NGUYỄN ĐẮC TIẾN
Giới thiệu về bản thân
Đề tham khảo số 1 SVIP
In bàiBài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (1630)(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
CA SỢI CHỈ
Mẹ tôi là một đoá hoa,
Thân tôi trong sạch, tôi là cái bông.
Xưa tôi yếu ớt vô cùng,
Ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời.
Khi tôi đã thành chỉ rồi,
Cũng còn yếu lắm, ăn ngồi không ngon,
Mạnh gì sợi chỉ con con,
Khôn thiêng biết có vuông tròn cho chăng!
Càng dài lại càng mỏng manh,
Thế gian ai sợ chi anh chỉ xoàng!
Nhờ tôi có nhiều đồng bang,
Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.
Dệt nên tấm vải mỹ miều,
Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.
Đố ai bứt xé cho ra,
Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.
Hỡi ai con cháu Hồng Bàng,
Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau.
Yêu nhau xin nhớ lời nhau,
Việt Minh hội ấy mau mau phải vào.
(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 73)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2 (0.5 điểm): Nhân vật “tôi” trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ vật gì?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Nhờ tôi có nhiều đồng bang,
Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.
Dệt nên tấm vải mỹ miều,
Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.
Đố ai bứt xé cho ra,
Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.
Câu 4 (1.0 điểm): Sợi chỉ có những đặc tính nào? Theo anh/chị, sức mạnh của sợi chỉ nằm ở đâu?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi nàyBài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (1321)Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích bài thơ Ca sợi chỉ của Hồ Chí Minh.
Câu 2 (4.0 điểm): Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về vai trò của sự đoàn kết.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này \(O L M © 2022\)Đề tham khảo số 1 SVIP
In bàiBài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (1630)(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
CA SỢI CHỈ
Mẹ tôi là một đoá hoa,
Thân tôi trong sạch, tôi là cái bông.
Xưa tôi yếu ớt vô cùng,
Ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời.
Khi tôi đã thành chỉ rồi,
Cũng còn yếu lắm, ăn ngồi không ngon,
Mạnh gì sợi chỉ con con,
Khôn thiêng biết có vuông tròn cho chăng!
Càng dài lại càng mỏng manh,
Thế gian ai sợ chi anh chỉ xoàng!
Nhờ tôi có nhiều đồng bang,
Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.
Dệt nên tấm vải mỹ miều,
Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.
Đố ai bứt xé cho ra,
Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.
Hỡi ai con cháu Hồng Bàng,
Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau.
Yêu nhau xin nhớ lời nhau,
Việt Minh hội ấy mau mau phải vào.
(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 73)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2 (0.5 điểm): Nhân vật “tôi” trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ vật gì?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Nhờ tôi có nhiều đồng bang,
Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.
Dệt nên tấm vải mỹ miều,
Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.
Đố ai bứt xé cho ra,
Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.
Câu 4 (1.0 điểm): Sợi chỉ có những đặc tính nào? Theo anh/chị, sức mạnh của sợi chỉ nằm ở đâu?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi nàyBài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (1321)Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích bài thơ Ca sợi chỉ của Hồ Chí Minh.
Câu 2 (4.0 điểm): Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về vai trò của sự đoàn kết.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này \(O L M © 2022\)Đề tham khảo số 1 SVIP
In bàiBài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (1630)(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
CA SỢI CHỈ
Mẹ tôi là một đoá hoa,
Thân tôi trong sạch, tôi là cái bông.
Xưa tôi yếu ớt vô cùng,
Ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời.
Khi tôi đã thành chỉ rồi,
Cũng còn yếu lắm, ăn ngồi không ngon,
Mạnh gì sợi chỉ con con,
Khôn thiêng biết có vuông tròn cho chăng!
Càng dài lại càng mỏng manh,
Thế gian ai sợ chi anh chỉ xoàng!
Nhờ tôi có nhiều đồng bang,
Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.
Dệt nên tấm vải mỹ miều,
Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.
Đố ai bứt xé cho ra,
Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.
Hỡi ai con cháu Hồng Bàng,
Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau.
Yêu nhau xin nhớ lời nhau,
Việt Minh hội ấy mau mau phải vào.
(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 73)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2 (0.5 điểm): Nhân vật “tôi” trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ vật gì?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Nhờ tôi có nhiều đồng bang,
Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.
Dệt nên tấm vải mỹ miều,
Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.
Đố ai bứt xé cho ra,
Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.
Câu 4 (1.0 điểm): Sợi chỉ có những đặc tính nào? Theo anh/chị, sức mạnh của sợi chỉ nằm ở đâu?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi nàyBài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (1321)Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích bài thơ Ca sợi chỉ của Hồ Chí Minh.
Câu 2 (4.0 điểm): Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về vai trò của sự đoàn kết.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này \(O L M © 2022\)Đề tham khảo số 1 SVIP
In bàiBài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (1630)(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
CA SỢI CHỈ
Mẹ tôi là một đoá hoa,
Thân tôi trong sạch, tôi là cái bông.
Xưa tôi yếu ớt vô cùng,
Ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời.
Khi tôi đã thành chỉ rồi,
Cũng còn yếu lắm, ăn ngồi không ngon,
Mạnh gì sợi chỉ con con,
Khôn thiêng biết có vuông tròn cho chăng!
Càng dài lại càng mỏng manh,
Thế gian ai sợ chi anh chỉ xoàng!
Nhờ tôi có nhiều đồng bang,
Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.
Dệt nên tấm vải mỹ miều,
Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.
Đố ai bứt xé cho ra,
Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.
Hỡi ai con cháu Hồng Bàng,
Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau.
Yêu nhau xin nhớ lời nhau,
Việt Minh hội ấy mau mau phải vào.
(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 73)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2 (0.5 điểm): Nhân vật “tôi” trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ vật gì?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Nhờ tôi có nhiều đồng bang,
Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.
Dệt nên tấm vải mỹ miều,
Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.
Đố ai bứt xé cho ra,
Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.
Câu 4 (1.0 điểm): Sợi chỉ có những đặc tính nào? Theo anh/chị, sức mạnh của sợi chỉ nằm ở đâu?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi nàyBài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (1321)Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích bài thơ Ca sợi chỉ của Hồ Chí Minh.
Câu 2 (4.0 điểm): Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về vai trò của sự đoàn kết.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này \(O L M © 2022\)Ảnh Ứng dụng Nghiên cứu chuyên sâu Sức khỏe Xem các gói dịch vụ và mức giá Cài đặt Trợ giúp
Nhận phản hồi phù hợp với nhu cầu của bạn
Đăng nhập để nhận câu trả lời dựa trên các đoạn chat đã lưu, cũng như tạo hình ảnh và tải lên tệp.
Đăng nhập ChatGPT Đăng nhập Đăng ký miễn phíBạn đã nói:
Lớp 12Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo giữa kì II - Đề số 2
olm
Bài GV giao
ND
Đề tham khảo giữa kì số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (761)
(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
TỰ MIỄN
(Tự khuyên mình)
Phiên âm:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,
Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.
Dịch nghĩa:
Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,
Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;
Tai ương rèn luyện ta,
Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.
Dịch thơ:
Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 380-381)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2 (0.5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Câu 4 (1.0 điểm): Tai ương vốn là những điều tiêu cực, song trong bài thơ này, đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa gì?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm cho từng câu:
Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (kết hợp nghị luận).
Câu 2 (0.5 điểm):
Bài thơ được viết theo thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt (Đường luật).
Câu 3 (1.0 điểm):
Biện pháp tu từ: Phép đối (đối lập)
- “đông hàn” ↔ “xuân noãn”
- “tiều tụy cảnh” ↔ “huy hoàng”
Tác dụng:
Làm nổi bật quy luật tự nhiên và cuộc sống: phải có khó khăn, gian khổ (mùa đông) mới có thành công, tươi sáng (mùa xuân). Qua đó nhấn mạnh ý nghĩa của nghịch cảnh.
Câu 4 (1.0 điểm):
Trong bài thơ, tai ương không chỉ là điều tiêu cực mà còn:
- Là thử thách giúp con người rèn luyện bản thân
- Giúp tinh thần trở nên mạnh mẽ, kiên cường hơn
→ Tai ương trở thành động lực để trưởng thành và phát triển.
Câu 5 (1.0 điểm):
Bài học ý nghĩa nhất:
Con người cần biết vượt qua khó khăn, thử thách, xem đó là cơ hội để rèn luyện ý chí và hoàn thiện bản thân; không nên bi quan trước nghịch cảnh mà phải giữ tinh thần lạc quan, kiên cường.
Nếu bạn muốn, mình có thể viết luôn đoạn văn hoàn chỉnh (5–7 dòng) cho câu 5 để bạn chép vào bài nhé 👍
Bạn đã nói:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh.Câu 2 (4.0 điểm): Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của những thử thách trong cuộc sống.
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ cho cả hai câu:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ
Bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh là một lời tự khuyên giàu ý nghĩa về thái độ sống trước khó khăn, thử thách. Mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng hình ảnh đối lập giữa “đông hàn” và “xuân noãn” để khẳng định một quy luật tất yếu của tự nhiên: không có mùa đông giá lạnh thì không có mùa xuân ấm áp, huy hoàng. Từ quy luật ấy, Người liên hệ đến cuộc sống con người: những gian truân, tai ương chính là môi trường rèn luyện ý chí và tinh thần. Hai câu thơ sau thể hiện rõ quan niệm sống tích cực: tai ương không làm con người gục ngã mà ngược lại còn giúp tinh thần thêm “khẩn trương”, mạnh mẽ hơn. Bài thơ ngắn gọn nhưng hàm chứa triết lí sâu sắc: cần biết nhìn nhận khó khăn như một cơ hội để hoàn thiện bản thân. Qua đó, ta thấy được bản lĩnh kiên cường, tinh thần lạc quan và ý chí vượt lên nghịch cảnh của Hồ Chí Minh, đồng thời rút ra bài học quý giá cho mỗi người trong cuộc sống.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn khoảng 600 chữ
Trong hành trình sống của mỗi con người, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Có người e ngại, né tránh khó khăn, nhưng cũng có người dũng cảm đối mặt và trưởng thành từ chính những thử thách ấy. Thực tế cho thấy, thử thách không chỉ là trở ngại mà còn mang ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân.
