TRẦN QUANG TRUNG
Giới thiệu về bản thân
điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
CA SỢI CHỈ
Mẹ tôi là một đoá hoa,
Thân tôi trong sạch, tôi là cái bông.
Xưa tôi yếu ớt vô cùng,
Ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời.
Khi tôi đã thành chỉ rồi,
Cũng còn yếu lắm, ăn ngồi không ngon,
Mạnh gì sợi chỉ con con,
Khôn thiêng biết có vuông tròn cho chăng!
Càng dài lại càng mỏng manh,
Thế gian ai sợ chi anh chỉ xoàng!
Nhờ tôi có nhiều đồng bang,
Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.
Dệt nên tấm vải mỹ miều,
Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.
Đố ai bứt xé cho ra,
Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.
Hỡi ai con cháu Hồng Bàng,
Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau.
Yêu nhau xin nhớ lời nhau,
Việt Minh hội ấy mau mau phải vào.
(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 73)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2 (0.5 điểm): Nhân vật “tôi” trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ vật gì?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Nhờ tôi có nhiều đồng bang,
Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.
Dệt nên tấm vải mỹ miều,
Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.
Đố ai bứt xé cho ra,
Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.
Câu 4 (1.0 điểm): Sợi chỉ có những đặc tính nào? Theo anh/chị, sức mạnh của sợi chỉ nằm ở đâu?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì?
điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
CA SỢI CHỈ
Mẹ tôi là một đoá hoa,
Thân tôi trong sạch, tôi là cái bông.
Xưa tôi yếu ớt vô cùng,
Ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời.
Khi tôi đã thành chỉ rồi,
Cũng còn yếu lắm, ăn ngồi không ngon,
Mạnh gì sợi chỉ con con,
Khôn thiêng biết có vuông tròn cho chăng!
Càng dài lại càng mỏng manh,
Thế gian ai sợ chi anh chỉ xoàng!
Nhờ tôi có nhiều đồng bang,
Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.
Dệt nên tấm vải mỹ miều,
Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.
Đố ai bứt xé cho ra,
Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.
Hỡi ai con cháu Hồng Bàng,
Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau.
Yêu nhau xin nhớ lời nhau,
Việt Minh hội ấy mau mau phải vào.
(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 73)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2 (0.5 điểm): Nhân vật “tôi” trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ vật gì?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Nhờ tôi có nhiều đồng bang,
Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.
Dệt nên tấm vải mỹ miều,
Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.
Đố ai bứt xé cho ra,
Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.
Câu 4 (1.0 điểm): Sợi chỉ có những đặc tính nào? Theo anh/chị, sức mạnh của sợi chỉ nằm ở đâu?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì?
Nhân vật phu nhân trong Truyền kì tân phả hiện lên như hình ảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, đặc biệt là vẻ đẹp của đức hạnh và lòng thủy chung. Khi Đinh Hoàn phải lên đường đi sứ, phu nhân ở lại một mình, sống trong cô quạnh nhưng vẫn một lòng hướng về chồng, giữ trọn đạo nghĩa phu thê. Nỗi nhớ thương khắc khoải của bà không chỉ là tình cảm riêng tư mà còn thể hiện sự gắn bó sâu nặng, son sắt của người vợ đối với người chồng tận trung vì nước. Hình ảnh phu nhân gặp lại Đinh Hoàn trong cõi mộng mang màu sắc kì ảo đã góp phần lý tưởng hóa nhân vật, làm nổi bật tình yêu vượt qua ranh giới sống – chết. Đặc biệt, hành động quyên sinh của phu nhân không được khắc họa như một sự bế tắc hay yếu đuối, mà là lựa chọn mang tính chủ động, xuất phát từ khát vọng được tái hợp với phu quân, khẳng định lòng thủy chung và tiết hạnh. Qua đó, tác giả bày tỏ sự trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp tinh thần của người phụ nữ, đồng thời phản ánh quan niệm đạo đức của xã hội đương thời.
