NGUYỄN ĐẮC TIẾN
Giới thiệu về bản thân
Ảnh Ứng dụng Nghiên cứu chuyên sâu Sức khỏe Xem các gói dịch vụ và mức giá Cài đặt Trợ giúp
Nhận phản hồi phù hợp với nhu cầu của bạn
Đăng nhập để nhận câu trả lời dựa trên các đoạn chat đã lưu, cũng như tạo hình ảnh và tải lên tệp.
Đăng nhập ChatGPT Đăng nhập Đăng ký miễn phíBạn đã nói:
Lớp 12Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo giữa kì II - Đề số 2
olm
Bài GV giao
ND
Đề tham khảo giữa kì số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (761)
(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
TỰ MIỄN
(Tự khuyên mình)
Phiên âm:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,
Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.
Dịch nghĩa:
Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,
Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;
Tai ương rèn luyện ta,
Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.
Dịch thơ:
Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 380-381)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2 (0.5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Câu 4 (1.0 điểm): Tai ương vốn là những điều tiêu cực, song trong bài thơ này, đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa gì?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm cho từng câu:
Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (kết hợp nghị luận).
Câu 2 (0.5 điểm):
Bài thơ được viết theo thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt (Đường luật).
Câu 3 (1.0 điểm):
Biện pháp tu từ: Phép đối (đối lập)
- “đông hàn” ↔ “xuân noãn”
- “tiều tụy cảnh” ↔ “huy hoàng”
Tác dụng:
Làm nổi bật quy luật tự nhiên và cuộc sống: phải có khó khăn, gian khổ (mùa đông) mới có thành công, tươi sáng (mùa xuân). Qua đó nhấn mạnh ý nghĩa của nghịch cảnh.
Câu 4 (1.0 điểm):
Trong bài thơ, tai ương không chỉ là điều tiêu cực mà còn:
- Là thử thách giúp con người rèn luyện bản thân
- Giúp tinh thần trở nên mạnh mẽ, kiên cường hơn
→ Tai ương trở thành động lực để trưởng thành và phát triển.
Câu 5 (1.0 điểm):
Bài học ý nghĩa nhất:
Con người cần biết vượt qua khó khăn, thử thách, xem đó là cơ hội để rèn luyện ý chí và hoàn thiện bản thân; không nên bi quan trước nghịch cảnh mà phải giữ tinh thần lạc quan, kiên cường.
Nếu bạn muốn, mình có thể viết luôn đoạn văn hoàn chỉnh (5–7 dòng) cho câu 5 để bạn chép vào bài nhé 👍
Bạn đã nói:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh.Câu 2 (4.0 điểm): Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của những thử thách trong cuộc sống.
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ cho cả hai câu:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ
Bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh là một lời tự khuyên giàu ý nghĩa về thái độ sống trước khó khăn, thử thách. Mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng hình ảnh đối lập giữa “đông hàn” và “xuân noãn” để khẳng định một quy luật tất yếu của tự nhiên: không có mùa đông giá lạnh thì không có mùa xuân ấm áp, huy hoàng. Từ quy luật ấy, Người liên hệ đến cuộc sống con người: những gian truân, tai ương chính là môi trường rèn luyện ý chí và tinh thần. Hai câu thơ sau thể hiện rõ quan niệm sống tích cực: tai ương không làm con người gục ngã mà ngược lại còn giúp tinh thần thêm “khẩn trương”, mạnh mẽ hơn. Bài thơ ngắn gọn nhưng hàm chứa triết lí sâu sắc: cần biết nhìn nhận khó khăn như một cơ hội để hoàn thiện bản thân. Qua đó, ta thấy được bản lĩnh kiên cường, tinh thần lạc quan và ý chí vượt lên nghịch cảnh của Hồ Chí Minh, đồng thời rút ra bài học quý giá cho mỗi người trong cuộc sống.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn khoảng 600 chữ
Trong hành trình sống của mỗi con người, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Có người e ngại, né tránh khó khăn, nhưng cũng có người dũng cảm đối mặt và trưởng thành từ chính những thử thách ấy. Thực tế cho thấy, thử thách không chỉ là trở ngại mà còn mang ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân.
Trước hết, thử thách là môi trường để con người rèn luyện ý chí và bản lĩnh. Khi đối diện với khó khăn, con người buộc phải nỗ lực, kiên trì và tìm cách vượt qua. Chính quá trình ấy giúp ta trở nên mạnh mẽ, tự tin hơn. Nếu cuộc sống chỉ toàn thuận lợi, con người sẽ dễ trở nên yếu đuối, thiếu khả năng ứng phó với biến cố. Giống như vàng phải qua lửa mới tinh luyện, con người cũng cần thử thách để hoàn thiện bản thân.
Bên cạnh đó, thử thách còn giúp con người nhận ra giá trị của thành công. Những thành quả đạt được sau nỗ lực vượt khó luôn mang ý nghĩa sâu sắc và đáng trân trọng hơn nhiều so với những điều có được một cách dễ dàng. Khi trải qua gian nan, ta học được cách kiên nhẫn, biết trân trọng công sức của bản thân và của người khác. Nhờ đó, cuộc sống trở nên ý nghĩa và đáng sống hơn.
Không chỉ vậy, thử thách còn mở ra cơ hội khám phá khả năng tiềm ẩn của con người. Nhiều người chỉ nhận ra sức mạnh và năng lực của mình khi bị đặt vào hoàn cảnh khó khăn. Chính nghịch cảnh đã giúp họ bứt phá, vượt qua giới hạn của bản thân. Trong lịch sử và cuộc sống, không ít tấm gương thành công đều trưởng thành từ gian khó, chứng minh rằng thử thách chính là bước đệm cho sự phát triển.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thái độ đúng đắn trước thử thách. Có người dễ dàng nản chí, buông xuôi khi gặp khó khăn, từ đó đánh mất cơ hội vươn lên. Điều quan trọng là mỗi người cần giữ vững tinh thần lạc quan, chủ động đối mặt và xem thử thách như một phần tất yếu của cuộc sống. Chỉ khi thay đổi cách nhìn nhận, ta mới có thể biến khó khăn thành động lực.
Tóm lại, thử thách giữ vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người. Đó không chỉ là phép thử của ý chí mà còn là cơ hội để mỗi người trưởng thành và hoàn thiện bản thân. Vì vậy, thay vì sợ hãi, chúng ta hãy dũng cảm đón nhận thử thách, bởi chính chúng sẽ giúp ta trở nên mạnh mẽ hơn và tiến gần hơn đến thành công.
Bạn đã nói:
TIẾC THƯƠNG SINH THÁIBước sang năm 2022, chúng ta nghe thấy và nhìn thấy biến đổi khí hậu ở mọi nơi, cả ở ngoài đời thực, cả trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật. Giữa một thế giới nơi tất cả các giọng nói - hay thậm chí là giọng hát - đều gợi nhắc về một thảm kịch toàn cầu đang cận kề, biến đổi khí hậu đã đi vào tâm thức của mọi người và tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần. Một hậu quả đáng chú ý là sự xuất hiện của hiện tượng tâm lí “tiếc thương sinh thái” (ecological grief).
Cụm từ “tiếc thương sinh thái” xuất hiện lần đầu trong một bài viết vào năm 2018 của hai nhà khoa học xã hội Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis, trong đó họ định nghĩa tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này có thể đa dạng, ví dụ như sự biến mất của các loài sinh vật hay sự thay đổi ở các cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần, song điểm chung là chúng đều do biến đổi khí hậu gây ra và đều khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân. Theo Cunsolo và Ellis, tiếc thương sinh thái là một phản ứng có thể đoán trước được, nhất là ở những cộng đồng vẫn còn sinh sống, làm việc và giữ các mối quan hệ văn hoá mật thiết với môi trường tự nhiên. Hai tác giả này đưa ra hai trường hợp cụ thể: những người Inuit ở miền Bắc Canada và những người làm nghề trồng trọt ở Australia. Lúc được hỏi về sự thay đổi môi trường chóng vánh ở nơi mình sống, cả hai cộng đồng này đều có chung những cảm xúc như nỗi thất vọng, u sầu, hay thậm chí là ý nghĩ muốn tự sát, mặc dù họ sinh sống ở hai nơi hoàn toàn khác nhau về mặt địa lí, phong tục tập quán, và còn bị ảnh hưởng bởi các loại thiên tai hoàn toàn khác nhau.