Trước hết, thử thách là môi trường để con người rèn luyện ý chí và bản lĩnh. Khi đối diện với khó khăn, con người buộc phải nỗ lực, kiên trì và tìm cách vượt qua. Chính quá trình ấy giúp ta trở nên mạnh mẽ, tự tin hơn. Nếu cuộc sống chỉ toàn thuận lợi, con người sẽ dễ trở nên yếu đuối, thiếu khả năng ứng phó với biến cố. Giống như vàng phải qua lửa mới tinh luyện, con người cũng cần thử thách để hoàn thiện bản thân.
Bên cạnh đó, thử thách còn giúp con người nhận ra giá trị của thành công. Những thành quả đạt được sau nỗ lực vượt khó luôn mang ý nghĩa sâu sắc và đáng trân trọng hơn nhiều so với những điều có được một cách dễ dàng. Khi trải qua gian nan, ta học được cách kiên nhẫn, biết trân trọng công sức của bản thân và của người khác. Nhờ đó, cuộc sống trở nên ý nghĩa và đáng sống hơn.
Không chỉ vậy, thử thách còn mở ra cơ hội khám phá khả năng tiềm ẩn của con người. Nhiều người chỉ nhận ra sức mạnh và năng lực của mình khi bị đặt vào hoàn cảnh khó khăn. Chính nghịch cảnh đã giúp họ bứt phá, vượt qua giới hạn của bản thân. Trong lịch sử và cuộc sống, không ít tấm gương thành công đều trưởng thành từ gian khó, chứng minh rằng thử thách chính là bước đệm cho sự phát triển.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thái độ đúng đắn trước thử thách. Có người dễ dàng nản chí, buông xuôi khi gặp khó khăn, từ đó đánh mất cơ hội vươn lên. Điều quan trọng là mỗi người cần giữ vững tinh thần lạc quan, chủ động đối mặt và xem thử thách như một phần tất yếu của cuộc sống. Chỉ khi thay đổi cách nhìn nhận, ta mới có thể biến khó khăn thành động lực.
Tóm lại, thử thách giữ vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người. Đó không chỉ là phép thử của ý chí mà còn là cơ hội để mỗi người trưởng thành và hoàn thiện bản thân. Vì vậy, thay vì sợ hãi, chúng ta hãy dũng cảm đón nhận thử thách, bởi chính chúng sẽ giúp ta trở nên mạnh mẽ hơn và tiến gần hơn đến thành công.
Bạn đã nói:
TIẾC THƯƠNG SINH THÁIBước sang năm 2022, chúng ta nghe thấy và nhìn thấy biến đổi khí hậu ở mọi nơi, cả ở ngoài đời thực, cả trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật. Giữa một thế giới nơi tất cả các giọng nói - hay thậm chí là giọng hát - đều gợi nhắc về một thảm kịch toàn cầu đang cận kề, biến đổi khí hậu đã đi vào tâm thức của mọi người và tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần. Một hậu quả đáng chú ý là sự xuất hiện của hiện tượng tâm lí “tiếc thương sinh thái” (ecological grief).
Cụm từ “tiếc thương sinh thái” xuất hiện lần đầu trong một bài viết vào năm 2018 của hai nhà khoa học xã hội Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis, trong đó họ định nghĩa tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này có thể đa dạng, ví dụ như sự biến mất của các loài sinh vật hay sự thay đổi ở các cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần, song điểm chung là chúng đều do biến đổi khí hậu gây ra và đều khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân. Theo Cunsolo và Ellis, tiếc thương sinh thái là một phản ứng có thể đoán trước được, nhất là ở những cộng đồng vẫn còn sinh sống, làm việc và giữ các mối quan hệ văn hoá mật thiết với môi trường tự nhiên. Hai tác giả này đưa ra hai trường hợp cụ thể: những người Inuit ở miền Bắc Canada và những người làm nghề trồng trọt ở Australia. Lúc được hỏi về sự thay đổi môi trường chóng vánh ở nơi mình sống, cả hai cộng đồng này đều có chung những cảm xúc như nỗi thất vọng, u sầu, hay thậm chí là ý nghĩ muốn tự sát, mặc dù họ sinh sống ở hai nơi hoàn toàn khác nhau về mặt địa lí, phong tục tập quán, và còn bị ảnh hưởng bởi các loại thiên tai hoàn toàn khác nhau.
[...] Như bất kì vấn đề sức khỏe tâm thần nào khác, nỗi tiếc thương sinh thái ăn sâu vào tâm trí một người và thường xuyên đẩy họ vào trạng thái khủng hoảng hiện sinh. Cunsolo và Ellis ghi nhận câu trả lời của một người Inuit như sau: “Inuit là dân tộc băng biển. Băng biển không còn, làm sao chúng tôi còn là dân tộc băng biển được nữa?”. Và những cảm xúc như vậy thực sự cũng chẳng còn xa lạ gì nữa: khi rừng Amazon bốc cháy năm 2019, các tộc người bản địa ở Brazil như người Tenharim, người Guató và người Guarani đều đã nói rằng họ đang mất hết tất cả và khó có thể gìn giữ được truyền thống văn hoá của mình khi mà cánh rừng quê hương đang bốc cháy ngùn ngụt. [...] Có thể thấy, đối với người ở nơi “tiền tuyến” của biến đổi khí hậu - cho dù là cộng đồng địa phương hay là các nhà nghiên cứu thực địa, việc chứng kiến và cảm nhận trực tiếp hậu quả của biến đổi khí hậu đã để lại tác động tâm lí nghiêm trọng, bởi những người này đã lâu ngày gần gũi và gắn bó với môi trường đang bị hủy hoại. [...]
Tiếc thay, sau hàng thập kỉ biết đến mối nguy hại của biến đổi khí hậu, nỗi tiếc thương sinh thái đã bắt đầu ảnh hưởng tới cả người ở hậu phương. Tháng 12/2021, Caroline Hickman và cộng sự công bố một cuộc thăm dò về cảm xúc trước biến đổi khí hậu của 1,000 trẻ em và thanh thiếu niên từ mỗi quốc gia trong tổng số 10 nước Anh, Australia, Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Brazil, Hoa Kì, Nigeria, Pháp, Phần Lan và Philippines. Trong số những người được hỏi, 59% thấy “rất hoặc cực kì lo” về biến đổi khí hậu, và 45% thừa nhận rằng cảm xúc của họ về biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống thường ngày. Nỗi lo về biến đổi khí hậu và sự chấp nhận tận thế đang cận kề đều là các cảm xúc không hiếm gặp ở những người trẻ ngày nay, nhất là kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu.
(Nguyễn Bình, Báo điện tử Tia sáng, 25/1/2022)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Theo bài viết trên, hiện tượng tiếc thương sinh thái là gì?
Câu 2. Bài viết trên trình bày thông tin theo trình tự nào?
Câu 3. Tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào để cung cấp thông tin cho người đọc?
Câu 4. Anh/chị hãy nhận xét về cách tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu của tác giả trong văn bản.
Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất mà anh/chị nhận được từ bài viết trên là gì?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (840)
II. VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1. (2.0 điểm) Từ phần đọc hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng người ẩn sĩ được khắc họa qua hai bài thơ sau:
NHÀN
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến bóng cây ta hãy uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Khoa học Xã hội, 2021)
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
(Nguyễn Khuyến, NXB Hội Nhà văn, 2015)
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời đầy đủ, ngắn gọn – đúng ý cho từng phần:
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Hiện tượng “tiếc thương sinh thái” là nỗi đau buồn, mất mát của con người trước sự suy thoái của môi trường tự nhiên do biến đổi khí hậu gây ra, tương tự như cảm giác mất đi người thân.
Câu 2:
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự:
→ Giải thích khái niệm → phân tích, đưa dẫn chứng cụ thể → mở rộng vấn đề → nêu thực trạng hiện nay.
Câu 3:
Tác giả sử dụng các bằng chứng:
- Nghiên cứu khoa học của Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis
- Trường hợp thực tế: người Inuit (Canada), nông dân Australia
- Dẫn chứng sự kiện: cháy rừng Amazon 2019
- Số liệu khảo sát (Caroline Hickman, 2021 về giới trẻ nhiều quốc gia)
→ Những dẫn chứng đa dạng, xác thực, có tính thuyết phục cao.
Câu 4:
Cách tiếp cận của tác giả:
- Mới mẻ, nhân văn: tiếp cận biến đổi khí hậu từ góc độ tâm lí con người
- Không chỉ nói về thiệt hại vật chất mà còn nhấn mạnh tổn thương tinh thần
→ Giúp người đọc nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về vấn đề.
Câu 5:
Thông điệp sâu sắc nhất:
→ Con người cần ý thức rõ hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, từ đó có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống, bởi thiên nhiên không chỉ là nơi tồn tại mà còn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của chúng ta.
II. VIẾT
Câu 1 (2.0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ cấp thiết nhất của con người hiện nay. Môi trường không chỉ cung cấp tài nguyên, điều kiện sống mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người. Khi môi trường bị ô nhiễm, biến đổi khí hậu gia tăng, con người phải đối mặt với hàng loạt hậu quả nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh và cả những khủng hoảng tâm lí như “tiếc thương sinh thái”. Điều đó cho thấy thiên nhiên không hề xa lạ mà gắn bó mật thiết với đời sống của mỗi cá nhân. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chính mình. Mỗi người có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ như tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh hay nâng cao ý thức cộng đồng. Đồng thời, cần lên án những hành vi phá hoại môi trường. Chỉ khi con người sống hài hòa với thiên nhiên, chúng ta mới có thể hướng tới một tương lai bền vững và tốt đẹp hơn.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn ~600 chữ
Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, xa lánh danh lợi. Qua bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng này hiện lên vừa có điểm tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng biệt.