câu 2: Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, người trí thức luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ bởi tri thức mà còn bởi trách nhiệm và sứ mệnh đối với quốc gia. Nhân vật Đinh Hoàn trong Truyền kì tân phả là hình ảnh tiêu biểu cho mẫu kẻ sĩ truyền thống: đặt lợi ích của đất nước lên trên hạnh phúc cá nhân, sẵn sàng hi sinh đời sống riêng để phụng sự triều đình. Hình tượng ấy gợi ra nhiều suy ngẫm sâu sắc về trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước trong mọi thời đại. Trước hết, trách nhiệm lớn nhất của người trí thức là ý thức gắn bó vận mệnh cá nhân với vận mệnh dân tộc. Đinh Hoàn lên đường đi sứ trong hoàn cảnh gian nan, xa gia đình, đối mặt với hiểm nguy, nhưng vẫn dốc lòng vì đại cuộc. Điều đó cho thấy khi đất nước cần, người trí thức không được phép thờ ơ hay đứng ngoài cuộc. Trí thức chân chính không chỉ học để hiểu biết, mà còn học để cống hiến, để giải quyết những vấn đề mà xã hội và quốc gia đang đặt ra. Bên cạnh đó, người trí thức cần có bản lĩnh đạo đức và tinh thần trách nhiệm cao. Tri thức nếu không đi cùng nhân cách sẽ dễ trở thành công cụ phục vụ cho lợi ích cá nhân. Đinh Hoàn không hiện lên như một kẻ sĩ mưu cầu danh lợi, mà là người hành động vì nghĩa, vì trách nhiệm công dân. Từ hình tượng ấy, có thể thấy rằng người trí thức phải biết tự đặt ra cho mình chuẩn mực đạo đức, dám sống và dám chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, trách nhiệm của người trí thức càng trở nên đa dạng và phức tạp. Đó không chỉ là cống hiến trong lĩnh vực khoa học, giáo dục hay quản lý, mà còn là trách nhiệm lên tiếng trước những vấn đề xã hội, bảo vệ lẽ phải, lan tỏa những giá trị tích cực. Người trí thức cần giữ vững tinh thần độc lập, không chạy theo lợi ích ngắn hạn, không đánh đổi tri thức và lương tâm vì danh vọng hay vật chất. Tuy nhiên, trách nhiệm với đất nước không đồng nghĩa với sự hi sinh mù quáng. Trí thức hiện đại cần tỉnh táo, sáng suốt, biết dung hòa giữa cống hiến và phát triển bản thân, giữa lý tưởng và thực tiễn. Chỉ khi không ngừng học hỏi, đổi mới tư duy, người trí thức mới có thể đóng góp hiệu quả và bền vững cho sự phát triển của quốc gia. Từ hình tượng Đinh Hoàn, có thể khẳng định rằng dù ở bất kỳ thời đại nào, người trí thức cũng cần nuôi dưỡng trong mình tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước và ý thức cống hiến. Đó chính là nền tảng để tri thức trở thành sức mạnh, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước một cách lâu dài và có ý nghĩa.
câu 1.
-văn bản thuộc thể loại truyền kì (truyện truyền kì trung đại).
Câu 2:
- Truyện viết về đề tài người phụ nữ trong xã hội phong kiến
Câu 3
-yếu tố kì ảo: linh hồn đinh hoàn hiện về gặp phu nhân; ông về chầu thiên đình, trông coi việc bút nghiên nơi thiên tào; sự giao hòa giữa cõi sống và cõi chết.
-tác dụng: +)làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện; thể hiện khát vọng đoàn tụ và tình nghĩa vợ chồng vượt qua ranh giới sinh tử
+)góp phần làm nổi bật vẻ đẹp thủy chung, trinh liệt của người phụ nữ.