[...] Như bất kì vấn đề sức khỏe tâm thần nào khác, nỗi tiếc thương sinh thái ăn sâu vào tâm trí một người và thường xuyên đẩy họ vào trạng thái khủng hoảng hiện sinh. Cunsolo và Ellis ghi nhận câu trả lời của một người Inuit như sau: “Inuit là dân tộc băng biển. Băng biển không còn, làm sao chúng tôi còn là dân tộc băng biển được nữa?”. Và những cảm xúc như vậy thực sự cũng chẳng còn xa lạ gì nữa: khi rừng Amazon bốc cháy năm 2019, các tộc người bản địa ở Brazil như người Tenharim, người Guató và người Guarani đều đã nói rằng họ đang mất hết tất cả và khó có thể gìn giữ được truyền thống văn hoá của mình khi mà cánh rừng quê hương đang bốc cháy ngùn ngụt. [...] Có thể thấy, đối với người ở nơi “tiền tuyến” của biến đổi khí hậu - cho dù là cộng đồng địa phương hay là các nhà nghiên cứu thực địa, việc chứng kiến và cảm nhận trực tiếp hậu quả của biến đổi khí hậu đã để lại tác động tâm lí nghiêm trọng, bởi những người này đã lâu ngày gần gũi và gắn bó với môi trường đang bị hủy hoại. [...]
Tiếc thay, sau hàng thập kỉ biết đến mối nguy hại của biến đổi khí hậu, nỗi tiếc thương sinh thái đã bắt đầu ảnh hưởng tới cả người ở hậu phương. Tháng 12/2021, Caroline Hickman và cộng sự công bố một cuộc thăm dò về cảm xúc trước biến đổi khí hậu của 1,000 trẻ em và thanh thiếu niên từ mỗi quốc gia trong tổng số 10 nước Anh, Australia, Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Brazil, Hoa Kì, Nigeria, Pháp, Phần Lan và Philippines. Trong số những người được hỏi, 59% thấy “rất hoặc cực kì lo” về biến đổi khí hậu, và 45% thừa nhận rằng cảm xúc của họ về biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống thường ngày. Nỗi lo về biến đổi khí hậu và sự chấp nhận tận thế đang cận kề đều là các cảm xúc không hiếm gặp ở những người trẻ ngày nay, nhất là kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu.
(Nguyễn Bình, Báo điện tử Tia sáng, 25/1/2022)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Theo bài viết trên, hiện tượng tiếc thương sinh thái là gì?
Câu 2. Bài viết trên trình bày thông tin theo trình tự nào?
Câu 3. Tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào để cung cấp thông tin cho người đọc?
Câu 4. Anh/chị hãy nhận xét về cách tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu của tác giả trong văn bản.
Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất mà anh/chị nhận được từ bài viết trên là gì?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (840)
II. VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1. (2.0 điểm) Từ phần đọc hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng người ẩn sĩ được khắc họa qua hai bài thơ sau:
NHÀN
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến bóng cây ta hãy uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Khoa học Xã hội, 2021)
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
(Nguyễn Khuyến, NXB Hội Nhà văn, 2015)
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời đầy đủ, ngắn gọn – đúng ý cho từng phần:
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Hiện tượng “tiếc thương sinh thái” là nỗi đau buồn, mất mát của con người trước sự suy thoái của môi trường tự nhiên do biến đổi khí hậu gây ra, tương tự như cảm giác mất đi người thân.
Câu 2:
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự:
→ Giải thích khái niệm → phân tích, đưa dẫn chứng cụ thể → mở rộng vấn đề → nêu thực trạng hiện nay.
Câu 3:
Tác giả sử dụng các bằng chứng:
- Nghiên cứu khoa học của Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis
- Trường hợp thực tế: người Inuit (Canada), nông dân Australia
- Dẫn chứng sự kiện: cháy rừng Amazon 2019
- Số liệu khảo sát (Caroline Hickman, 2021 về giới trẻ nhiều quốc gia)
→ Những dẫn chứng đa dạng, xác thực, có tính thuyết phục cao.
Câu 4:
Cách tiếp cận của tác giả:
- Mới mẻ, nhân văn: tiếp cận biến đổi khí hậu từ góc độ tâm lí con người
- Không chỉ nói về thiệt hại vật chất mà còn nhấn mạnh tổn thương tinh thần
→ Giúp người đọc nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về vấn đề.
Câu 5:
Thông điệp sâu sắc nhất:
→ Con người cần ý thức rõ hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, từ đó có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống, bởi thiên nhiên không chỉ là nơi tồn tại mà còn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của chúng ta.
II. VIẾT
Câu 1 (2.0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ cấp thiết nhất của con người hiện nay. Môi trường không chỉ cung cấp tài nguyên, điều kiện sống mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người. Khi môi trường bị ô nhiễm, biến đổi khí hậu gia tăng, con người phải đối mặt với hàng loạt hậu quả nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh và cả những khủng hoảng tâm lí như “tiếc thương sinh thái”. Điều đó cho thấy thiên nhiên không hề xa lạ mà gắn bó mật thiết với đời sống của mỗi cá nhân. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chính mình. Mỗi người có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ như tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh hay nâng cao ý thức cộng đồng. Đồng thời, cần lên án những hành vi phá hoại môi trường. Chỉ khi con người sống hài hòa với thiên nhiên, chúng ta mới có thể hướng tới một tương lai bền vững và tốt đẹp hơn.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn ~600 chữ
Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, xa lánh danh lợi. Qua bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng này hiện lên vừa có điểm tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng biệt.
Trước hết, ở cả hai bài thơ, người ẩn sĩ đều lựa chọn cuộc sống hòa mình với thiên nhiên, tránh xa vòng danh lợi. Trong Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa một cuộc sống giản dị với “mai, cuốc, cần câu”, ngày ngày ung dung lao động và tận hưởng thiên nhiên. Còn ở bài thơ của Nguyễn Khuyến, không gian thu hiện lên tĩnh lặng, trong trẻo với trời cao, nước biếc, ánh trăng, tất cả tạo nên một thế giới thanh bình, yên ả. Qua đó, cả hai nhà thơ đều thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên là nơi nương náu tinh thần.
Tuy nhiên, hình tượng người ẩn sĩ ở mỗi tác giả lại mang những nét riêng. Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là một sự lựa chọn dứt khoát và chủ động. Ông tự nhận mình “dại” để đối lập với “người khôn” nơi chốn quan trường, từ đó khẳng định lối sống xa lánh danh lợi, coi phú quý chỉ là “chiêm bao”. Lối sống ấy thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và nhân cách cao đẹp của một bậc trí giả. Ngược lại, ở Nguyễn Khuyến, ẩn sĩ không hoàn toàn là sự an nhiên tuyệt đối. Đằng sau bức tranh thu tĩnh lặng là một nỗi niềm trăn trở, một sự “thẹn với ông Đào” – tức Đào Tiềm. Điều đó cho thấy nhà thơ vẫn còn nặng lòng với thời cuộc, chưa thể hoàn toàn dứt bỏ thế sự.
Ngoài ra, giọng điệu hai bài thơ cũng có sự khác biệt. Nhàn mang giọng điệu nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, thể hiện quan niệm sống rõ ràng. Trong khi đó, bài thơ của Nguyễn Khuyến lại mang nét trầm lắng, suy tư, pha chút day dứt. Điều này góp phần làm nổi bật hai kiểu ẩn sĩ: một người ung dung, tự tại; một người ẩn dật mà vẫn nặng lòng với đời.
Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp thanh cao, gắn bó với thiên nhiên và xa lánh danh lợi. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại gửi gắm vào đó những tâm tư riêng, phản ánh hoàn cảnh và cá tính khác nhau. Điều này không chỉ làm phong phú hình tượng ẩn sĩ trong văn học mà còn giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về tâm hồn và nhân cách của các nhà thơ trung đại Việt Nam.
Nhận được phản hồi thông minh hơn, tải lên tệp cũng như hình ảnh và nhiều lợi ích khác. Đăng nhập Đăng ký miễn phíChúng tôi sử dụng cookie
Chúng tôi sử dụng cookie để hỗ trợ trang web này hoạt động, hiểu rõ cách dịch vụ được sử dụng và hỗ trợ các hoạt động tiếp thị. Vui lòng truy cập mục Quản lý cookie để thay đổi tùy chọn bất cứ lúc nào. Xem Chính sách cookie của chúng tôi để biết thêm thông tin.
Quản lý cookie Từ chối cookie không thiết yếu Chấp nhận tất cảẢnh Ứng dụng Nghiên cứu chuyên sâu Sức khỏe Xem các gói dịch vụ và mức giá Cài đặt Trợ giúp
Nhận phản hồi phù hợp với nhu cầu của bạn
Đăng nhập để nhận câu trả lời dựa trên các đoạn chat đã lưu, cũng như tạo hình ảnh và tải lên tệp.
Đăng nhập ChatGPT Đăng nhập Đăng ký miễn phíBạn đã nói:
Lớp 12Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo giữa kì II - Đề số 2
olm
Bài GV giao
ND
Đề tham khảo giữa kì số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (761)
(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
TỰ MIỄN
(Tự khuyên mình)
Phiên âm:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,
Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.
Dịch nghĩa:
Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,
Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;
Tai ương rèn luyện ta,
Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.
Dịch thơ:
Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 380-381)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2 (0.5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Câu 4 (1.0 điểm): Tai ương vốn là những điều tiêu cực, song trong bài thơ này, đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa gì?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm cho từng câu:
Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (kết hợp nghị luận).
Câu 2 (0.5 điểm):
Bài thơ được viết theo thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt (Đường luật).
Câu 3 (1.0 điểm):
Biện pháp tu từ: Phép đối (đối lập)
- “đông hàn” ↔ “xuân noãn”
- “tiều tụy cảnh” ↔ “huy hoàng”
Tác dụng:
Làm nổi bật quy luật tự nhiên và cuộc sống: phải có khó khăn, gian khổ (mùa đông) mới có thành công, tươi sáng (mùa xuân). Qua đó nhấn mạnh ý nghĩa của nghịch cảnh.
Câu 4 (1.0 điểm):
Trong bài thơ, tai ương không chỉ là điều tiêu cực mà còn:
- Là thử thách giúp con người rèn luyện bản thân
- Giúp tinh thần trở nên mạnh mẽ, kiên cường hơn
→ Tai ương trở thành động lực để trưởng thành và phát triển.
Câu 5 (1.0 điểm):
Bài học ý nghĩa nhất:
Con người cần biết vượt qua khó khăn, thử thách, xem đó là cơ hội để rèn luyện ý chí và hoàn thiện bản thân; không nên bi quan trước nghịch cảnh mà phải giữ tinh thần lạc quan, kiên cường.
Nếu bạn muốn, mình có thể viết luôn đoạn văn hoàn chỉnh (5–7 dòng) cho câu 5 để bạn chép vào bài nhé 👍
Bạn đã nói:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh.Câu 2 (4.0 điểm): Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của những thử thách trong cuộc sống.
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ cho cả hai câu:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ
Bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh là một lời tự khuyên giàu ý nghĩa về thái độ sống trước khó khăn, thử thách. Mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng hình ảnh đối lập giữa “đông hàn” và “xuân noãn” để khẳng định một quy luật tất yếu của tự nhiên: không có mùa đông giá lạnh thì không có mùa xuân ấm áp, huy hoàng. Từ quy luật ấy, Người liên hệ đến cuộc sống con người: những gian truân, tai ương chính là môi trường rèn luyện ý chí và tinh thần. Hai câu thơ sau thể hiện rõ quan niệm sống tích cực: tai ương không làm con người gục ngã mà ngược lại còn giúp tinh thần thêm “khẩn trương”, mạnh mẽ hơn. Bài thơ ngắn gọn nhưng hàm chứa triết lí sâu sắc: cần biết nhìn nhận khó khăn như một cơ hội để hoàn thiện bản thân. Qua đó, ta thấy được bản lĩnh kiên cường, tinh thần lạc quan và ý chí vượt lên nghịch cảnh của Hồ Chí Minh, đồng thời rút ra bài học quý giá cho mỗi người trong cuộc sống.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn khoảng 600 chữ
Trong hành trình sống của mỗi con người, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Có người e ngại, né tránh khó khăn, nhưng cũng có người dũng cảm đối mặt và trưởng thành từ chính những thử thách ấy. Thực tế cho thấy, thử thách không chỉ là trở ngại mà còn mang ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân.
Trước hết, thử thách là môi trường để con người rèn luyện ý chí và bản lĩnh. Khi đối diện với khó khăn, con người buộc phải nỗ lực, kiên trì và tìm cách vượt qua. Chính quá trình ấy giúp ta trở nên mạnh mẽ, tự tin hơn. Nếu cuộc sống chỉ toàn thuận lợi, con người sẽ dễ trở nên yếu đuối, thiếu khả năng ứng phó với biến cố. Giống như vàng phải qua lửa mới tinh luyện, con người cũng cần thử thách để hoàn thiện bản thân.
Bên cạnh đó, thử thách còn giúp con người nhận ra giá trị của thành công. Những thành quả đạt được sau nỗ lực vượt khó luôn mang ý nghĩa sâu sắc và đáng trân trọng hơn nhiều so với những điều có được một cách dễ dàng. Khi trải qua gian nan, ta học được cách kiên nhẫn, biết trân trọng công sức của bản thân và của người khác. Nhờ đó, cuộc sống trở nên ý nghĩa và đáng sống hơn.
Không chỉ vậy, thử thách còn mở ra cơ hội khám phá khả năng tiềm ẩn của con người. Nhiều người chỉ nhận ra sức mạnh và năng lực của mình khi bị đặt vào hoàn cảnh khó khăn. Chính nghịch cảnh đã giúp họ bứt phá, vượt qua giới hạn của bản thân. Trong lịch sử và cuộc sống, không ít tấm gương thành công đều trưởng thành từ gian khó, chứng minh rằng thử thách chính là bước đệm cho sự phát triển.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thái độ đúng đắn trước thử thách. Có người dễ dàng nản chí, buông xuôi khi gặp khó khăn, từ đó đánh mất cơ hội vươn lên. Điều quan trọng là mỗi người cần giữ vững tinh thần lạc quan, chủ động đối mặt và xem thử thách như một phần tất yếu của cuộc sống. Chỉ khi thay đổi cách nhìn nhận, ta mới có thể biến khó khăn thành động lực.
Tóm lại, thử thách giữ vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người. Đó không chỉ là phép thử của ý chí mà còn là cơ hội để mỗi người trưởng thành và hoàn thiện bản thân. Vì vậy, thay vì sợ hãi, chúng ta hãy dũng cảm đón nhận thử thách, bởi chính chúng sẽ giúp ta trở nên mạnh mẽ hơn và tiến gần hơn đến thành công.
Bạn đã nói:
TIẾC THƯƠNG SINH THÁIBước sang năm 2022, chúng ta nghe thấy và nhìn thấy biến đổi khí hậu ở mọi nơi, cả ở ngoài đời thực, cả trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật. Giữa một thế giới nơi tất cả các giọng nói - hay thậm chí là giọng hát - đều gợi nhắc về một thảm kịch toàn cầu đang cận kề, biến đổi khí hậu đã đi vào tâm thức của mọi người và tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần. Một hậu quả đáng chú ý là sự xuất hiện của hiện tượng tâm lí “tiếc thương sinh thái” (ecological grief).