Trước hết, ở cả hai bài thơ, người ẩn sĩ đều lựa chọn cuộc sống hòa mình với thiên nhiên, tránh xa vòng danh lợi. Trong Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa một cuộc sống giản dị với “mai, cuốc, cần câu”, ngày ngày ung dung lao động và tận hưởng thiên nhiên. Còn ở bài thơ của Nguyễn Khuyến, không gian thu hiện lên tĩnh lặng, trong trẻo với trời cao, nước biếc, ánh trăng, tất cả tạo nên một thế giới thanh bình, yên ả. Qua đó, cả hai nhà thơ đều thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên là nơi nương náu tinh thần.
Tuy nhiên, hình tượng người ẩn sĩ ở mỗi tác giả lại mang những nét riêng. Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là một sự lựa chọn dứt khoát và chủ động. Ông tự nhận mình “dại” để đối lập với “người khôn” nơi chốn quan trường, từ đó khẳng định lối sống xa lánh danh lợi, coi phú quý chỉ là “chiêm bao”. Lối sống ấy thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và nhân cách cao đẹp của một bậc trí giả. Ngược lại, ở Nguyễn Khuyến, ẩn sĩ không hoàn toàn là sự an nhiên tuyệt đối. Đằng sau bức tranh thu tĩnh lặng là một nỗi niềm trăn trở, một sự “thẹn với ông Đào” – tức Đào Tiềm. Điều đó cho thấy nhà thơ vẫn còn nặng lòng với thời cuộc, chưa thể hoàn toàn dứt bỏ thế sự.
Ngoài ra, giọng điệu hai bài thơ cũng có sự khác biệt. Nhàn mang giọng điệu nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, thể hiện quan niệm sống rõ ràng. Trong khi đó, bài thơ của Nguyễn Khuyến lại mang nét trầm lắng, suy tư, pha chút day dứt. Điều này góp phần làm nổi bật hai kiểu ẩn sĩ: một người ung dung, tự tại; một người ẩn dật mà vẫn nặng lòng với đời.
Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp thanh cao, gắn bó với thiên nhiên và xa lánh danh lợi. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại gửi gắm vào đó những tâm tư riêng, phản ánh hoàn cảnh và cá tính khác nhau. Điều này không chỉ làm phong phú hình tượng ẩn sĩ trong văn học mà còn giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về tâm hồn và nhân cách của các nhà thơ trung đại Việt Nam.
Bạn đã nói:
Học trực tuyến OLMLớp 12
Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo cuối kì II - Đề số 2
olm
Bài GV giao
ND
Đề số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (1186)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
CON YÊU CON GHÉT
Lược phần đầu: Bớt và Nở đều là con gái bà Ngải nhưng lại nhận sự đối xử phân biệt yêu ghét trái ngược từ mẹ đến mức Bớt từng phải ấm ức khóc ầm ĩ: "Bu đừng có con yêu con ghét! Được, đã thế xem sau này bu già, một mình cái Nở có nuôi bu không, hay lúc ấy lại phải gọi đến tôi?". Sau này hai cô con gái đi lấy chồng, bà vẫn đối xử kiểu phân biệt, có gì cũng bù trì cho Nở, tiền nong gửi cả Nở nhưng rồi lại bị chính Nở dáo dở lấy hết tiền gom góp dành dụm của bà. Bà giận, khóa cửa, xuống cuối làng ở với mẹ con Bớt.
[...] Thấy mẹ đem quần áo nồi niêu đến ở chung, Bớt rất mừng. Nhưng chị cố gặng mẹ cho hết lẽ:
- Bu nghĩ kĩ đi. Chẳng sau này lại phiền bu ra, như chị Nở thì con không muốn...
Nghe con nhắc đến thế thì cụ lại ngượng. Bà cụ gượng cười:
- Mày khác, nó khác. Với cái gì mà phải nghĩ hở con? Đây này, bu cứ tính thế này: Bao giờ đánh xong thằng Mỹ, bố con Hiên với cậu Tấn nó về, lúc bấy giờ ở đâu rồi hãy hay. Còn bây giờ bu cứ ở đây với mẹ con mày, chứ bu ở trên ấy một mình, vong vóng cũng buồn, mà mẹ con mày dưới này thì bấn quá. Mày thì đã lắm thứ công tác. Lại còn lo làm điểm lấy thóc nuôi con...
Từ ngày bà đến ở chung, Bớt như người được cất đi một gánh nặng trên vai. Giờ Bớt chỉ lo công tác với ra đồng làm, giá có phải đi họp hay đi học dăm bảy ngày liền như lớp học chống sâu bệnh cho lúa vừa rồi, là Bớt có thể yên trí đùm gạo đi được, không phải như cái đận ngày xưa vừa họp đấy, mà bụng thì nôn lên với mấy đứa con còn vất vạ ra ở nhà, gửi liều cho hàng xóm. Mấy đứa trẻ được bà trông, chỉ vài tháng đã lớn, béo ra trông thấy. [...]
[...] Bớt kéo con vào lòng, vạch tóc con ra và chỉ vào cái sẹo to bằng cái trôn bát ở gần đỉnh đầu, vô tình kể với bà:
- Còn bố nó ở nhà, bố nó thương con này nhất, bố nó cứ bảo: Tội! Con gái xấu xí.
Bà cụ thở dài và buột miệng cái điều mà bà vẫn lấy làm ân hận:
- Ừ, đáng ra là thế, con nào chả là con. Có mẹ cổ nhân cổ sơ, ngày xưa mẹ mới dọa ra thế chứ!
Bớt vội buông bé Hiên, ôm lấy mẹ:
- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?
1966 - 1974
(Vũ Thị Thường, Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1945 - 2005, NXB Công an Nhân dân, 2005, tr.20 - 23)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn)
Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện.
Câu 2. Chỉ ra một số chi tiết về cách ứng xử của chị Bớt Dương trong văn bản cho thấy chị không giận mẹ dù trước đó từng bị mẹ phân biệt đối xử.
Câu 3. Qua đoạn trích, anh/chị thấy nhân vật Bớt là người như thế nào?
Câu 4. Hành động ôm lấy vai mẹ và câu nói của chị Bớt: "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?" có ý nghĩa gì?
Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống hôm nay và lí giải tại sao.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (1075)
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1 (2.0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của bức tranh quê trong đoạn thơ sau:
Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đưa,
Đầu thềm con chó ngủ lơ mơ,
Bóng cây lơi lả bên hàng dậu,
Đêm vắng, người im, cảnh lặng tờ.
Ông lão nằm chơi ở giữa sân,
Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân.
Thằng cu đứng vịn bên thành chõng,
Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân.
(Trích Trăng hè, Đoàn Văn Cừ, Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân, NXB Văn học, 2005, tr.190 - 191)
Câu 2 (4.0 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ hiện nay.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ, rõ ý cho từng phần:
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1:
Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
Câu 2:
Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ:
- Vui mừng khi mẹ đến ở cùng
- Gặng hỏi mẹ nhưng với thái độ lo lắng, chân thành, không trách móc
- Chăm sóc, đón nhận mẹ về sống chung
- Khi mẹ áy náy, chị ôm mẹ và trấn an
Câu 3:
Nhân vật Bớt là người:
- Hiếu thảo, bao dung
- Nhân hậu, giàu tình cảm
- Chịu thương chịu khó, có trách nhiệm với gia đình
→ Là hình ảnh đẹp của người phụ nữ nông thôn.
Câu 4:
Ý nghĩa:
- Thể hiện tình yêu thương, sự cảm thông sâu sắc của Bớt dành cho mẹ
- Giúp mẹ giải tỏa mặc cảm, ân hận
- Khẳng định đức tính bao dung, vị tha của người con
Câu 5:
Thông điệp:
→ Trong gia đình, cần yêu thương công bằng, đồng thời mỗi người con cũng nên biết bao dung, thấu hiểu cha mẹ.
Lí giải:
Vì tình cảm gia đình chỉ bền vững khi có sự yêu thương, cảm thông từ cả hai phía; sự vị tha giúp hàn gắn những tổn thương và giữ gìn hạnh phúc.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Đoạn thơ trong bài Trăng hè của Đoàn Văn Cừ đã vẽ nên một bức tranh làng quê yên bình, giản dị mà giàu sức gợi. Không gian được mở ra trong đêm hè tĩnh lặng với những âm thanh quen thuộc như “tiếng võng kẽo kẹt”, hình ảnh “con chó ngủ lơ mơ”, “bóng cây lơi lả” tạo nên nhịp điệu chậm rãi, êm đềm. Cảnh vật dường như hòa vào sự yên tĩnh tuyệt đối của “đêm vắng, người im”. Sang khổ thơ sau, bức tranh trở nên sinh động hơn với hình ảnh con người: ông lão nằm nghỉ, đứa trẻ thơ ngây, con mèo quấn quýt dưới chân. Ánh trăng lan tỏa khiến cảnh vật trở nên lung linh, huyền ảo. Tất cả tạo nên một bức tranh quê vừa gần gũi, vừa ấm áp tình người. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu tha thiết với cuộc sống thôn quê và gợi nhắc người đọc trân trọng những khoảnh khắc bình dị trong đời sống.
Câu 2 (4,0 điểm): Bài văn ~600 chữ
Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất của đời người, là lúc con người có nhiều khát vọng, hoài bão và năng lượng để theo đuổi ước mơ. Trong xã hội hiện đại, sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ không chỉ là yếu tố quyết định thành công cá nhân mà còn góp phần tạo nên sự phát triển của đất nước.
Trước hết, nỗ lực hết mình là việc mỗi người trẻ dám dấn thân, không ngừng học hỏi và cố gắng vượt qua giới hạn của bản thân. Đó không chỉ là sự chăm chỉ trong học tập mà còn là tinh thần cầu tiến, sẵn sàng đối mặt với thử thách. Khi nỗ lực, con người sẽ tích lũy được tri thức, kĩ năng và kinh nghiệm – những yếu tố cần thiết để thành công trong tương lai. Ngược lại, nếu sống thụ động, lười biếng, tuổi trẻ sẽ trôi qua một cách vô nghĩa.