Câu 4
-Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố: làm cho văn bản mang tính trang trọng, bác học; giúp khắc họa sâu sắc phẩm chất đạo đức của nhân vật; đặt câu chuyện trong hệ thống giá trị văn hóa quen thuộc của văn học trung đại.
-Điển tích gây ấn tượng: ngưu lang – chức nữ, vì điển tích này thể hiện rõ nỗi chia lìa và khát vọng đoàn tụ của những người yêu nhau, phù hợp với bi kịch và tâm trạng của phu nhân.
Câu 5
-Sự kết hợp các cõi: cõi trần gian (đời sống gia đình, lễ tiểu tường), cõi âm (linh hồn đinh hoàn hiện về), cõi thiên giới (thiên đình, thiên tào).
-Tác dụng: mở rộng không gian nghệ thuật, làm mờ ranh giới giữa sự sống và cái chết; nhấn mạnh sự bền vững của tình nghĩa vợ chồng; tăng tính linh thiêng cho câu chuyện và làm cơ sở cho việc phu nhân được phong tặng, lập đền thờ.
- Mở đầu: Dẫn dắt từ văn bản đọc hiểu (ví dụ, từ "Đất nước là nơi ta sinh ra và lớn lên", "Đất nước là máu xương cha ông",...) để giới thiệu hình tượng đất nước đa diện.
- Thân bài (Phân tích):
- Đất nước bình dị, gắn liền với cuộc sống: Đất nước hiện lên qua những hình ảnh gần gũi, thân thương (những con đường, bến sông, cánh đồng, xóm làng) - như một phần máu thịt, gắn bó với mỗi con người, thể hiện tình cảm gắn bó, yêu thương quê hương.
- Đất nước kiên cường, bất khuất: Qua những gian lao, hy sinh (xương máu cha ông, chiến tranh, mất mát), hình tượng đất nước hiện lên với sức sống mãnh liệt, tinh thần đoàn kết, ý chí bảo vệ Tổ quốc, thể hiện niềm tự hào dân tộc.
- Đất nước trong chiều sâu văn hóa, con người: Đất nước còn là vẻ đẹp tâm hồn, tình người (nhân ái, bao dung), là truyền thống dân tộc được lưu giữ, là sự tiếp nối của các thế hệ, là cảm giác "mình đi đâu/ cũng thấy // Đất nước mình đẹp thế" (Nguyễn Khoa Điềm).
- Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của hình tượng đất nước: là nguồn cội, là lẽ sống, là động lực tinh thần, khơi dậy lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm của mỗi công dân đối với sự phát triển của quê hương.
Câu 2: Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) Đề bài: Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.
- Mở bài:
- Dẫn dắt: Lịch sử thường được ghi lại bằng những trang sách, bài giảng khô khan, nhưng điều thực sự chạm đến trái tim mỗi người lại là câu chuyện của những con người đã làm nên lịch sử ấy.
- Nêu vấn đề: Ý kiến "Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử" đã khẳng định giá trị cảm xúc sâu sắc của con người trong dòng chảy lịch sử.
- Thân bài:
- Giải thích:
- Bài giảng lịch sử: Là những sự kiện, số liệu, diễn biến được trình bày một cách khách quan, mang tính thông tin, kiến thức.
- Người làm nên lịch sử: Là những nhân vật lịch sử (vĩ nhân) và cả những con người bình thường (anh hùng dân tộc, chiến sĩ, người dân lao động) đã sống, chiến đấu, cống hiến, hy sinh để tạo nên các sự kiện lịch sử.
- Ý kiến khẳng định: Con người mới là yếu tố cảm động nhất, vì họ gắn liền với cảm xúc, sự hy sinh, nghị lực sống; con người là linh hồn, là thước đo chiều sâu của lịch sử.
- Bàn luận (Vì sao xúc động hơn):
- Bài giảng khô khan, mang tính thông tin: Dễ tạo cảm giác xa cách, thiếu cảm xúc, dễ bị quên lãng.
