đình, tâm trạng ấy chuyển thành xót xa, ân hận và đau đớn. Anh không thể thanh thản ăn khi chứng kiến bà, mẹ, vợ, con và các em đều nhịn đói để dành phần cho mình. Sự giằng xé nội tâm lên đến cao trào khi Thứ vừa ăn vừa khóc, nước mắt nghẹn trong miếng cơm. Qua diễn biến tâm lý ấy, nhân vật hiện lên là một người trí thức nghèo nhưng giàu lòng nhân ái, có ý thức trách nhiệm, biết yêu thương và hi sinh cho gia đình. Đồng thời, bi kịch của Thứ cũng tố cáo xã hội cũ tàn nhẫn đã đẩy những con người lương thiện vào cảnh sống mòn mỏi, bế tắc cả vật chất lẫn tinh thần.





Câu 2. Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ)



Trong xã hội hiện đại, khi mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, con người ngày càng bị ám ảnh bởi những “chuẩn mực” vẻ đẹp phi thực tế. Từ đó, chiến dịch “Turn your back” của Dove năm 2023 đã mang đến một thông điệp sâu sắc và nhân văn: vẻ đẹp là không có chuẩn mực.


Ngày nay, các hiệu ứng chỉnh sửa khuôn mặt bằng AI trên mạng xã hội, đặc biệt là TikTok, đã tạo ra những hình ảnh hoàn hảo đến mức phi lý. Gương mặt không tì vết, làn da trắng mịn, sống mũi cao thẳng… dần trở thành “chuẩn đẹp” vô hình, khiến nhiều người, nhất là phụ nữ trẻ, cảm thấy tự ti về ngoại hình thật của mình. Dove đã dũng cảm “quay lưng lại” với những hiệu ứng ấy, kêu gọi con người tôn trọng và yêu thương vẻ đẹp tự nhiên, dù nó có khiếm khuyết. Thông điệp này không chỉ mang ý nghĩa thẩm mỹ mà còn chạm đến giá trị nhân văn sâu sắc.


Vẻ đẹp thực sự không nằm ở khuôn mặt hoàn hảo, mà nằm ở sự đa dạng và cá tính riêng của mỗi con người. Những nếp nhăn, làn da sạm nắng hay khuyết điểm trên cơ thể đều là dấu ấn của cuộc sống, của trải nghiệm và trưởng thành. Khi xã hội áp đặt một khuôn mẫu chung, con người dễ đánh mất sự tự tin và giá trị bản thân. Chiến dịch của Dove đã góp phần giải phóng con người khỏi áp lực ấy, giúp họ hiểu rằng: được là chính mình đã là một điều hoàn hảo.


Bên cạnh đó, thông điệp của Dove còn nhắc nhở con người về tác hại của việc chạy theo hình ảnh ảo. Việc lạm dụng công nghệ chỉnh sửa không chỉ làm méo mó nhận thức về vẻ đẹp, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tinh thần, gây lo âu, trầm cảm và cảm giác không bao giờ đủ tốt. Khi con người học cách chấp nhận bản thân, họ sẽ sống tự tin, tích cực và hạnh phúc hơn.


Tuy nhiên, để thông điệp ấy thực sự lan tỏa, mỗi cá nhân cũng cần thay đổi tư duy. Thay vì so sánh mình với người khác trên mạng xã hội, chúng ta cần trân trọng giá trị riêng, chăm sóc bản thân từ bên trong cả về trí tuệ, nhân cách và tâm hồn. Đó mới là nền tảng của vẻ đẹp bền vững.


Tóm lại, chiến dịch “Turn your back” của Dove không chỉ là một hoạt động quảng cáo, mà còn là lời nhắn nhủ ý nghĩa trong thời đại số: vẻ đẹp không có chuẩn mực, và con người đẹp nhất khi dám sống thật với chính mình. Nếu bạn muốn, mình có thể rút gọn, nâng cấp lên mức điểm cao hơn hoặc chỉnh theo văn phong thi THPT.