Bên cạnh đó, sự nỗ lực của tuổi trẻ còn thể hiện trách nhiệm đối với gia đình và xã hội. Những người trẻ biết cố gắng sẽ không chỉ xây dựng được cuộc sống tốt đẹp cho bản thân mà còn đóng góp vào sự phát triển chung. Trong thời đại hội nhập, đất nước rất cần những con người năng động, sáng tạo và không ngừng vươn lên. Chính vì vậy, mỗi cá nhân trẻ cần ý thức rõ vai trò của mình để sống có mục tiêu và lí tưởng.
Tuy nhiên, nỗ lực không có nghĩa là lao vào làm việc một cách mù quáng hay bất chấp tất cả. Người trẻ cần có phương hướng đúng đắn, biết cân bằng giữa học tập, làm việc và nghỉ ngơi. Đồng thời, cũng cần tránh tâm lí so sánh, chạy theo thành tích mà quên đi giá trị thực sự của bản thân. Nỗ lực chân chính phải đi kèm với sự kiên trì, bền bỉ và tinh thần học hỏi không ngừng.
Trong thực tế, có rất nhiều tấm gương người trẻ thành công nhờ nỗ lực. Họ xuất phát từ hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn kiên trì theo đuổi ước mơ, từng bước khẳng định bản thân. Những câu chuyện ấy là nguồn cảm hứng lớn, thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay sống tích cực hơn, có trách nhiệm hơn với cuộc đời mình.
Tóm lại, nỗ lực hết mình là chìa khóa giúp tuổi trẻ chinh phục ước mơ và khẳng định giá trị bản thân. Vì vậy, mỗi người trẻ cần sống có mục tiêu, dám nghĩ dám làm và không ngừng cố gắng. Chỉ khi tận dụng tốt quãng thời gian quý giá này, chúng ta mới có thể tạo dựng một tương lai vững chắc và ý nghĩa.
Bạn đã nói:
Học trực tuyến OLMLớp 12
Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo cuối kì II - Đề số 3
olm
Bài GV giao
ND
Đề số 3 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
BÀN GIAO
Rồi ông sẽ bàn giao cho cháu
Bàn giao gió heo may
Bàn giao góc phố
Có mùi ngô nướng bay
Ông sẽ chẳng bàn giao những tháng ngày vất vả
Sương muối đêm bay lạnh mặt người
Đất rung chuyển, xóm làng loạn lạc
Ngọn đèn mờ, mưa bụi rơi
Ông bàn giao tháng giêng hương bưởi
Cỏ mùa xuân xanh dưới chân giày
Bàn giao những mặt người đẫm nắng
Đẫm yêu thương trên trái đất này
Ông chỉ bàn giao một chút buồn
Ngậm ngùi một chút, chút cô đơn
Câu thơ vững gót làm người ấy*
Ông cũng bàn giao cho cháu luôn.
(Theo Vũ Quần Phương, Văn nghệ quân đội, Xuân Giáp Ngọ 2014, tr.86)
Chú thích:
* Câu thơ Cắn răng mà chịu thiệt, vững gót để làm người.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2. Trong bài thơ, nhân vật người ông sẽ bàn giao cho cháu những thứ gì?
Câu 3. Ở khổ thơ thứ hai, có những thứ mà người ông chẳng bàn giao cho cháu. Theo anh/chị, vì sao người ông lại không muốn bàn giao cho cháu những thứ đó?
Câu 4. Chỉ ra và phân tích biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong bài thơ.
Câu 5. Chúng ta hôm nay đã nhận bàn giao từ thế hệ cha ông đi trước rất nhiều điều quý giá, thiêng liêng. Theo anh/chị, chúng ta cần có thái độ gì trước những điều được bàn giao ấy? (Bày tỏ bằng đoạn văn 5 - 7 câu)
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (458)
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về bài thơ ở phần đọc hiểu.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn (khoảng 600 chữ) nêu suy nghĩ về vấn đề tuổi trẻ và sự trải nghiệm.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ, rõ ràng cho đề số 3:
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1:
Thể thơ: Thơ tự do.
Câu 2:
Người ông bàn giao cho cháu:
- Gió heo may, góc phố, mùi ngô nướng
- Tháng giêng hương bưởi, cỏ mùa xuân
- Những con người “đẫm nắng, đẫm yêu thương”
- Một chút buồn, chút cô đơn
- Bài học làm người (ý chí, nghị lực)
Câu 3:
Người ông không bàn giao những tháng ngày vất vả vì:
- Đó là những đau khổ, mất mát, chiến tranh, gian truân mà ông từng trải qua
- Ông không muốn thế hệ sau phải chịu những khó khăn ấy
→ Thể hiện tình yêu thương, sự che chở và mong muốn cháu có cuộc sống tốt đẹp hơn.
Câu 4:
Điệp ngữ: “bàn giao”
Tác dụng:
- Nhấn mạnh hành động trao truyền giữa các thế hệ
- Tạo nhịp điệu cho bài thơ
- Làm nổi bật ý nghĩa: sự kế thừa những giá trị tốt đẹp của cuộc sống và con người
Câu 5 (5–7 câu):
Chúng ta cần có thái độ trân trọng và biết ơn trước những giá trị mà thế hệ cha ông đã bàn giao. Đó không chỉ là thiên nhiên tươi đẹp mà còn là những bài học quý giá về cách sống, cách làm người. Mỗi người cần có ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị ấy để không phụ công lao của thế hệ đi trước. Đồng thời, chúng ta cũng phải có trách nhiệm tiếp nối, xây dựng và phát triển những điều tốt đẹp hơn cho tương lai. Nếu thờ ơ hoặc lãng phí những giá trị được trao truyền, chúng ta sẽ đánh mất những nền tảng quan trọng của cuộc sống. Vì vậy, sống có trách nhiệm chính là cách tốt nhất để đáp lại sự “bàn giao” thiêng liêng ấy.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Bài thơ Bàn giao của Vũ Quần Phương
Chúng tôi sử dụng cookie
Chúng tôi sử dụng cookie để hỗ trợ trang web này hoạt động, hiểu rõ cách dịch vụ được sử dụng và hỗ trợ các hoạt động tiếp thị. Vui lòng truy cập mục Quản lý cookie để thay đổi tùy chọn bất cứ lúc nào. Xem Chính sách cookie của chúng tôi để biết thêm thông tin.
Quản lý cookie Từ chối cookie không thiết yếu Chấp nhận tất cảẢnh Ứng dụng Nghiên cứu chuyên sâu Sức khỏe Xem các gói dịch vụ và mức giá Cài đặt Trợ giúp
Nhận phản hồi phù hợp với nhu cầu của bạn
Đăng nhập để nhận câu trả lời dựa trên các đoạn chat đã lưu, cũng như tạo hình ảnh và tải lên tệp.
Đăng nhập ChatGPT Đăng nhập Đăng ký miễn phíBạn đã nói:
Lớp 12Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo giữa kì II - Đề số 2
olm
Bài GV giao
ND
Đề tham khảo giữa kì số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (761)
(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
TỰ MIỄN
(Tự khuyên mình)
Phiên âm:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,
Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.
Dịch nghĩa:
Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,
Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;
Tai ương rèn luyện ta,
Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.
Dịch thơ:
Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 380-381)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2 (0.5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Câu 4 (1.0 điểm): Tai ương vốn là những điều tiêu cực, song trong bài thơ này, đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa gì?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm cho từng câu:
Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (kết hợp nghị luận).
Câu 2 (0.5 điểm):
Bài thơ được viết theo thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt (Đường luật).
Câu 3 (1.0 điểm):
Biện pháp tu từ: Phép đối (đối lập)
- “đông hàn” ↔ “xuân noãn”
- “tiều tụy cảnh” ↔ “huy hoàng”
Tác dụng:
Làm nổi bật quy luật tự nhiên và cuộc sống: phải có khó khăn, gian khổ (mùa đông) mới có thành công, tươi sáng (mùa xuân). Qua đó nhấn mạnh ý nghĩa của nghịch cảnh.
Câu 4 (1.0 điểm):
Trong bài thơ, tai ương không chỉ là điều tiêu cực mà còn:
- Là thử thách giúp con người rèn luyện bản thân
- Giúp tinh thần trở nên mạnh mẽ, kiên cường hơn
→ Tai ương trở thành động lực để trưởng thành và phát triển.
Câu 5 (1.0 điểm):
Bài học ý nghĩa nhất:
Con người cần biết vượt qua khó khăn, thử thách, xem đó là cơ hội để rèn luyện ý chí và hoàn thiện bản thân; không nên bi quan trước nghịch cảnh mà phải giữ tinh thần lạc quan, kiên cường.
Nếu bạn muốn, mình có thể viết luôn đoạn văn hoàn chỉnh (5–7 dòng) cho câu 5 để bạn chép vào bài nhé 👍
Bạn đã nói:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh.Câu 2 (4.0 điểm): Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của những thử thách trong cuộc sống.
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ cho cả hai câu:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ
Bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh là một lời tự khuyên giàu ý nghĩa về thái độ sống trước khó khăn, thử thách. Mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng hình ảnh đối lập giữa “đông hàn” và “xuân noãn” để khẳng định một quy luật tất yếu của tự nhiên: không có mùa đông giá lạnh thì không có mùa xuân ấm áp, huy hoàng. Từ quy luật ấy, Người liên hệ đến cuộc sống con người: những gian truân, tai ương chính là môi trường rèn luyện ý chí và tinh thần. Hai câu thơ sau thể hiện rõ quan niệm sống tích cực: tai ương không làm con người gục ngã mà ngược lại còn giúp tinh thần thêm “khẩn trương”, mạnh mẽ hơn. Bài thơ ngắn gọn nhưng hàm chứa triết lí sâu sắc: cần biết nhìn nhận khó khăn như một cơ hội để hoàn thiện bản thân. Qua đó, ta thấy được bản lĩnh kiên cường, tinh thần lạc quan và ý chí vượt lên nghịch cảnh của Hồ Chí Minh, đồng thời rút ra bài học quý giá cho mỗi người trong cuộc sống.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn khoảng 600 chữ
Trong hành trình sống của mỗi con người, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Có người e ngại, né tránh khó khăn, nhưng cũng có người dũng cảm đối mặt và trưởng thành từ chính những thử thách ấy. Thực tế cho thấy, thử thách không chỉ là trở ngại mà còn mang ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân.