- Con người là hiện thân của cảm xúc, số phận:
- Sự hy sinh, cống hiến: Nỗi đau, mất mát của người đi trước, lòng yêu nước, sự kiênalo
- Mở đầu: Dẫn dắt từ văn bản đọc hiểu (ví dụ, từ "Đất nước là nơi ta sinh ra và lớn lên", "Đất nước là máu xương cha ông",...) để giới thiệu hình tượng đất nước đa diện.
- Thân bài (Phân tích):
- Đất nước bình dị, gắn liền với cuộc sống: Đất nước hiện lên qua những hình ảnh gần gũi, thân thương (những con đường, bến sông, cánh đồng, xóm làng) - như một phần máu thịt, gắn bó với mỗi con người, thể hiện tình cảm gắn bó, yêu thương quê hương.
- Đất nước kiên cường, bất khuất: Qua những gian lao, hy sinh (xương máu cha ông, chiến tranh, mất mát), hình tượng đất nước hiện lên với sức sống mãnh liệt, tinh thần đoàn kết, ý chí bảo vệ Tổ quốc, thể hiện niềm tự hào dân tộc.
- Đất nước trong chiều sâu văn hóa, con người: Đất nước còn là vẻ đẹp tâm hồn, tình người (nhân ái, bao dung), là truyền thống dân tộc được lưu giữ, là sự tiếp nối của các thế hệ, là cảm giác "mình đi đâu/ cũng thấy // Đất nước mình đẹp thế" (Nguyễn Khoa Điềm).
- Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của hình tượng đất nước: là nguồn cội, là lẽ sống, là động lực tinh thần, khơi dậy lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm của mỗi công dân đối với sự phát triển của quê hương.
Câu 2: Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) Đề bài: Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.
- Mở bài:
- Dẫn dắt: Lịch sử thường được ghi lại bằng những trang sách, bài giảng khô khan, nhưng điều thực sự chạm đến trái tim mỗi người lại là câu chuyện của những con người đã làm nên lịch sử ấy.
- Nêu vấn đề: Ý kiến "Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử" đã khẳng định giá trị cảm xúc sâu sắc của con người trong dòng chảy lịch sử.
- Thân bài:
- Giải thích:
- Bài giảng lịch sử: Là những sự kiện, số liệu, diễn biến được trình bày một cách khách quan, mang tính thông tin, kiến thức.
- Người làm nên lịch sử: Là những nhân vật lịch sử (vĩ nhân) và cả những con người bình thường (anh hùng dân tộc, chiến sĩ, người dân lao động) đã sống, chiến đấu, cống hiến, hy sinh để tạo nên các sự kiện lịch sử.
- Ý kiến khẳng định: Con người mới là yếu tố cảm động nhất, vì họ gắn liền với cảm xúc, sự hy sinh, nghị lực sống; con người là linh hồn, là thước đo chiều sâu của lịch sử.
- Bàn luận (Vì sao xúc động hơn):
- Bài giảng khô khan, mang tính thông tin: Dễ tạo cảm giác xa cách, thiếu cảm xúc, dễ bị quên lãng.
- Con người là hiện thân của cảm xúc, số phận:
- Sự hy sinh, cống hiến: Nỗi đau, mất mát của người đi trước, lòng yêu nước, sự kiên
- Mở đầu: Dẫn dắt từ văn bản đọc hiểu (ví dụ, từ "Đất nước là nơi ta sinh ra và lớn lên", "Đất nước là máu xương cha ông",...) để giới thiệu hình tượng đất nước đa diện.
- Thân bài (Phân tích):
- Đất nước bình dị, gắn liền với cuộc sống: Đất nước hiện lên qua những hình ảnh gần gũi, thân thương (những con đường, bến sông, cánh đồng, xóm làng) - như một phần máu thịt, gắn bó với mỗi con người, thể hiện tình cảm gắn bó, yêu thương quê hương.