PHẦN II. LÀM VĂN




Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ)



Trong đoạn trích Sống mòn, Nam Cao đã khắc họa sâu sắc diễn biến tâm lý đầy day dứt của nhân vật ông giáo Thứ. Ban đầu, Thứ rơi vào trạng thái hoảng hốt, lo âu khi nhận ra cuộc đời mình cứ lặp lại trong bế tắc, nghèo đói và trách nhiệm nặng nề. Đến khi đối diện với bữa cơm gia đình, tâm trạng ấy chuyển thành xót xa, ân hận và đau đớn. Anh không thể thanh thản ăn khi chứng kiến bà, mẹ, vợ, con và các em đều nhịn đói để dành phần cho mình. Sự giằng xé nội tâm lên đến cao trào khi Thứ vừa ăn vừa khóc, nước mắt nghẹn trong miếng cơm. Qua diễn biến tâm lý ấy, nhân vật hiện lên là một người trí thức nghèo nhưng giàu lòng nhân ái, có ý thức trách nhiệm, biết yêu thương và hi sinh cho gia đình. Đồng thời, bi kịch của Thứ cũng tố cáo xã hội cũ tàn nhẫn đã đẩy những con người lương thiện vào cảnh sống mòn mỏi, bế tắc cả vật chất lẫn tinh thần.





Câu 2. Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ)



Trong xã hội hiện đại, khi mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, con người ngày càng bị ám ảnh bởi những “chuẩn mực” vẻ đẹp phi thực tế. Từ đó, chiến dịch “Turn your back” của Dove năm 2023 đã mang đến một thông điệp sâu sắc và nhân văn: vẻ đẹp là không có chuẩn mực.


Ngày nay, các hiệu ứng chỉnh sửa khuôn mặt bằng AI trên mạng xã hội, đặc biệt là TikTok, đã tạo ra những hình ảnh hoàn hảo đến mức phi lý. Gương mặt không tì vết, làn da trắng mịn, sống mũi cao thẳng… dần trở thành “chuẩn đẹp” vô hình, khiến nhiều người, nhất là phụ nữ trẻ, cảm thấy tự ti về ngoại hình thật của mình. Dove đã dũng cảm “quay lưng lại” với những hiệu ứng ấy, kêu gọi con người tôn trọng và yêu thương vẻ đẹp tự nhiên, dù nó có khiếm khuyết. Thông điệp này không chỉ mang ý nghĩa thẩm mỹ mà còn chạm đến giá trị nhân văn sâu sắc.


Vẻ đẹp thực sự không nằm ở khuôn mặt hoàn hảo, mà nằm ở sự đa dạng và cá tính riêng của mỗi con người. Những nếp nhăn, làn da sạm nắng hay khuyết điểm trên cơ thể đều là dấu ấn của cuộc sống, của trải nghiệm và trưởng thành. Khi xã hội áp đặt một khuôn mẫu chung, con người dễ đánh mất sự tự tin và giá trị bản thân. Chiến dịch của Dove đã góp phần giải phóng con người khỏi áp lực ấy, giúp họ hiểu rằng: được là chính mình đã là một điều hoàn hảo.


Bên cạnh đó, thông điệp của Dove còn nhắc nhở con người về tác hại của việc chạy theo hình ảnh ảo. Việc lạm dụng công nghệ chỉnh sửa không chỉ làm méo mó nhận thức về vẻ đẹp, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tinh thần, gây lo âu, trầm cảm và cảm giác không bao giờ đủ tốt. Khi con người học cách chấp nhận bản thân, họ sẽ sống tự tin, tích cực và hạnh phúc hơn.


Tuy nhiên, để thông điệp ấy thực sự lan tỏa, mỗi cá nhân cũng cần thay đổi tư duy. Thay vì so sánh mình với người khác trên mạng xã hội, chúng ta cần trân trọng giá trị riêng, chăm sóc bản thân từ bên trong cả về trí tuệ, nhân cách và tâm hồn. Đó mới là nền tảng của vẻ đẹp bền vững.


Tóm lại, chiến dịch “Turn your back” của Dove không chỉ là một hoạt động quảng cáo, mà còn là lời nhắn nhủ ý nghĩa trong thời đại số: vẻ đẹp không có chuẩn mực, và con người đẹp nhất khi dám sống thật với chính mình. Nếu bạn muốn, mình có thể rút gọn, nâng cấp lên mức điểm cao hơn hoặc chỉnh theo văn phong thi THPT.