Trước hết, thử thách là môi trường để con người rèn luyện ý chí và bản lĩnh. Khi đối diện với khó khăn, con người buộc phải nỗ lực, kiên trì và tìm cách vượt qua. Chính quá trình ấy giúp ta trở nên mạnh mẽ, tự tin hơn. Nếu cuộc sống chỉ toàn thuận lợi, con người sẽ dễ trở nên yếu đuối, thiếu khả năng ứng phó với biến cố. Giống như vàng phải qua lửa mới tinh luyện, con người cũng cần thử thách để hoàn thiện bản thân.
Bên cạnh đó, thử thách còn giúp con người nhận ra giá trị của thành công. Những thành quả đạt được sau nỗ lực vượt khó luôn mang ý nghĩa sâu sắc và đáng trân trọng hơn nhiều so với những điều có được một cách dễ dàng. Khi trải qua gian nan, ta học được cách kiên nhẫn, biết trân trọng công sức của bản thân và của người khác. Nhờ đó, cuộc sống trở nên ý nghĩa và đáng sống hơn.
Không chỉ vậy, thử thách còn mở ra cơ hội khám phá khả năng tiềm ẩn của con người. Nhiều người chỉ nhận ra sức mạnh và năng lực của mình khi bị đặt vào hoàn cảnh khó khăn. Chính nghịch cảnh đã giúp họ bứt phá, vượt qua giới hạn của bản thân. Trong lịch sử và cuộc sống, không ít tấm gương thành công đều trưởng thành từ gian khó, chứng minh rằng thử thách chính là bước đệm cho sự phát triển.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thái độ đúng đắn trước thử thách. Có người dễ dàng nản chí, buông xuôi khi gặp khó khăn, từ đó đánh mất cơ hội vươn lên. Điều quan trọng là mỗi người cần giữ vững tinh thần lạc quan, chủ động đối mặt và xem thử thách như một phần tất yếu của cuộc sống. Chỉ khi thay đổi cách nhìn nhận, ta mới có thể biến khó khăn thành động lực.
Tóm lại, thử thách giữ vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người. Đó không chỉ là phép thử của ý chí mà còn là cơ hội để mỗi người trưởng thành và hoàn thiện bản thân. Vì vậy, thay vì sợ hãi, chúng ta hãy dũng cảm đón nhận thử thách, bởi chính chúng sẽ giúp ta trở nên mạnh mẽ hơn và tiến gần hơn đến thành công.
Bạn đã nói:
TIẾC THƯƠNG SINH THÁIBước sang năm 2022, chúng ta nghe thấy và nhìn thấy biến đổi khí hậu ở mọi nơi, cả ở ngoài đời thực, cả trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật. Giữa một thế giới nơi tất cả các giọng nói - hay thậm chí là giọng hát - đều gợi nhắc về một thảm kịch toàn cầu đang cận kề, biến đổi khí hậu đã đi vào tâm thức của mọi người và tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần. Một hậu quả đáng chú ý là sự xuất hiện của hiện tượng tâm lí “tiếc thương sinh thái” (ecological grief).
Cụm từ “tiếc thương sinh thái” xuất hiện lần đầu trong một bài viết vào năm 2018 của hai nhà khoa học xã hội Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis, trong đó họ định nghĩa tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này có thể đa dạng, ví dụ như sự biến mất của các loài sinh vật hay sự thay đổi ở các cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần, song điểm chung là chúng đều do biến đổi khí hậu gây ra và đều khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân. Theo Cunsolo và Ellis, tiếc thương sinh thái là một phản ứng có thể đoán trước được, nhất là ở những cộng đồng vẫn còn sinh sống, làm việc và giữ các mối quan hệ văn hoá mật thiết với môi trường tự nhiên. Hai tác giả này đưa ra hai trường hợp cụ thể: những người Inuit ở miền Bắc Canada và những người làm nghề trồng trọt ở Australia. Lúc được hỏi về sự thay đổi môi trường chóng vánh ở nơi mình sống, cả hai cộng đồng này đều có chung những cảm xúc như nỗi thất vọng, u sầu, hay thậm chí là ý nghĩ muốn tự sát, mặc dù họ sinh sống ở hai nơi hoàn toàn khác nhau về mặt địa lí, phong tục tập quán, và còn bị ảnh hưởng bởi các loại thiên tai hoàn toàn khác nhau.
[...] Như bất kì vấn đề sức khỏe tâm thần nào khác, nỗi tiếc thương sinh thái ăn sâu vào tâm trí một người và thường xuyên đẩy họ vào trạng thái khủng hoảng hiện sinh. Cunsolo và Ellis ghi nhận câu trả lời của một người Inuit như sau: “Inuit là dân tộc băng biển. Băng biển không còn, làm sao chúng tôi còn là dân tộc băng biển được nữa?”. Và những cảm xúc như vậy thực sự cũng chẳng còn xa lạ gì nữa: khi rừng Amazon bốc cháy năm 2019, các tộc người bản địa ở Brazil như người Tenharim, người Guató và người Guarani đều đã nói rằng họ đang mất hết tất cả và khó có thể gìn giữ được truyền thống văn hoá của mình khi mà cánh rừng quê hương đang bốc cháy ngùn ngụt. [...] Có thể thấy, đối với người ở nơi “tiền tuyến” của biến đổi khí hậu - cho dù là cộng đồng địa phương hay là các nhà nghiên cứu thực địa, việc chứng kiến và cảm nhận trực tiếp hậu quả của biến đổi khí hậu đã để lại tác động tâm lí nghiêm trọng, bởi những người này đã lâu ngày gần gũi và gắn bó với môi trường đang bị hủy hoại. [...]
Tiếc thay, sau hàng thập kỉ biết đến mối nguy hại của biến đổi khí hậu, nỗi tiếc thương sinh thái đã bắt đầu ảnh hưởng tới cả người ở hậu phương. Tháng 12/2021, Caroline Hickman và cộng sự công bố một cuộc thăm dò về cảm xúc trước biến đổi khí hậu của 1,000 trẻ em và thanh thiếu niên từ mỗi quốc gia trong tổng số 10 nước Anh, Australia, Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Brazil, Hoa Kì, Nigeria, Pháp, Phần Lan và Philippines. Trong số những người được hỏi, 59% thấy “rất hoặc cực kì lo” về biến đổi khí hậu, và 45% thừa nhận rằng cảm xúc của họ về biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống thường ngày. Nỗi lo về biến đổi khí hậu và sự chấp nhận tận thế đang cận kề đều là các cảm xúc không hiếm gặp ở những người trẻ ngày nay, nhất là kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu.
(Nguyễn Bình, Báo điện tử Tia sáng, 25/1/2022)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Theo bài viết trên, hiện tượng tiếc thương sinh thái là gì?
Câu 2. Bài viết trên trình bày thông tin theo trình tự nào?
Câu 3. Tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào để cung cấp thông tin cho người đọc?
Câu 4. Anh/chị hãy nhận xét về cách tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu của tác giả trong văn bản.
Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất mà anh/chị nhận được từ bài viết trên là gì?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (840)
II. VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1. (2.0 điểm) Từ phần đọc hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng người ẩn sĩ được khắc họa qua hai bài thơ sau:
NHÀN
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến bóng cây ta hãy uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Khoa học Xã hội, 2021)
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
(Nguyễn Khuyến, NXB Hội Nhà văn, 2015)
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời đầy đủ, ngắn gọn – đúng ý cho từng phần:
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Hiện tượng “tiếc thương sinh thái” là nỗi đau buồn, mất mát của con người trước sự suy thoái của môi trường tự nhiên do biến đổi khí hậu gây ra, tương tự như cảm giác mất đi người thân.
Câu 2:
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự:
→ Giải thích khái niệm → phân tích, đưa dẫn chứng cụ thể → mở rộng vấn đề → nêu thực trạng hiện nay.
Câu 3:
Tác giả sử dụng các bằng chứng:
- Nghiên cứu khoa học của Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis
- Trường hợp thực tế: người Inuit (Canada), nông dân Australia
- Dẫn chứng sự kiện: cháy rừng Amazon 2019
- Số liệu khảo sát (Caroline Hickman, 2021 về giới trẻ nhiều quốc gia)
→ Những dẫn chứng đa dạng, xác thực, có tính thuyết phục cao.
Câu 4:
Cách tiếp cận của tác giả:
- Mới mẻ, nhân văn: tiếp cận biến đổi khí hậu từ góc độ tâm lí con người
- Không chỉ nói về thiệt hại vật chất mà còn nhấn mạnh tổn thương tinh thần
→ Giúp người đọc nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về vấn đề.
Câu 5:
Thông điệp sâu sắc nhất:
→ Con người cần ý thức rõ hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, từ đó có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống, bởi thiên nhiên không chỉ là nơi tồn tại mà còn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của chúng ta.