- Đất nước kiên cường, bất khuất: Qua những gian lao, hy sinh (xương máu cha ông, chiến tranh, mất mát), hình tượng đất nước hiện lên với sức sống mãnh liệt, tinh thần đoàn kết, ý chí bảo vệ Tổ quốc, thể hiện niềm tự hào dân tộc.
- Đất nước trong chiều sâu văn hóa, con người: Đất nước còn là vẻ đẹp tâm hồn, tình người (nhân ái, bao dung), là truyền thống dân tộc được lưu giữ, là sự tiếp nối của các thế hệ, là cảm giác "mình đi đâu/ cũng thấy // Đất nước mình đẹp thế" (Nguyễn Khoa Điềm).
- Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của hình tượng đất nước: là nguồn cội, là lẽ sống, là động lực tinh thần, khơi dậy lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm của mỗi công dân đối với sự phát triển của quê hương.
Câu 2: Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) Đề bài: Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.
- Mở bài:
- Dẫn dắt: Lịch sử thường được ghi lại bằng những trang sách, bài giảng khô khan, nhưng điều thực sự chạm đến trái tim mỗi người lại là câu chuyện của những con người đã làm nên lịch sử ấy.
- Nêu vấn đề: Ý kiến "Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử" đã khẳng định giá trị cảm xúc sâu sắc của con người trong dòng chảy lịch sử.
- Thân bài:
- Giải thích:
- Bài giảng lịch sử: Là những sự kiện, số liệu, diễn biến được trình bày một cách khách quan, mang tính thông tin, kiến thức.
- Người làm nên lịch sử: Là những nhân vật lịch sử (vĩ nhân) và cả những con người bình thường (anh hùng dân tộc, chiến sĩ, người dân lao động) đã sống, chiến đấu, cống hiến, hy sinh để tạo nên các sự kiện lịch sử.
- Ý kiến khẳng định: Con người mới là yếu tố cảm động nhất, vì họ gắn liền với cảm xúc, sự hy sinh, nghị lực sống; con người là linh hồn, là thước đo chiều sâu của lịch sử.
- Bàn luận (Vì sao xúc động hơn):
- Bài giảng khô khan, mang tính thông tin: Dễ tạo cảm giác xa cách, thiếu cảm xúc, dễ bị quên lãng.
- Con người là hiện thân của cảm xúc, số phận:
- Sự hy sinh, cống hiến: Nỗi đau, mất mát của người đi trước, lòng yêu nước, sự kiên
- Mở đầu: Dẫn dắt từ văn bản đọc hiểu (ví dụ, từ "Đất nước là nơi ta sinh ra và lớn lên", "Đất nước là máu xương cha ông",...) để giới thiệu hình tượng đất nước đa diện.
- Thân bài (Phân tích):
- Đất nước bình dị, gắn liền với cuộc sống: Đất nước hiện lên qua những hình ảnh gần gũi, thân thương (những con đường, bến sông, cánh đồng, xóm làng) - như một phần máu thịt, gắn bó với mỗi con người, thể hiện tình cảm gắn bó, yêu thương quê hương.
- Đất nước kiên cường, bất khuất: Qua những gian lao, hy sinh (xương máu cha ông, chiến tranh, mất mát), hình tượng đất nước hiện lên với sức sống mãnh liệt, tinh thần đoàn kết, ý chí bảo vệ Tổ quốc, thể hiện niềm tự hào dân tộc.
- Đất nước trong chiều sâu văn hóa, con người: Đất nước còn là vẻ đẹp tâm hồn, tình người (nhân ái, bao dung), là truyền thống dân tộc được lưu giữ, là sự tiếp nối của các thế hệ, là cảm giác "mình đi đâu/ cũng thấy // Đất nước mình đẹp thế" (Nguyễn Khoa Điềm).
- Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của hình tượng đất nước: là nguồn cội, là lẽ sống, là động lực tinh thần, khơi dậy lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm của mỗi công dân đối với sự phát triển của quê hương.
Câu 2: Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) Đề bài: Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.