Cụm từ “tiếc thương sinh thái” xuất hiện lần đầu trong một bài viết vào năm 2018 của hai nhà khoa học xã hội Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis, trong đó họ định nghĩa tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này có thể đa dạng, ví dụ như sự biến mất của các loài sinh vật hay sự thay đổi ở các cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần, song điểm chung là chúng đều do biến đổi khí hậu gây ra và đều khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân. Theo Cunsolo và Ellis, tiếc thương sinh thái là một phản ứng có thể đoán trước được, nhất là ở những cộng đồng vẫn còn sinh sống, làm việc và giữ các mối quan hệ văn hoá mật thiết với môi trường tự nhiên. Hai tác giả này đưa ra hai trường hợp cụ thể: những người Inuit ở miền Bắc Canada và những người làm nghề trồng trọt ở Australia. Lúc được hỏi về sự thay đổi môi trường chóng vánh ở nơi mình sống, cả hai cộng đồng này đều có chung những cảm xúc như nỗi thất vọng, u sầu, hay thậm chí là ý nghĩ muốn tự sát, mặc dù họ sinh sống ở hai nơi hoàn toàn khác nhau về mặt địa lí, phong tục tập quán, và còn bị ảnh hưởng bởi các loại thiên tai hoàn toàn khác nhau.
[...] Như bất kì vấn đề sức khỏe tâm thần nào khác, nỗi tiếc thương sinh thái ăn sâu vào tâm trí một người và thường xuyên đẩy họ vào trạng thái khủng hoảng hiện sinh. Cunsolo và Ellis ghi nhận câu trả lời của một người Inuit như sau: “Inuit là dân tộc băng biển. Băng biển không còn, làm sao chúng tôi còn là dân tộc băng biển được nữa?”. Và những cảm xúc như vậy thực sự cũng chẳng còn xa lạ gì nữa: khi rừng Amazon bốc cháy năm 2019, các tộc người bản địa ở Brazil như người Tenharim, người Guató và người Guarani đều đã nói rằng họ đang mất hết tất cả và khó có thể gìn giữ được truyền thống văn hoá của mình khi mà cánh rừng quê hương đang bốc cháy ngùn ngụt. [...] Có thể thấy, đối với người ở nơi “tiền tuyến” của biến đổi khí hậu - cho dù là cộng đồng địa phương hay là các nhà nghiên cứu thực địa, việc chứng kiến và cảm nhận trực tiếp hậu quả của biến đổi khí hậu đã để lại tác động tâm lí nghiêm trọng, bởi những người này đã lâu ngày gần gũi và gắn bó với môi trường đang bị hủy hoại. [...]
Tiếc thay, sau hàng thập kỉ biết đến mối nguy hại của biến đổi khí hậu, nỗi tiếc thương sinh thái đã bắt đầu ảnh hưởng tới cả người ở hậu phương. Tháng 12/2021, Caroline Hickman và cộng sự công bố một cuộc thăm dò về cảm xúc trước biến đổi khí hậu của 1,000 trẻ em và thanh thiếu niên từ mỗi quốc gia trong tổng số 10 nước Anh, Australia, Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Brazil, Hoa Kì, Nigeria, Pháp, Phần Lan và Philippines. Trong số những người được hỏi, 59% thấy “rất hoặc cực kì lo” về biến đổi khí hậu, và 45% thừa nhận rằng cảm xúc của họ về biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống thường ngày. Nỗi lo về biến đổi khí hậu và sự chấp nhận tận thế đang cận kề đều là các cảm xúc không hiếm gặp ở những người trẻ ngày nay, nhất là kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu.
(Nguyễn Bình, Báo điện tử Tia sáng, 25/1/2022)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Theo bài viết trên, hiện tượng tiếc thương sinh thái là gì?
Câu 2. Bài viết trên trình bày thông tin theo trình tự nào?
Câu 3. Tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào để cung cấp thông tin cho người đọc?
Câu 4. Anh/chị hãy nhận xét về cách tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu của tác giả trong văn bản.
Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất mà anh/chị nhận được từ bài viết trên là gì?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (840)
II. VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1. (2.0 điểm) Từ phần đọc hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng người ẩn sĩ được khắc họa qua hai bài thơ sau:
NHÀN
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến bóng cây ta hãy uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Khoa học Xã hội, 2021)
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
(Nguyễn Khuyến, NXB Hội Nhà văn, 2015)
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời đầy đủ, ngắn gọn – đúng ý cho từng phần:
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Hiện tượng “tiếc thương sinh thái” là nỗi đau buồn, mất mát của con người trước sự suy thoái của môi trường tự nhiên do biến đổi khí hậu gây ra, tương tự như cảm giác mất đi người thân.
Câu 2:
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự:
→ Giải thích khái niệm → phân tích, đưa dẫn chứng cụ thể → mở rộng vấn đề → nêu thực trạng hiện nay.
Câu 3:
Tác giả sử dụng các bằng chứng:
- Nghiên cứu khoa học của Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis
- Trường hợp thực tế: người Inuit (Canada), nông dân Australia
- Dẫn chứng sự kiện: cháy rừng Amazon 2019
- Số liệu khảo sát (Caroline Hickman, 2021 về giới trẻ nhiều quốc gia)
→ Những dẫn chứng đa dạng, xác thực, có tính thuyết phục cao.
Câu 4:
Cách tiếp cận của tác giả:
- Mới mẻ, nhân văn: tiếp cận biến đổi khí hậu từ góc độ tâm lí con người
- Không chỉ nói về thiệt hại vật chất mà còn nhấn mạnh tổn thương tinh thần
→ Giúp người đọc nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về vấn đề.
Câu 5:
Thông điệp sâu sắc nhất:
→ Con người cần ý thức rõ hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, từ đó có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống, bởi thiên nhiên không chỉ là nơi tồn tại mà còn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của chúng ta.
II. VIẾT
Câu 1 (2.0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ cấp thiết nhất của con người hiện nay. Môi trường không chỉ cung cấp tài nguyên, điều kiện sống mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người. Khi môi trường bị ô nhiễm, biến đổi khí hậu gia tăng, con người phải đối mặt với hàng loạt hậu quả nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh và cả những khủng hoảng tâm lí như “tiếc thương sinh thái”. Điều đó cho thấy thiên nhiên không hề xa lạ mà gắn bó mật thiết với đời sống của mỗi cá nhân. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chính mình. Mỗi người có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ như tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh hay nâng cao ý thức cộng đồng. Đồng thời, cần lên án những hành vi phá hoại môi trường. Chỉ khi con người sống hài hòa với thiên nhiên, chúng ta mới có thể hướng tới một tương lai bền vững và tốt đẹp hơn.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn ~600 chữ
Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, xa lánh danh lợi. Qua bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng này hiện lên vừa có điểm tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng biệt.
Trước hết, ở cả hai bài thơ, người ẩn sĩ đều lựa chọn cuộc sống hòa mình với thiên nhiên, tránh xa vòng danh lợi. Trong Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa một cuộc sống giản dị với “mai, cuốc, cần câu”, ngày ngày ung dung lao động và tận hưởng thiên nhiên. Còn ở bài thơ của Nguyễn Khuyến, không gian thu hiện lên tĩnh lặng, trong trẻo với trời cao, nước biếc, ánh trăng, tất cả tạo nên một thế giới thanh bình, yên ả. Qua đó, cả hai nhà thơ đều thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên là nơi nương náu tinh thần.