Thứ đứng tựa mạn tàu... Người ta không thể ước ao một buổi sáng đẹp hơn. Trời xanh lơ, tươi màu như vừa mới quét sơn. Một vài túm mây trắng, lửng lơ. Không gian như rộng quang ra. Ánh nắng chan hòa và rực rỡ. Nhưng Thứ buồn... Y nhìn đằng sau, Hà Nội lùi dần như muốn bỏ y. Đời y cũng lùi dần. Biết bao nhiêu là ước vọng cao xa khi còn ngồi trên ghế nhà trường! Cái đầu tóc mới nuôi có bao giờ thèm mong sau này làm một ông phán tầm thường, mắt cận thị và lưng gù, tháng tháng lĩnh lương vê nuôi vợ, nuôi con? Y sẽ đỗ thành chung, y sẽ đỗ tú tài, y sẽ vào đại học đường, y sang Tây,... Y sẽ thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình. Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân. Vào Sài Gòn, y đã làm một kẻ lông bông. Tuy vậy, mấy năm ở Sài Gòn cũng là một quãng thời gian đẹp của y. Ít ra, y cũng hăm hở, y đã náo nức, y đã mong chờ. Y đã ghét và yêu. Y đã say mê. Y đã ngồi ở thư viện không biết mỏi lưng và đón một dịp đi Pháp không biết nản... Về Hà Nội, y sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom. Y chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống y với vợ con y. Nhưng cũng chưa đến nỗi hỏng cả mười phần. Ít ra, y cũng còn làm được một việc gì, còn kiếm nổi bát cơm của mình ăn. Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!... Nghĩ thế y thấy nghẹn ngào, thấy uất ức vô cùng! Không! Y sẽ không chịu về quê. Ý sẽ đi bất cứ đâu, mặc rủi may, sống bất cứ thế nào và chết thế nào cũng được. Chết là thường. Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã. Y sẽ đi và bất cần tất cả!... Nhưng mà Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần... và đời y cũng lùi dần. Y đang lùi về

Thứ đứng tựa mạn tàu... Người ta không thể ước ao một buổi sáng đẹp hơn. Trời xanh lơ, tươi màu như vừa mới quét sơn. Một vài túm mây trắng, lửng lơ. Không gian như rộng quang ra. Ánh nắng chan hòa và rực rỡ. Nhưng Thứ buồn... Y nhìn đằng sau, Hà Nội lùi dần như muốn bỏ y. Đời y cũng lùi dần. Biết bao nhiêu là ước vọng cao xa khi còn ngồi trên ghế nhà trường! Cái đầu tóc mới nuôi có bao giờ thèm mong sau này làm một ông phán tầm thường, mắt cận thị và lưng gù, tháng tháng lĩnh lương vê nuôi vợ, nuôi con? Y sẽ đỗ thành chung, y sẽ đỗ tú tài, y sẽ vào đại học đường, y sang Tây,... Y sẽ thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình. Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân. Vào Sài Gòn, y đã làm một kẻ lông bông. Tuy vậy, mấy năm ở Sài Gòn cũng là một quãng thời gian đẹp của y. Ít ra, y cũng hăm hở, y đã náo nức, y đã mong chờ. Y đã ghét và yêu. Y đã say mê. Y đã ngồi ở thư viện không biết mỏi lưng và đón một dịp đi Pháp không biết nản... Về Hà Nội, y sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom. Y chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống y với vợ con y. Nhưng cũng chưa đến nỗi hỏng cả mười phần. Ít ra, y cũng còn làm được một việc gì, còn kiếm nổi bát cơm của mình ăn. Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!... Nghĩ thế y thấy nghẹn ngào, thấy uất ức vô cùng! Không! Y sẽ không chịu về quê. Ý sẽ đi bất cứ đâu, mặc rủi may, sống bất cứ thế nào và chết thế nào cũng được. Chết là thường. Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã. Y sẽ đi và bất cần tất cả!... Nhưng mà Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần... và đời y cũng lùi dần. Y đang lùi về