- Mở bài:
- Dẫn dắt: Lịch sử thường được ghi lại bằng những trang sách, bài giảng khô khan, nhưng điều thực sự chạm đến trái tim mỗi người lại là câu chuyện của những con người đã làm nên lịch sử ấy.
- Nêu vấn đề: Ý kiến "Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử" đã khẳng định giá trị cảm xúc sâu sắc của con người trong dòng chảy lịch sử.
- Thân bài:
- Giải thích:
- Bài giảng lịch sử: Là những sự kiện, số liệu, diễn biến được trình bày một cách khách quan, mang tính thông tin, kiến thức.
- Người làm nên lịch sử: Là những nhân vật lịch sử (vĩ nhân) và cả những con người bình thường (anh hùng dân tộc, chiến sĩ, người dân lao động) đã sống, chiến đấu, cống hiến, hy sinh để tạo nên các sự kiện lịch sử.
- Ý kiến khẳng định: Con người mới là yếu tố cảm động nhất, vì họ gắn liền với cảm xúc, sự hy sinh, nghị lực sống; con người là linh hồn, là thước đo chiều sâu của lịch sử.
- Bàn luận (Vì sao xúc động hơn):
- Bài giảng khô khan, mang tính thông tin: Dễ tạo cảm giác xa cách, thiếu cảm xúc, dễ bị quên lãng.
- Con người là hiện thân của cảm xúc, số phận:
- Sự hy sinh, cống hiến: Nỗi đau, mất mát của người đi trước, lòng yêu nước, sự kiên
- Mở đầu: Dẫn dắt từ văn bản đọc hiểu (ví dụ, từ "Đất nước là nơi ta sinh ra và lớn lên", "Đất nước là máu xương cha ông",...) để giới thiệu hình tượng đất nước đa diện.
- Thân bài (Phân tích):
- Đất nước bình dị, gắn liền với cuộc sống: Đất nước hiện lên qua những hình ảnh gần gũi, thân thương (những con đường, bến sông, cánh đồng, xóm làng) - như một phần máu thịt, gắn bó với mỗi con người, thể hiện tình cảm gắn bó, yêu thương quê hương.
- Đất nước kiên cường, bất khuất: Qua những gian lao, hy sinh (xương máu cha ông, chiến tranh, mất mát), hình tượng đất nước hiện lên với sức sống mãnh liệt, tinh thần đoàn kết, ý chí bảo vệ Tổ quốc, thể hiện niềm tự hào dân tộc.
- Đất nước trong chiều sâu văn hóa, con người: Đất nước còn là vẻ đẹp tâm hồn, tình người (nhân ái, bao dung), là truyền thống dân tộc được lưu giữ, là sự tiếp nối của các thế hệ, là cảm giác "mình đi đâu/ cũng thấy // Đất nước mình đẹp thế" (Nguyễn Khoa Điềm).
- Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của hình tượng đất nước: là nguồn cội, là lẽ sống, là động lực tinh thần, khơi dậy lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm của mỗi công dân đối với sự phát triển của quê hương.
Câu 2: Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) Đề bài: Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.
- Mở bài:
- Dẫn dắt: Lịch sử thường được ghi lại bằng những trang sách, bài giảng khô khan, nhưng điều thực sự chạm đến trái tim mỗi người lại là câu chuyện của những con người đã làm nên lịch sử ấy.
- Nêu vấn đề: Ý kiến "Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử" đã khẳng định giá trị cảm xúc sâu sắc của con người trong dòng chảy lịch sử.
- Thân bài:
- Giải thích:
- Bài giảng lịch sử: Là những sự kiện, số liệu, diễn biến được trình bày một cách khách quan, mang tính thông tin, kiến thức.
- Người làm nên lịch sử: Là những nhân vật lịch sử (vĩ nhân) và cả những con người bình thường (anh hùng dân tộc, chiến sĩ, người dân lao động) đã sống, chiến đấu, cống hiến, hy sinh để tạo nên các sự kiện lịch sử.