Tuy nhiên, hình tượng người ẩn sĩ ở mỗi tác giả lại mang những nét riêng. Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là một sự lựa chọn dứt khoát và chủ động. Ông tự nhận mình “dại” để đối lập với “người khôn” nơi chốn quan trường, từ đó khẳng định lối sống xa lánh danh lợi, coi phú quý chỉ là “chiêm bao”. Lối sống ấy thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và nhân cách cao đẹp của một bậc trí giả. Ngược lại, ở Nguyễn Khuyến, ẩn sĩ không hoàn toàn là sự an nhiên tuyệt đối. Đằng sau bức tranh thu tĩnh lặng là một nỗi niềm trăn trở, một sự “thẹn với ông Đào” – tức Đào Tiềm. Điều đó cho thấy nhà thơ vẫn còn nặng lòng với thời cuộc, chưa thể hoàn toàn dứt bỏ thế sự.
Ngoài ra, giọng điệu hai bài thơ cũng có sự khác biệt. Nhàn mang giọng điệu nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, thể hiện quan niệm sống rõ ràng. Trong khi đó, bài thơ của Nguyễn Khuyến lại mang nét trầm lắng, suy tư, pha chút day dứt. Điều này góp phần làm nổi bật hai kiểu ẩn sĩ: một người ung dung, tự tại; một người ẩn dật mà vẫn nặng lòng với đời.
Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp thanh cao, gắn bó với thiên nhiên và xa lánh danh lợi. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại gửi gắm vào đó những tâm tư riêng, phản ánh hoàn cảnh và cá tính khác nhau. Điều này không chỉ làm phong phú hình tượng ẩn sĩ trong văn học mà còn giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về tâm hồn và nhân cách của các nhà thơ trung đại Việt Nam.
Nhận được phản hồi thông minh hơn, tải lên tệp cũng như hình ảnh và nhiều lợi ích khác. Đăng nhập Đăng ký miễn phíChúng tôi sử dụng cookie
Chúng tôi sử dụng cookie để hỗ trợ trang web này hoạt động, hiểu rõ cách dịch vụ được sử dụng và hỗ trợ các hoạt động tiếp thị. Vui lòng truy cập mục Quản lý cookie để thay đổi tùy chọn bất cứ lúc nào. Xem Chính sách cookie của chúng tôi để biết thêm thông tin.
Quản lý cookie Từ chối cookie không thiết yếu Chấp nhận tất cảẢnh Ứng dụng Nghiên cứu chuyên sâu Sức khỏe Xem các gói dịch vụ và mức giá Cài đặt Trợ giúp
Nhận phản hồi phù hợp với nhu cầu của bạn
Đăng nhập để nhận câu trả lời dựa trên các đoạn chat đã lưu, cũng như tạo hình ảnh và tải lên tệp.
Đăng nhập ChatGPT Đăng nhập Đăng ký miễn phíBạn đã nói:
Lớp 12Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo giữa kì II - Đề số 2
olm
Bài GV giao
ND
Đề tham khảo giữa kì số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (761)
(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
TỰ MIỄN
(Tự khuyên mình)
Phiên âm:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,
Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.
Dịch nghĩa:
Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,
Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;
Tai ương rèn luyện ta,
Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.
Dịch thơ:
Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 380-381)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2 (0.5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Câu 4 (1.0 điểm): Tai ương vốn là những điều tiêu cực, song trong bài thơ này, đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa gì?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm cho từng câu:
Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (kết hợp nghị luận).
Câu 2 (0.5 điểm):
Bài thơ được viết theo thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt (Đường luật).
Câu 3 (1.0 điểm):
Biện pháp tu từ: Phép đối (đối lập)
- “đông hàn” ↔ “xuân noãn”
- “tiều tụy cảnh” ↔ “huy hoàng”
Tác dụng:
Làm nổi bật quy luật tự nhiên và cuộc sống: phải có khó khăn, gian khổ (mùa đông) mới có thành công, tươi sáng (mùa xuân). Qua đó nhấn mạnh ý nghĩa của nghịch cảnh.
Câu 4 (1.0 điểm):
Trong bài thơ, tai ương không chỉ là điều tiêu cực mà còn:
- Là thử thách giúp con người rèn luyện bản thân
- Giúp tinh thần trở nên mạnh mẽ, kiên cường hơn
→ Tai ương trở thành động lực để trưởng thành và phát triển.
Câu 5 (1.0 điểm):
Bài học ý nghĩa nhất:
Con người cần biết vượt qua khó khăn, thử thách, xem đó là cơ hội để rèn luyện ý chí và hoàn thiện bản thân; không nên bi quan trước nghịch cảnh mà phải giữ tinh thần lạc quan, kiên cường.
Nếu bạn muốn, mình có thể viết luôn đoạn văn hoàn chỉnh (5–7 dòng) cho câu 5 để bạn chép vào bài nhé 👍
Bạn đã nói:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh.Câu 2 (4.0 điểm): Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của những thử thách trong cuộc sống.
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ cho cả hai câu:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ
Bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh là một lời tự khuyên giàu ý nghĩa về thái độ sống trước khó khăn, thử thách. Mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng hình ảnh đối lập giữa “đông hàn” và “xuân noãn” để khẳng định một quy luật tất yếu của tự nhiên: không có mùa đông giá lạnh thì không có mùa xuân ấm áp, huy hoàng. Từ quy luật ấy, Người liên hệ đến cuộc sống con người: những gian truân, tai ương chính là môi trường rèn luyện ý chí và tinh thần. Hai câu thơ sau thể hiện rõ quan niệm sống tích cực: tai ương không làm con người gục ngã mà ngược lại còn giúp tinh thần thêm “khẩn trương”, mạnh mẽ hơn. Bài thơ ngắn gọn nhưng hàm chứa triết lí sâu sắc: cần biết nhìn nhận khó khăn như một cơ hội để hoàn thiện bản thân. Qua đó, ta thấy được bản lĩnh kiên cường, tinh thần lạc quan và ý chí vượt lên nghịch cảnh của Hồ Chí Minh, đồng thời rút ra bài học quý giá cho mỗi người trong cuộc sống.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn khoảng 600 chữ
Trong hành trình sống của mỗi con người, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Có người e ngại, né tránh khó khăn, nhưng cũng có người dũng cảm đối mặt và trưởng thành từ chính những thử thách ấy. Thực tế cho thấy, thử thách không chỉ là trở ngại mà còn mang ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân.
Trước hết, thử thách là môi trường để con người rèn luyện ý chí và bản lĩnh. Khi đối diện với khó khăn, con người buộc phải nỗ lực, kiên trì và tìm cách vượt qua. Chính quá trình ấy giúp ta trở nên mạnh mẽ, tự tin hơn. Nếu cuộc sống chỉ toàn thuận lợi, con người sẽ dễ trở nên yếu đuối, thiếu khả năng ứng phó với biến cố. Giống như vàng phải qua lửa mới tinh luyện, con người cũng cần thử thách để hoàn thiện bản thân.
Bên cạnh đó, thử thách còn giúp con người nhận ra giá trị của thành công. Những thành quả đạt được sau nỗ lực vượt khó luôn mang ý nghĩa sâu sắc và đáng trân trọng hơn nhiều so với những điều có được một cách dễ dàng. Khi trải qua gian nan, ta học được cách kiên nhẫn, biết trân trọng công sức của bản thân và của người khác. Nhờ đó, cuộc sống trở nên ý nghĩa và đáng sống hơn.
Không chỉ vậy, thử thách còn mở ra cơ hội khám phá khả năng tiềm ẩn của con người. Nhiều người chỉ nhận ra sức mạnh và năng lực của mình khi bị đặt vào hoàn cảnh khó khăn. Chính nghịch cảnh đã giúp họ bứt phá, vượt qua giới hạn của bản thân. Trong lịch sử và cuộc sống, không ít tấm gương thành công đều trưởng thành từ gian khó, chứng minh rằng thử thách chính là bước đệm cho sự phát triển.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thái độ đúng đắn trước thử thách. Có người dễ dàng nản chí, buông xuôi khi gặp khó khăn, từ đó đánh mất cơ hội vươn lên. Điều quan trọng là mỗi người cần giữ vững tinh thần lạc quan, chủ động đối mặt và xem thử thách như một phần tất yếu của cuộc sống. Chỉ khi thay đổi cách nhìn nhận, ta mới có thể biến khó khăn thành động lực.