II. VIẾT
Câu 1 (2.0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ cấp thiết nhất của con người hiện nay. Môi trường không chỉ cung cấp tài nguyên, điều kiện sống mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người. Khi môi trường bị ô nhiễm, biến đổi khí hậu gia tăng, con người phải đối mặt với hàng loạt hậu quả nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh và cả những khủng hoảng tâm lí như “tiếc thương sinh thái”. Điều đó cho thấy thiên nhiên không hề xa lạ mà gắn bó mật thiết với đời sống của mỗi cá nhân. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chính mình. Mỗi người có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ như tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh hay nâng cao ý thức cộng đồng. Đồng thời, cần lên án những hành vi phá hoại môi trường. Chỉ khi con người sống hài hòa với thiên nhiên, chúng ta mới có thể hướng tới một tương lai bền vững và tốt đẹp hơn.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn ~600 chữ
Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, xa lánh danh lợi. Qua bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng này hiện lên vừa có điểm tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng biệt.
Trước hết, ở cả hai bài thơ, người ẩn sĩ đều lựa chọn cuộc sống hòa mình với thiên nhiên, tránh xa vòng danh lợi. Trong Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa một cuộc sống giản dị với “mai, cuốc, cần câu”, ngày ngày ung dung lao động và tận hưởng thiên nhiên. Còn ở bài thơ của Nguyễn Khuyến, không gian thu hiện lên tĩnh lặng, trong trẻo với trời cao, nước biếc, ánh trăng, tất cả tạo nên một thế giới thanh bình, yên ả. Qua đó, cả hai nhà thơ đều thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên là nơi nương náu tinh thần.
Tuy nhiên, hình tượng người ẩn sĩ ở mỗi tác giả lại mang những nét riêng. Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là một sự lựa chọn dứt khoát và chủ động. Ông tự nhận mình “dại” để đối lập với “người khôn” nơi chốn quan trường, từ đó khẳng định lối sống xa lánh danh lợi, coi phú quý chỉ là “chiêm bao”. Lối sống ấy thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và nhân cách cao đẹp của một bậc trí giả. Ngược lại, ở Nguyễn Khuyến, ẩn sĩ không hoàn toàn là sự an nhiên tuyệt đối. Đằng sau bức tranh thu tĩnh lặng là một nỗi niềm trăn trở, một sự “thẹn với ông Đào” – tức Đào Tiềm. Điều đó cho thấy nhà thơ vẫn còn nặng lòng với thời cuộc, chưa thể hoàn toàn dứt bỏ thế sự.
Ngoài ra, giọng điệu hai bài thơ cũng có sự khác biệt. Nhàn mang giọng điệu nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, thể hiện quan niệm sống rõ ràng. Trong khi đó, bài thơ của Nguyễn Khuyến lại mang nét trầm lắng, suy tư, pha chút day dứt. Điều này góp phần làm nổi bật hai kiểu ẩn sĩ: một người ung dung, tự tại; một người ẩn dật mà vẫn nặng lòng với đời.
Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp thanh cao, gắn bó với thiên nhiên và xa lánh danh lợi. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại gửi gắm vào đó những tâm tư riêng, phản ánh hoàn cảnh và cá tính khác nhau. Điều này không chỉ làm phong phú hình tượng ẩn sĩ trong văn học mà còn giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về tâm hồn và nhân cách của các nhà thơ trung đại Việt Nam.
Bạn đã nói:
Học trực tuyến OLMLớp 12
Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo cuối kì II - Đề số 2
olm
Bài GV giao
ND
Đề số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (1186)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
CON YÊU CON GHÉT
Lược phần đầu: Bớt và Nở đều là con gái bà Ngải nhưng lại nhận sự đối xử phân biệt yêu ghét trái ngược từ mẹ đến mức Bớt từng phải ấm ức khóc ầm ĩ: "Bu đừng có con yêu con ghét! Được, đã thế xem sau này bu già, một mình cái Nở có nuôi bu không, hay lúc ấy lại phải gọi đến tôi?". Sau này hai cô con gái đi lấy chồng, bà vẫn đối xử kiểu phân biệt, có gì cũng bù trì cho Nở, tiền nong gửi cả Nở nhưng rồi lại bị chính Nở dáo dở lấy hết tiền gom góp dành dụm của bà. Bà giận, khóa cửa, xuống cuối làng ở với mẹ con Bớt.
[...] Thấy mẹ đem quần áo nồi niêu đến ở chung, Bớt rất mừng. Nhưng chị cố gặng mẹ cho hết lẽ:
- Bu nghĩ kĩ đi. Chẳng sau này lại phiền bu ra, như chị Nở thì con không muốn...
Nghe con nhắc đến thế thì cụ lại ngượng. Bà cụ gượng cười:
- Mày khác, nó khác. Với cái gì mà phải nghĩ hở con? Đây này, bu cứ tính thế này: Bao giờ đánh xong thằng Mỹ, bố con Hiên với cậu Tấn nó về, lúc bấy giờ ở đâu rồi hãy hay. Còn bây giờ bu cứ ở đây với mẹ con mày, chứ bu ở trên ấy một mình, vong vóng cũng buồn, mà mẹ con mày dưới này thì bấn quá. Mày thì đã lắm thứ công tác. Lại còn lo làm điểm lấy thóc nuôi con...
Từ ngày bà đến ở chung, Bớt như người được cất đi một gánh nặng trên vai. Giờ Bớt chỉ lo công tác với ra đồng làm, giá có phải đi họp hay đi học dăm bảy ngày liền như lớp học chống sâu bệnh cho lúa vừa rồi, là Bớt có thể yên trí đùm gạo đi được, không phải như cái đận ngày xưa vừa họp đấy, mà bụng thì nôn lên với mấy đứa con còn vất vạ ra ở nhà, gửi liều cho hàng xóm. Mấy đứa trẻ được bà trông, chỉ vài tháng đã lớn, béo ra trông thấy. [...]
[...] Bớt kéo con vào lòng, vạch tóc con ra và chỉ vào cái sẹo to bằng cái trôn bát ở gần đỉnh đầu, vô tình kể với bà:
- Còn bố nó ở nhà, bố nó thương con này nhất, bố nó cứ bảo: Tội! Con gái xấu xí.
Bà cụ thở dài và buột miệng cái điều mà bà vẫn lấy làm ân hận:
- Ừ, đáng ra là thế, con nào chả là con. Có mẹ cổ nhân cổ sơ, ngày xưa mẹ mới dọa ra thế chứ!
Bớt vội buông bé Hiên, ôm lấy mẹ:
- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?
1966 - 1974
(Vũ Thị Thường, Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1945 - 2005, NXB Công an Nhân dân, 2005, tr.20 - 23)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn)
Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện.
Câu 2. Chỉ ra một số chi tiết về cách ứng xử của chị Bớt Dương trong văn bản cho thấy chị không giận mẹ dù trước đó từng bị mẹ phân biệt đối xử.
Câu 3. Qua đoạn trích, anh/chị thấy nhân vật Bớt là người như thế nào?
Câu 4. Hành động ôm lấy vai mẹ và câu nói của chị Bớt: "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?" có ý nghĩa gì?
Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống hôm nay và lí giải tại sao.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (1075)
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1 (2.0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của bức tranh quê trong đoạn thơ sau:
Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đưa,
Đầu thềm con chó ngủ lơ mơ,
Bóng cây lơi lả bên hàng dậu,
Đêm vắng, người im, cảnh lặng tờ.
Ông lão nằm chơi ở giữa sân,
Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân.
Thằng cu đứng vịn bên thành chõng,
Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân.
(Trích Trăng hè, Đoàn Văn Cừ, Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân, NXB Văn học, 2005, tr.190 - 191)
Câu 2 (4.0 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ hiện nay.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ, rõ ý cho từng phần:
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1:
Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
Câu 2:
Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ:
- Vui mừng khi mẹ đến ở cùng
- Gặng hỏi mẹ nhưng với thái độ lo lắng, chân thành, không trách móc
- Chăm sóc, đón nhận mẹ về sống chung
- Khi mẹ áy náy, chị ôm mẹ và trấn an
Câu 3:
Nhân vật Bớt là người:
- Hiếu thảo, bao dung
- Nhân hậu, giàu tình cảm
- Chịu thương chịu khó, có trách nhiệm với gia đình
→ Là hình ảnh đẹp của người phụ nữ nông thôn.
Câu 4:
Ý nghĩa:
- Thể hiện tình yêu thương, sự cảm thông sâu sắc của Bớt dành cho mẹ
- Giúp mẹ giải tỏa mặc cảm, ân hận
- Khẳng định đức tính bao dung, vị tha của người con
Câu 5:
Thông điệp:
→ Trong gia đình, cần yêu thương công bằng, đồng thời mỗi người con cũng nên biết bao dung, thấu hiểu cha mẹ.
Lí giải:
Vì tình cảm gia đình chỉ bền vững khi có sự yêu thương, cảm thông từ cả hai phía; sự vị tha giúp hàn gắn những tổn thương và giữ gìn hạnh phúc.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Đoạn thơ trong bài Trăng hè của Đoàn Văn Cừ đã vẽ nên một bức tranh làng quê yên bình, giản dị mà giàu sức gợi. Không gian được mở ra trong đêm hè tĩnh lặng với những âm thanh quen thuộc như “tiếng võng kẽo kẹt”, hình ảnh “con chó ngủ lơ mơ”, “bóng cây lơi lả” tạo nên nhịp điệu chậm rãi, êm đềm. Cảnh vật dường như hòa vào sự yên tĩnh tuyệt đối của “đêm vắng, người im”. Sang khổ thơ sau, bức tranh trở nên sinh động hơn với hình ảnh con người: ông lão nằm nghỉ, đứa trẻ thơ ngây, con mèo quấn quýt dưới chân. Ánh trăng lan tỏa khiến cảnh vật trở nên lung linh, huyền ảo. Tất cả tạo nên một bức tranh quê vừa gần gũi, vừa ấm áp tình người. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu tha thiết với cuộc sống thôn quê và gợi nhắc người đọc trân trọng những khoảnh khắc bình dị trong đời sống.
Câu 2 (4,0 điểm): Bài văn ~600 chữ
Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất của đời người, là lúc con người có nhiều khát vọng, hoài bão và năng lượng để theo đuổi ước mơ. Trong xã hội hiện đại, sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ không chỉ là yếu tố quyết định thành công cá nhân mà còn góp phần tạo nên sự phát triển của đất nước.