- Ý kiến khẳng định: Con người mới là yếu tố cảm động nhất, vì họ gắn liền với cảm xúc, sự hy sinh, nghị lực sống; con người là linh hồn, là thước đo chiều sâu của lịch sử.
- Bàn luận (Vì sao xúc động hơn):
- Bài giảng khô khan, mang tính thông tin: Dễ tạo cảm giác xa cách, thiếu cảm xúc, dễ bị quên lãng.
- Con người là hiện thân của cảm xúc, số phận:
- Sự hy sinh, cống hiến: Nỗi đau, mất mát của người đi trước, lòng yêu nước, sự kiên
Câu 1. Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ)
Những giấc mơ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cuộc sống con người. Giấc mơ không chỉ là khát vọng hướng tới tương lai mà còn là nguồn động lực giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách. Khi có giấc mơ, con người biết mình sống vì điều gì, từ đó nỗ lực hoàn thiện bản thân và không ngừng vươn lên. Những giấc mơ đẹp còn nuôi dưỡng đời sống tinh thần, làm cho tâm hồn con người trở nên phong phú, nhân ái và giàu cảm xúc hơn. Ngược lại, khi con người đánh mất giấc mơ, họ dễ rơi vào trạng thái trống rỗng, hoang mang, sống chỉ để tồn tại. Trong xã hội hiện đại, dù vật chất ngày càng đầy đủ, nhưng nếu thiếu những giấc mơ, con người vẫn trở nên nghèo nàn về tinh thần. Vì vậy, mỗi người cần biết trân trọng, gìn giữ và nuôi dưỡng những giấc mơ của mình để sống một cuộc đời có ý nghĩa.
Câu 2. Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ)
Phân tích bài thơ Tương tư – Nguyễn Bính
Nguyễn Bính là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, nổi tiếng với hồn thơ chân quê, mộc mạc mà đằm thắm. Tương tư là một trong những bài thơ đặc sắc nhất của ông, thể hiện nỗi nhớ thương da diết, chân thành của người trai làng trong tình yêu.
Mở đầu bài thơ, tác giả đã khéo léo diễn tả nỗi tương tư bằng không gian làng quê quen thuộc:
“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.”
Hai thôn cùng một làng nhưng lại trở thành biểu tượng cho khoảng cách trong tình yêu. Cách nói dân gian “chín nhớ mười mong” làm nổi bật nỗi nhớ khắc khoải, đầy ám ảnh.
Nỗi tương tư ấy được ví như một căn bệnh:
“Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.”
So sánh độc đáo, hóm hỉnh nhưng cũng rất sâu sắc, cho thấy tình yêu là điều tự nhiên, không thể tránh khỏi, khiến con người day dứt, thao thức.
Thời gian trôi qua càng làm nỗi nhớ thêm da diết:
“Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.”
Hình ảnh lá xanh hóa vàng vừa gợi sự trôi chảy của thời gian, vừa thể hiện sự mòn mỏi, chờ đợi đến héo hon của nhân vật trữ tình.
Dù khoảng cách chỉ “cách một đầu đình”, nhưng tình yêu vẫn xa vời:
“Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…”
Khoảng cách địa lý gần nhưng khoảng cách tình cảm lại mênh mông, cho thấy sự rụt rè, e ấp rất đặc trưng của tình yêu làng quê xưa.
Khép lại bài thơ là hình ảnh mang đậm màu sắc dân gian:
“Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”
Cau – giầu trở thành biểu tượng cho đôi lứa, cho khát vọng gắn bó bền chặt, kín đáo mà tha thiết.
Tóm lại, Tương tư là bài thơ giàu cảm xúc, mang vẻ đẹp mộc mạc, chân thành của tình yêu thôn quê. Qua đó, Nguyễn Bính đã khắc họa thành công một tâm hồn yêu thương sâu nặng, góp phần làm nên nét riêng không thể trộn lẫn trong thơ ca Việt Nam.