Tóm lại, thử thách giữ vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người. Đó không chỉ là phép thử của ý chí mà còn là cơ hội để mỗi người trưởng thành và hoàn thiện bản thân. Vì vậy, thay vì sợ hãi, chúng ta hãy dũng cảm đón nhận thử thách, bởi chính chúng sẽ giúp ta trở nên mạnh mẽ hơn và tiến gần hơn đến thành công.
Bạn đã nói:
TIẾC THƯƠNG SINH THÁIBước sang năm 2022, chúng ta nghe thấy và nhìn thấy biến đổi khí hậu ở mọi nơi, cả ở ngoài đời thực, cả trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật. Giữa một thế giới nơi tất cả các giọng nói - hay thậm chí là giọng hát - đều gợi nhắc về một thảm kịch toàn cầu đang cận kề, biến đổi khí hậu đã đi vào tâm thức của mọi người và tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần. Một hậu quả đáng chú ý là sự xuất hiện của hiện tượng tâm lí “tiếc thương sinh thái” (ecological grief).
Cụm từ “tiếc thương sinh thái” xuất hiện lần đầu trong một bài viết vào năm 2018 của hai nhà khoa học xã hội Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis, trong đó họ định nghĩa tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này có thể đa dạng, ví dụ như sự biến mất của các loài sinh vật hay sự thay đổi ở các cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần, song điểm chung là chúng đều do biến đổi khí hậu gây ra và đều khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân. Theo Cunsolo và Ellis, tiếc thương sinh thái là một phản ứng có thể đoán trước được, nhất là ở những cộng đồng vẫn còn sinh sống, làm việc và giữ các mối quan hệ văn hoá mật thiết với môi trường tự nhiên. Hai tác giả này đưa ra hai trường hợp cụ thể: những người Inuit ở miền Bắc Canada và những người làm nghề trồng trọt ở Australia. Lúc được hỏi về sự thay đổi môi trường chóng vánh ở nơi mình sống, cả hai cộng đồng này đều có chung những cảm xúc như nỗi thất vọng, u sầu, hay thậm chí là ý nghĩ muốn tự sát, mặc dù họ sinh sống ở hai nơi hoàn toàn khác nhau về mặt địa lí, phong tục tập quán, và còn bị ảnh hưởng bởi các loại thiên tai hoàn toàn khác nhau.
[...] Như bất kì vấn đề sức khỏe tâm thần nào khác, nỗi tiếc thương sinh thái ăn sâu vào tâm trí một người và thường xuyên đẩy họ vào trạng thái khủng hoảng hiện sinh. Cunsolo và Ellis ghi nhận câu trả lời của một người Inuit như sau: “Inuit là dân tộc băng biển. Băng biển không còn, làm sao chúng tôi còn là dân tộc băng biển được nữa?”. Và những cảm xúc như vậy thực sự cũng chẳng còn xa lạ gì nữa: khi rừng Amazon bốc cháy năm 2019, các tộc người bản địa ở Brazil như người Tenharim, người Guató và người Guarani đều đã nói rằng họ đang mất hết tất cả và khó có thể gìn giữ được truyền thống văn hoá của mình khi mà cánh rừng quê hương đang bốc cháy ngùn ngụt. [...] Có thể thấy, đối với người ở nơi “tiền tuyến” của biến đổi khí hậu - cho dù là cộng đồng địa phương hay là các nhà nghiên cứu thực địa, việc chứng kiến và cảm nhận trực tiếp hậu quả của biến đổi khí hậu đã để lại tác động tâm lí nghiêm trọng, bởi những người này đã lâu ngày gần gũi và gắn bó với môi trường đang bị hủy hoại. [...]
Tiếc thay, sau hàng thập kỉ biết đến mối nguy hại của biến đổi khí hậu, nỗi tiếc thương sinh thái đã bắt đầu ảnh hưởng tới cả người ở hậu phương. Tháng 12/2021, Caroline Hickman và cộng sự công bố một cuộc thăm dò về cảm xúc trước biến đổi khí hậu của 1,000 trẻ em và thanh thiếu niên từ mỗi quốc gia trong tổng số 10 nước Anh, Australia, Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Brazil, Hoa Kì, Nigeria, Pháp, Phần Lan và Philippines. Trong số những người được hỏi, 59% thấy “rất hoặc cực kì lo” về biến đổi khí hậu, và 45% thừa nhận rằng cảm xúc của họ về biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống thường ngày. Nỗi lo về biến đổi khí hậu và sự chấp nhận tận thế đang cận kề đều là các cảm xúc không hiếm gặp ở những người trẻ ngày nay, nhất là kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu.
(Nguyễn Bình, Báo điện tử Tia sáng, 25/1/2022)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Theo bài viết trên, hiện tượng tiếc thương sinh thái là gì?
Câu 2. Bài viết trên trình bày thông tin theo trình tự nào?
Câu 3. Tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào để cung cấp thông tin cho người đọc?
Câu 4. Anh/chị hãy nhận xét về cách tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu của tác giả trong văn bản.
Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất mà anh/chị nhận được từ bài viết trên là gì?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (840)
II. VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1. (2.0 điểm) Từ phần đọc hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng người ẩn sĩ được khắc họa qua hai bài thơ sau:
NHÀN
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến bóng cây ta hãy uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Khoa học Xã hội, 2021)
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
(Nguyễn Khuyến, NXB Hội Nhà văn, 2015)
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời đầy đủ, ngắn gọn – đúng ý cho từng phần:
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Hiện tượng “tiếc thương sinh thái” là nỗi đau buồn, mất mát của con người trước sự suy thoái của môi trường tự nhiên do biến đổi khí hậu gây ra, tương tự như cảm giác mất đi người thân.
Câu 2:
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự:
→ Giải thích khái niệm → phân tích, đưa dẫn chứng cụ thể → mở rộng vấn đề → nêu thực trạng hiện nay.
Câu 3:
Tác giả sử dụng các bằng chứng:
- Nghiên cứu khoa học của Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis
- Trường hợp thực tế: người Inuit (Canada), nông dân Australia
- Dẫn chứng sự kiện: cháy rừng Amazon 2019
- Số liệu khảo sát (Caroline Hickman, 2021 về giới trẻ nhiều quốc gia)
→ Những dẫn chứng đa dạng, xác thực, có tính thuyết phục cao.
Câu 4:
Cách tiếp cận của tác giả:
- Mới mẻ, nhân văn: tiếp cận biến đổi khí hậu từ góc độ tâm lí con người
- Không chỉ nói về thiệt hại vật chất mà còn nhấn mạnh tổn thương tinh thần
→ Giúp người đọc nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về vấn đề.
Câu 5:
Thông điệp sâu sắc nhất:
→ Con người cần ý thức rõ hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, từ đó có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống, bởi thiên nhiên không chỉ là nơi tồn tại mà còn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của chúng ta.
II. VIẾT
Câu 1 (2.0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ cấp thiết nhất của con người hiện nay. Môi trường không chỉ cung cấp tài nguyên, điều kiện sống mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người. Khi môi trường bị ô nhiễm, biến đổi khí hậu gia tăng, con người phải đối mặt với hàng loạt hậu quả nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh và cả những khủng hoảng tâm lí như “tiếc thương sinh thái”. Điều đó cho thấy thiên nhiên không hề xa lạ mà gắn bó mật thiết với đời sống của mỗi cá nhân. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chính mình. Mỗi người có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ như tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh hay nâng cao ý thức cộng đồng. Đồng thời, cần lên án những hành vi phá hoại môi trường. Chỉ khi con người sống hài hòa với thiên nhiên, chúng ta mới có thể hướng tới một tương lai bền vững và tốt đẹp hơn.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn ~600 chữ
Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, xa lánh danh lợi. Qua bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng này hiện lên vừa có điểm tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng biệt.