Trước hết, nỗ lực hết mình là việc mỗi người trẻ dám dấn thân, không ngừng học hỏi và cố gắng vượt qua giới hạn của bản thân. Đó không chỉ là sự chăm chỉ trong học tập mà còn là tinh thần cầu tiến, sẵn sàng đối mặt với thử thách. Khi nỗ lực, con người sẽ tích lũy được tri thức, kĩ năng và kinh nghiệm – những yếu tố cần thiết để thành công trong tương lai. Ngược lại, nếu sống thụ động, lười biếng, tuổi trẻ sẽ trôi qua một cách vô nghĩa.
Bên cạnh đó, sự nỗ lực của tuổi trẻ còn thể hiện trách nhiệm đối với gia đình và xã hội. Những người trẻ biết cố gắng sẽ không chỉ xây dựng được cuộc sống tốt đẹp cho bản thân mà còn đóng góp vào sự phát triển chung. Trong thời đại hội nhập, đất nước rất cần những con người năng động, sáng tạo và không ngừng vươn lên. Chính vì vậy, mỗi cá nhân trẻ cần ý thức rõ vai trò của mình để sống có mục tiêu và lí tưởng.
Tuy nhiên, nỗ lực không có nghĩa là lao vào làm việc một cách mù quáng hay bất chấp tất cả. Người trẻ cần có phương hướng đúng đắn, biết cân bằng giữa học tập, làm việc và nghỉ ngơi. Đồng thời, cũng cần tránh tâm lí so sánh, chạy theo thành tích mà quên đi giá trị thực sự của bản thân. Nỗ lực chân chính phải đi kèm với sự kiên trì, bền bỉ và tinh thần học hỏi không ngừng.
Trong thực tế, có rất nhiều tấm gương người trẻ thành công nhờ nỗ lực. Họ xuất phát từ hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn kiên trì theo đuổi ước mơ, từng bước khẳng định bản thân. Những câu chuyện ấy là nguồn cảm hứng lớn, thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay sống tích cực hơn, có trách nhiệm hơn với cuộc đời mình.
Tóm lại, nỗ lực hết mình là chìa khóa giúp tuổi trẻ chinh phục ước mơ và khẳng định giá trị bản thân. Vì vậy, mỗi người trẻ cần sống có mục tiêu, dám nghĩ dám làm và không ngừng cố gắng. Chỉ khi tận dụng tốt quãng thời gian quý giá này, chúng ta mới có thể tạo dựng một tương lai vững chắc và ý nghĩa.
Bạn đã nói:
Học trực tuyến OLMLớp 12
Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo cuối kì II - Đề số 3
olm
Bài GV giao
ND
Đề số 3 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
BÀN GIAO
Rồi ông sẽ bàn giao cho cháu
Bàn giao gió heo may
Bàn giao góc phố
Có mùi ngô nướng bay
Ông sẽ chẳng bàn giao những tháng ngày vất vả
Sương muối đêm bay lạnh mặt người
Đất rung chuyển, xóm làng loạn lạc
Ngọn đèn mờ, mưa bụi rơi
Ông bàn giao tháng giêng hương bưởi
Cỏ mùa xuân xanh dưới chân giày
Bàn giao những mặt người đẫm nắng
Đẫm yêu thương trên trái đất này
Ông chỉ bàn giao một chút buồn
Ngậm ngùi một chút, chút cô đơn
Câu thơ vững gót làm người ấy*
Ông cũng bàn giao cho cháu luôn.
(Theo Vũ Quần Phương, Văn nghệ quân đội, Xuân Giáp Ngọ 2014, tr.86)
Chú thích:
* Câu thơ Cắn răng mà chịu thiệt, vững gót để làm người.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2. Trong bài thơ, nhân vật người ông sẽ bàn giao cho cháu những thứ gì?
Câu 3. Ở khổ thơ thứ hai, có những thứ mà người ông chẳng bàn giao cho cháu. Theo anh/chị, vì sao người ông lại không muốn bàn giao cho cháu những thứ đó?
Câu 4. Chỉ ra và phân tích biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong bài thơ.
Câu 5. Chúng ta hôm nay đã nhận bàn giao từ thế hệ cha ông đi trước rất nhiều điều quý giá, thiêng liêng. Theo anh/chị, chúng ta cần có thái độ gì trước những điều được bàn giao ấy? (Bày tỏ bằng đoạn văn 5 - 7 câu)
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (458)
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về bài thơ ở phần đọc hiểu.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn (khoảng 600 chữ) nêu suy nghĩ về vấn đề tuổi trẻ và sự trải nghiệm.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ, rõ ràng cho đề số 3:
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1:
Thể thơ: Thơ tự do.
Câu 2:
Người ông bàn giao cho cháu:
- Gió heo may, góc phố, mùi ngô nướng
- Tháng giêng hương bưởi, cỏ mùa xuân
- Những con người “đẫm nắng, đẫm yêu thương”
- Một chút buồn, chút cô đơn
- Bài học làm người (ý chí, nghị lực)
Câu 3:
Người ông không bàn giao những tháng ngày vất vả vì:
- Đó là những đau khổ, mất mát, chiến tranh, gian truân mà ông từng trải qua
- Ông không muốn thế hệ sau phải chịu những khó khăn ấy
→ Thể hiện tình yêu thương, sự che chở và mong muốn cháu có cuộc sống tốt đẹp hơn.
Câu 4:
Điệp ngữ: “bàn giao”
Tác dụng:
- Nhấn mạnh hành động trao truyền giữa các thế hệ
- Tạo nhịp điệu cho bài thơ
- Làm nổi bật ý nghĩa: sự kế thừa những giá trị tốt đẹp của cuộc sống và con người
Câu 5 (5–7 câu):
Chúng ta cần có thái độ trân trọng và biết ơn trước những giá trị mà thế hệ cha ông đã bàn giao. Đó không chỉ là thiên nhiên tươi đẹp mà còn là những bài học quý giá về cách sống, cách làm người. Mỗi người cần có ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị ấy để không phụ công lao của thế hệ đi trước. Đồng thời, chúng ta cũng phải có trách nhiệm tiếp nối, xây dựng và phát triển những điều tốt đẹp hơn cho tương lai. Nếu thờ ơ hoặc lãng phí những giá trị được trao truyền, chúng ta sẽ đánh mất những nền tảng quan trọng của cuộc sống. Vì vậy, sống có trách nhiệm chính là cách tốt nhất để đáp lại sự “bàn giao” thiêng liêng ấy.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Bài thơ Bàn giao của Vũ Quần Phương
Chúng tôi sử dụng cookie
Chúng tôi sử dụng cookie để hỗ trợ trang web này hoạt động, hiểu rõ cách dịch vụ được sử dụng và hỗ trợ các hoạt động tiếp thị. Vui lòng truy cập mục Quản lý cookie để thay đổi tùy chọn bất cứ lúc nào. Xem Chính sách cookie của chúng tôi để biết thêm thông tin.
Quản lý cookie Từ chối cookie không thiết yếu Chấp nhận tất cảẢnh Ứng dụng Nghiên cứu chuyên sâu Sức khỏe Xem các gói dịch vụ và mức giá Cài đặt Trợ giúp
Nhận phản hồi phù hợp với nhu cầu của bạn
Đăng nhập để nhận câu trả lời dựa trên các đoạn chat đã lưu, cũng như tạo hình ảnh và tải lên tệp.
Đăng nhập ChatGPT Đăng nhập Đăng ký miễn phíBạn đã nói:
Lớp 12Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo giữa kì II - Đề số 2
olm
Bài GV giao
ND
Đề tham khảo giữa kì số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (761)
(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
TỰ MIỄN
(Tự khuyên mình)
Phiên âm:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,
Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.
Dịch nghĩa:
Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,
Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;
Tai ương rèn luyện ta,
Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.
Dịch thơ:
Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 380-381)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2 (0.5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Câu 4 (1.0 điểm): Tai ương vốn là những điều tiêu cực, song trong bài thơ này, đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa gì?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm cho từng câu:
Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (kết hợp nghị luận).
Câu 2 (0.5 điểm):
Bài thơ được viết theo thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt (Đường luật).
Câu 3 (1.0 điểm):
Biện pháp tu từ: Phép đối (đối lập)
- “đông hàn” ↔ “xuân noãn”
- “tiều tụy cảnh” ↔ “huy hoàng”
Tác dụng:
Làm nổi bật quy luật tự nhiên và cuộc sống: phải có khó khăn, gian khổ (mùa đông) mới có thành công, tươi sáng (mùa xuân). Qua đó nhấn mạnh ý nghĩa của nghịch cảnh.
Câu 4 (1.0 điểm):
Trong bài thơ, tai ương không chỉ là điều tiêu cực mà còn:
- Là thử thách giúp con người rèn luyện bản thân
- Giúp tinh thần trở nên mạnh mẽ, kiên cường hơn
→ Tai ương trở thành động lực để trưởng thành và phát triển.
Câu 5 (1.0 điểm):
Bài học ý nghĩa nhất:
Con người cần biết vượt qua khó khăn, thử thách, xem đó là cơ hội để rèn luyện ý chí và hoàn thiện bản thân; không nên bi quan trước nghịch cảnh mà phải giữ tinh thần lạc quan, kiên cường.
Nếu bạn muốn, mình có thể viết luôn đoạn văn hoàn chỉnh (5–7 dòng) cho câu 5 để bạn chép vào bài nhé 👍
Bạn đã nói:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh.Câu 2 (4.0 điểm): Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của những thử thách trong cuộc sống.