Trước hết, ở cả hai bài thơ, người ẩn sĩ đều lựa chọn cuộc sống hòa mình với thiên nhiên, tránh xa vòng danh lợi. Trong Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa một cuộc sống giản dị với “mai, cuốc, cần câu”, ngày ngày ung dung lao động và tận hưởng thiên nhiên. Còn ở bài thơ của Nguyễn Khuyến, không gian thu hiện lên tĩnh lặng, trong trẻo với trời cao, nước biếc, ánh trăng, tất cả tạo nên một thế giới thanh bình, yên ả. Qua đó, cả hai nhà thơ đều thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên là nơi nương náu tinh thần.
Tuy nhiên, hình tượng người ẩn sĩ ở mỗi tác giả lại mang những nét riêng. Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là một sự lựa chọn dứt khoát và chủ động. Ông tự nhận mình “dại” để đối lập với “người khôn” nơi chốn quan trường, từ đó khẳng định lối sống xa lánh danh lợi, coi phú quý chỉ là “chiêm bao”. Lối sống ấy thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và nhân cách cao đẹp của một bậc trí giả. Ngược lại, ở Nguyễn Khuyến, ẩn sĩ không hoàn toàn là sự an nhiên tuyệt đối. Đằng sau bức tranh thu tĩnh lặng là một nỗi niềm trăn trở, một sự “thẹn với ông Đào” – tức Đào Tiềm. Điều đó cho thấy nhà thơ vẫn còn nặng lòng với thời cuộc, chưa thể hoàn toàn dứt bỏ thế sự.
Ngoài ra, giọng điệu hai bài thơ cũng có sự khác biệt. Nhàn mang giọng điệu nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, thể hiện quan niệm sống rõ ràng. Trong khi đó, bài thơ của Nguyễn Khuyến lại mang nét trầm lắng, suy tư, pha chút day dứt. Điều này góp phần làm nổi bật hai kiểu ẩn sĩ: một người ung dung, tự tại; một người ẩn dật mà vẫn nặng lòng với đời.
Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp thanh cao, gắn bó với thiên nhiên và xa lánh danh lợi. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại gửi gắm vào đó những tâm tư riêng, phản ánh hoàn cảnh và cá tính khác nhau. Điều này không chỉ làm phong phú hình tượng ẩn sĩ trong văn học mà còn giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về tâm hồn và nhân cách của các nhà thơ trung đại Việt Nam.
Nhận được phản hồi thông minh hơn, tải lên tệp cũng như hình ảnh và nhiều lợi ích khác. Đăng nhập Đăng ký miễn phíChúng tôi sử dụng cookie
Chúng tôi sử dụng cookie để hỗ trợ trang web này hoạt động, hiểu rõ cách dịch vụ được sử dụng và hỗ trợ các hoạt động tiếp thị. Vui lòng truy cập mục Quản lý cookie để thay đổi tùy chọn bất cứ lúc nào. Xem Chính sách cookie của chúng tôi để biết thêm thông tin.
Quản lý cookie Từ chối cookie không thiết yếu Chấp nhận tất cảNhận phản hồi phù hợp với nhu cầu của bạn
Đăng nhập để nhận câu trả lời dựa trên các đoạn chat đã lưu, cũng như tạo hình ảnh và tải lên tệp.
Đăng nhập ChatGPT Đăng nhập Đăng ký miễn phíBạn đã nói:
Lớp 12Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo giữa kì II - Đề số 2
olm
Bài GV giao
ND
Đề tham khảo giữa kì số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (761)
(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
TỰ MIỄN
(Tự khuyên mình)
Phiên âm:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,
Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.
Dịch nghĩa:
Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,
Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;
Tai ương rèn luyện ta,
Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.
Dịch thơ:
Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 380-381)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2 (0.5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Câu 4 (1.0 điểm): Tai ương vốn là những điều tiêu cực, song trong bài thơ này, đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa gì?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm cho từng câu:
Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (kết hợp nghị luận).
Câu 2 (0.5 điểm):
Bài thơ được viết theo thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt (Đường luật).
Câu 3 (1.0 điểm):
Biện pháp tu từ: Phép đối (đối lập)
- “đông hàn” ↔ “xuân noãn”
- “tiều tụy cảnh” ↔ “huy hoàng”
Tác dụng:
Làm nổi bật quy luật tự nhiên và cuộc sống: phải có khó khăn, gian khổ (mùa đông) mới có thành công, tươi sáng (mùa xuân). Qua đó nhấn mạnh ý nghĩa của nghịch cảnh.
Câu 4 (1.0 điểm):
Trong bài thơ, tai ương không chỉ là điều tiêu cực mà còn:
- Là thử thách giúp con người rèn luyện bản thân
- Giúp tinh thần trở nên mạnh mẽ, kiên cường hơn
→ Tai ương trở thành động lực để trưởng thành và phát triển.
Câu 5 (1.0 điểm):
Bài học ý nghĩa nhất:
Con người cần biết vượt qua khó khăn, thử thách, xem đó là cơ hội để rèn luyện ý chí và hoàn thiện bản thân; không nên bi quan trước nghịch cảnh mà phải giữ tinh thần lạc quan, kiên cường.
Nếu bạn muốn, mình có thể viết luôn đoạn văn hoàn chỉnh (5–7 dòng) cho câu 5 để bạn chép vào bài nhé 👍
Bạn đã nói:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh.Câu 2 (4.0 điểm): Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của những thử thách trong cuộc sống.
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ cho cả hai câu:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ
Bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh là một lời tự khuyên giàu ý nghĩa về thái độ sống trước khó khăn, thử thách. Mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng hình ảnh đối lập giữa “đông hàn” và “xuân noãn” để khẳng định một quy luật tất yếu của tự nhiên: không có mùa đông giá lạnh thì không có mùa xuân ấm áp, huy hoàng. Từ quy luật ấy, Người liên hệ đến cuộc sống con người: những gian truân, tai ương chính là môi trường rèn luyện ý chí và tinh thần. Hai câu thơ sau thể hiện rõ quan niệm sống tích cực: tai ương không làm con người gục ngã mà ngược lại còn giúp tinh thần thêm “khẩn trương”, mạnh mẽ hơn. Bài thơ ngắn gọn nhưng hàm chứa triết lí sâu sắc: cần biết nhìn nhận khó khăn như một cơ hội để hoàn thiện bản thân. Qua đó, ta thấy được bản lĩnh kiên cường, tinh thần lạc quan và ý chí vượt lên nghịch cảnh của Hồ Chí Minh, đồng thời rút ra bài học quý giá cho mỗi người trong cuộc sống.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn khoảng 600 chữ
Trong hành trình sống của mỗi con người, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Có người e ngại, né tránh khó khăn, nhưng cũng có người dũng cảm đối mặt và trưởng thành từ chính những thử thách ấy. Thực tế cho thấy, thử thách không chỉ là trở ngại mà còn mang ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân.
Trước hết, thử thách là môi trường để con người rèn luyện ý chí và bản lĩnh. Khi đối diện với khó khăn, con người buộc phải nỗ lực, kiên trì và tìm cách vượt qua. Chính quá trình ấy giúp ta trở nên mạnh mẽ, tự tin hơn. Nếu cuộc sống chỉ toàn thuận lợi, con người sẽ dễ trở nên yếu đuối, thiếu khả năng ứng phó với biến cố. Giống như vàng phải qua lửa mới tinh luyện, con người cũng cần thử thách để hoàn thiện bản thân.
Bên cạnh đó, thử thách còn giúp con người nhận ra giá trị của thành công. Những thành quả đạt được sau nỗ lực vượt khó luôn mang ý nghĩa sâu sắc và đáng trân trọng hơn nhiều so với những điều có được một cách dễ dàng. Khi trải qua gian nan, ta học được cách kiên nhẫn, biết trân trọng công sức của bản thân và của người khác. Nhờ đó, cuộc sống trở nên ý nghĩa và đáng sống hơn.
Không chỉ vậy, thử thách còn mở ra cơ hội khám phá khả năng tiềm ẩn của con người. Nhiều người chỉ nhận ra sức mạnh và năng lực của mình khi bị đặt vào hoàn cảnh khó khăn. Chính nghịch cảnh đã giúp họ bứt phá, vượt qua giới hạn của bản thân. Trong lịch sử và cuộc sống, không ít tấm gương thành công đều trưởng thành từ gian khó, chứng minh rằng thử thách chính là bước đệm cho sự phát triển.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thái độ đúng đắn trước thử thách. Có người dễ dàng nản chí, buông xuôi khi gặp khó khăn, từ đó đánh mất cơ hội vươn lên. Điều quan trọng là mỗi người cần giữ vững tinh thần lạc quan, chủ động đối mặt và xem thử thách như một phần tất yếu của cuộc sống. Chỉ khi thay đổi cách nhìn nhận, ta mới có thể biến khó khăn thành động lực.
Tóm lại, thử thách giữ vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người. Đó không chỉ là phép thử của ý chí mà còn là cơ hội để mỗi người trưởng thành và hoàn thiện bản thân. Vì vậy, thay vì sợ hãi, chúng ta hãy dũng cảm đón nhận thử thách, bởi chính chúng sẽ giúp ta trở nên mạnh mẽ hơn và tiến gần hơn đến thành công.
Caau 1
Caau2
Caau3
Caua4
Caau5
Câu 1 (2,0 điểm)
Nhân vật phu nhân trong “Truyện người liệt nữ ở An Ấp” được xây dựng như một hình tượng tiêu biểu cho người phụ nữ thủy chung, giàu đức hi sinh trong xã hội phong kiến. Trước hết, bà hiện lên là người vợ đoan trang, nết na, giỏi nữ công gia chánh, lại am hiểu văn chương, biết lấy lễ nghĩa làm đầu trong quan hệ vợ chồng. Khi chồng đi sứ xa rồi mất nơi đất khách, phu nhân bộc lộ tình cảm yêu thương sâu sắc và lòng thủy chung son sắt qua nỗi đau kéo dài nhiều năm, qua bài văn tế chan chứa bi thương. Việc bà quyết định quyên sinh không nhằm cầu danh tiết liệt mà xuất phát từ tâm trạng “lòng chết hình còn”, cho thấy bi kịch tinh thần sâu sắc của một người phụ nữ mất đi chỗ dựa tinh thần duy nhất. Qua đó, tác giả vừa ca ngợi vẻ đẹp đạo đức của người phụ nữ, vừa gián tiếp bày tỏ niềm xót xa trước số phận nhỏ bé của họ trong xã hội phong kiến, nơi hạnh phúc cá nhân bị ràng buộc bởi lễ giáo khắt khe.
⸻
Câu 2 (4,0 điểm)
Trong “Truyện người liệt nữ ở An Ấp”, nhân vật Đinh Hoàn được khắc họa như hình mẫu của một kẻ sĩ chân chính trong xã hội phong kiến. Ông là người có tài, có chí, hết lòng vì việc nước, dấn thân vào con đường quan trường với tinh thần trách nhiệm cao. Dù đường đi sứ đầy gian nan, sức khỏe yếu ớt, đến khi cận kề cái chết, ông vẫn chỉ băn khoăn việc nước chưa hoàn thành. Từ hình tượng Đinh Hoàn, có thể rút ra nhiều suy nghĩ sâu sắc về trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước trong mọi thời đại.
Trước hết, người trí thức phải ý thức rõ vai trò của mình đối với vận mệnh dân tộc. Tri thức không chỉ là phương tiện để mưu cầu danh vọng hay lợi ích cá nhân, mà còn là công cụ để phụng sự cộng đồng. Đinh Hoàn lựa chọn dấn thân vào việc nước, chấp nhận hiểm nguy khi đi sứ xa, cho thấy tinh thần đặt lợi ích quốc gia lên trên sự an nhàn của bản thân. Đó là biểu hiện cao đẹp của trách nhiệm công dân ở tầng cao nhất.
Bên cạnh đó, trách nhiệm của người trí thức còn thể hiện ở tinh thần tận tụy và ý thức hoàn thành sứ mệnh đến cùng. Đinh Hoàn không chỉ làm quan cho có danh mà luôn cần mẫn, lắng nghe lời can gián của phu nhân để sửa mình, trở thành vị quan tốt. Khi lâm bệnh nơi đất khách, điều khiến ông day dứt không phải sinh mệnh cá nhân mà là việc nước còn dang dở. Điều này cho thấy trí thức chân chính luôn gắn sự tồn tại của mình với lợi ích chung của đất nước.
Trong bối cảnh hiện đại, trách nhiệm ấy càng mang ý nghĩa thời sự. Người trí thức hôm nay không nhất thiết phải “đi sứ” như Đinh Hoàn, nhưng cần đem tri thức, năng lực và đạo đức của mình đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Đó có thể là nghiên cứu khoa học, giáo dục, y tế, kinh tế hay bảo vệ chủ quyền văn hóa và tinh thần dân tộc. Trí thức thờ ơ, chỉ biết hưởng thụ thành quả cá nhân mà quay lưng với vận mệnh chung là trí thức đánh mất giá trị của chính mình.
Tóm lại, qua hình tượng Đinh Hoàn, tác phẩm gửi gắm một thông điệp sâu sắc: trí thức chân chính phải luôn gắn số phận cá nhân với vận mệnh đất nước, sống có trách nhiệm, có lí tưởng và sẵn sàng hi sinh vì lợi ích chung. Đây là bài học có giá trị lâu dài, vượt ra ngoài khuôn khổ của một tác phẩm văn học trung đại.
Câu 1
Văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì
Câu 2
Văn bản viết về đề tài người phụ nữ trinh liệt, ca ngợi đức thủy chung, tiết nghĩa của người vợ đối với chồng, đồng thời phản ánh quan niệm đạo đức phong kiến.
Câu 3
Yếu tố kỳ ảo trong văn bản là
"Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân"
"Lập đền sau khi phu nhân mất'cầu đảo đều có linh ứng'"
Tác dụng
- Làm tăng tính hấp dẫn cho người đọc, tạo ấn tượng
-Làm nổi bật hình tượng ngươig liệt nữ, sự chung thuỷ của nhân vật
- Thể hiện thái đọ tình cảm của tác giả về cách sống chung thuỷ
Câu4
Văn bản sử dụng nhiều điển tích, điển cố như: Lục Châu, trinh nữ hóa đá, Thuấn phi, Chức nữ, Vi Ngọc Tiên, Dương Thái Chân…
Tác dụng
Tăng tính trang trọng, bác học cho văn bản.
Đặt câu chuyện của phu nhân An Ấp trong mạch truyền thống chung của những tấm gương trinh liệt, chung tình trong lịch sử và truyền thuyếtLàm nổi bật phẩm chất đạo đức của nhân vật qua sự so sánh, liên hệ.
Câu5
Câu 5 (0,5 điểm).
Không gian nghệ thuật trong văn bản là sự kết hợp giữa:
Cõi trần gian: đời sống gia đình, triều đình, lễ tiểu tường, cái chết của phu nhân.
Cõi âm – cõi tiên: Thiên Đình, thiên tào, hồn người chết hiện về.Chi tiết tiêu biểu:
Đinh Hoàn chết nhưng “về chầu Thiên Đình”
.Hồn Đinh Hoàn hiện về trò chuyện với phu nhân trong đêm thu.
Tác dụng:
Mở rộng biên độ phản ánh của tác phẩm, vượt khỏi giới hạn hiện thực.Nhấn mạnh bi kịch tình yêu và lòng thủy chung tuyệt đối của phu nhân.Thể hiện tư tưởng nhân quả và niềm tin tâm linh của văn học trung đại
evfsvbdsgr
evfsvbdsgr
evfsvbdsgr