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ cho cả hai câu:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ
Bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh là một lời tự khuyên giàu ý nghĩa về thái độ sống trước khó khăn, thử thách. Mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng hình ảnh đối lập giữa “đông hàn” và “xuân noãn” để khẳng định một quy luật tất yếu của tự nhiên: không có mùa đông giá lạnh thì không có mùa xuân ấm áp, huy hoàng. Từ quy luật ấy, Người liên hệ đến cuộc sống con người: những gian truân, tai ương chính là môi trường rèn luyện ý chí và tinh thần. Hai câu thơ sau thể hiện rõ quan niệm sống tích cực: tai ương không làm con người gục ngã mà ngược lại còn giúp tinh thần thêm “khẩn trương”, mạnh mẽ hơn. Bài thơ ngắn gọn nhưng hàm chứa triết lí sâu sắc: cần biết nhìn nhận khó khăn như một cơ hội để hoàn thiện bản thân. Qua đó, ta thấy được bản lĩnh kiên cường, tinh thần lạc quan và ý chí vượt lên nghịch cảnh của Hồ Chí Minh, đồng thời rút ra bài học quý giá cho mỗi người trong cuộc sống.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn khoảng 600 chữ
Trong hành trình sống của mỗi con người, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Có người e ngại, né tránh khó khăn, nhưng cũng có người dũng cảm đối mặt và trưởng thành từ chính những thử thách ấy. Thực tế cho thấy, thử thách không chỉ là trở ngại mà còn mang ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân.
Trước hết, thử thách là môi trường để con người rèn luyện ý chí và bản lĩnh. Khi đối diện với khó khăn, con người buộc phải nỗ lực, kiên trì và tìm cách vượt qua. Chính quá trình ấy giúp ta trở nên mạnh mẽ, tự tin hơn. Nếu cuộc sống chỉ toàn thuận lợi, con người sẽ dễ trở nên yếu đuối, thiếu khả năng ứng phó với biến cố. Giống như vàng phải qua lửa mới tinh luyện, con người cũng cần thử thách để hoàn thiện bản thân.
Bên cạnh đó, thử thách còn giúp con người nhận ra giá trị của thành công. Những thành quả đạt được sau nỗ lực vượt khó luôn mang ý nghĩa sâu sắc và đáng trân trọng hơn nhiều so với những điều có được một cách dễ dàng. Khi trải qua gian nan, ta học được cách kiên nhẫn, biết trân trọng công sức của bản thân và của người khác. Nhờ đó, cuộc sống trở nên ý nghĩa và đáng sống hơn.
Không chỉ vậy, thử thách còn mở ra cơ hội khám phá khả năng tiềm ẩn của con người. Nhiều người chỉ nhận ra sức mạnh và năng lực của mình khi bị đặt vào hoàn cảnh khó khăn. Chính nghịch cảnh đã giúp họ bứt phá, vượt qua giới hạn của bản thân. Trong lịch sử và cuộc sống, không ít tấm gương thành công đều trưởng thành từ gian khó, chứng minh rằng thử thách chính là bước đệm cho sự phát triển.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thái độ đúng đắn trước thử thách. Có người dễ dàng nản chí, buông xuôi khi gặp khó khăn, từ đó đánh mất cơ hội vươn lên. Điều quan trọng là mỗi người cần giữ vững tinh thần lạc quan, chủ động đối mặt và xem thử thách như một phần tất yếu của cuộc sống. Chỉ khi thay đổi cách nhìn nhận, ta mới có thể biến khó khăn thành động lực.
Tóm lại, thử thách giữ vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người. Đó không chỉ là phép thử của ý chí mà còn là cơ hội để mỗi người trưởng thành và hoàn thiện bản thân. Vì vậy, thay vì sợ hãi, chúng ta hãy dũng cảm đón nhận thử thách, bởi chính chúng sẽ giúp ta trở nên mạnh mẽ hơn và tiến gần hơn đến thành công.
Bạn đã nói:
TIẾC THƯƠNG SINH THÁIBước sang năm 2022, chúng ta nghe thấy và nhìn thấy biến đổi khí hậu ở mọi nơi, cả ở ngoài đời thực, cả trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật. Giữa một thế giới nơi tất cả các giọng nói - hay thậm chí là giọng hát - đều gợi nhắc về một thảm kịch toàn cầu đang cận kề, biến đổi khí hậu đã đi vào tâm thức của mọi người và tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần. Một hậu quả đáng chú ý là sự xuất hiện của hiện tượng tâm lí “tiếc thương sinh thái” (ecological grief).
Cụm từ “tiếc thương sinh thái” xuất hiện lần đầu trong một bài viết vào năm 2018 của hai nhà khoa học xã hội Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis, trong đó họ định nghĩa tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này có thể đa dạng, ví dụ như sự biến mất của các loài sinh vật hay sự thay đổi ở các cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần, song điểm chung là chúng đều do biến đổi khí hậu gây ra và đều khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân. Theo Cunsolo và Ellis, tiếc thương sinh thái là một phản ứng có thể đoán trước được, nhất là ở những cộng đồng vẫn còn sinh sống, làm việc và giữ các mối quan hệ văn hoá mật thiết với môi trường tự nhiên. Hai tác giả này đưa ra hai trường hợp cụ thể: những người Inuit ở miền Bắc Canada và những người làm nghề trồng trọt ở Australia. Lúc được hỏi về sự thay đổi môi trường chóng vánh ở nơi mình sống, cả hai cộng đồng này đều có chung những cảm xúc như nỗi thất vọng, u sầu, hay thậm chí là ý nghĩ muốn tự sát, mặc dù họ sinh sống ở hai nơi hoàn toàn khác nhau về mặt địa lí, phong tục tập quán, và còn bị ảnh hưởng bởi các loại thiên tai hoàn toàn khác nhau.
[...] Như bất kì vấn đề sức khỏe tâm thần nào khác, nỗi tiếc thương sinh thái ăn sâu vào tâm trí một người và thường xuyên đẩy họ vào trạng thái khủng hoảng hiện sinh. Cunsolo và Ellis ghi nhận câu trả lời của một người Inuit như sau: “Inuit là dân tộc băng biển. Băng biển không còn, làm sao chúng tôi còn là dân tộc băng biển được nữa?”. Và những cảm xúc như vậy thực sự cũng chẳng còn xa lạ gì nữa: khi rừng Amazon bốc cháy năm 2019, các tộc người bản địa ở Brazil như người Tenharim, người Guató và người Guarani đều đã nói rằng họ đang mất hết tất cả và khó có thể gìn giữ được truyền thống văn hoá của mình khi mà cánh rừng quê hương đang bốc cháy ngùn ngụt. [...] Có thể thấy, đối với người ở nơi “tiền tuyến” của biến đổi khí hậu - cho dù là cộng đồng địa phương hay là các nhà nghiên cứu thực địa, việc chứng kiến và cảm nhận trực tiếp hậu quả của biến đổi khí hậu đã để lại tác động tâm lí nghiêm trọng, bởi những người này đã lâu ngày gần gũi và gắn bó với môi trường đang bị hủy hoại. [...]
Tiếc thay, sau hàng thập kỉ biết đến mối nguy hại của biến đổi khí hậu, nỗi tiếc thương sinh thái đã bắt đầu ảnh hưởng tới cả người ở hậu phương. Tháng 12/2021, Caroline Hickman và cộng sự công bố một cuộc thăm dò về cảm xúc trước biến đổi khí hậu của 1,000 trẻ em và thanh thiếu niên từ mỗi quốc gia trong tổng số 10 nước Anh, Australia, Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Brazil, Hoa Kì, Nigeria, Pháp, Phần Lan và Philippines. Trong số những người được hỏi, 59% thấy “rất hoặc cực kì lo” về biến đổi khí hậu, và 45% thừa nhận rằng cảm xúc của họ về biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống thường ngày. Nỗi lo về biến đổi khí hậu và sự chấp nhận tận thế đang cận kề đều là các cảm xúc không hiếm gặp ở những người trẻ ngày nay, nhất là kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu.
(Nguyễn Bình, Báo điện tử Tia sáng, 25/1/2022)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Theo bài viết trên, hiện tượng tiếc thương sinh thái là gì?
Câu 2. Bài viết trên trình bày thông tin theo trình tự nào?
Câu 3. Tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào để cung cấp thông tin cho người đọc?
Câu 4. Anh/chị hãy nhận xét về cách tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu của tác giả trong văn bản.
Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất mà anh/chị nhận được từ bài viết trên là gì?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (840)
II. VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1. (2.0 điểm) Từ phần đọc hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng người ẩn sĩ được khắc họa qua hai bài thơ sau:
NHÀN
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến bóng cây ta hãy uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Khoa học Xã hội, 2021)
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
(Nguyễn Khuyến, NXB Hội Nhà văn, 2015)
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời đầy đủ, ngắn gọn – đúng ý cho từng phần:
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Hiện tượng “tiếc thương sinh thái” là nỗi đau buồn, mất mát của con người trước sự suy thoái của môi trường tự nhiên do biến đổi khí hậu gây ra, tương tự như cảm giác mất đi người thân.
Câu 2:
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự:
→ Giải thích khái niệm → phân tích, đưa dẫn chứng cụ thể → mở rộng vấn đề → nêu thực trạng hiện nay.
Câu 3:
Tác giả sử dụng các bằng chứng:
- Nghiên cứu khoa học của Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis
- Trường hợp thực tế: người Inuit (Canada), nông dân Australia
- Dẫn chứng sự kiện: cháy rừng Amazon 2019
- Số liệu khảo sát (Caroline Hickman, 2021 về giới trẻ nhiều quốc gia)
→ Những dẫn chứng đa dạng, xác thực, có tính thuyết phục cao.
Câu 4:
Cách tiếp cận của tác giả:
- Mới mẻ, nhân văn: tiếp cận biến đổi khí hậu từ góc độ tâm lí con người
- Không chỉ nói về thiệt hại vật chất mà còn nhấn mạnh tổn thương tinh thần
→ Giúp người đọc nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về vấn đề.
Câu 5:
Thông điệp sâu sắc nhất:
→ Con người cần ý thức rõ hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, từ đó có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống, bởi thiên nhiên không chỉ là nơi tồn tại mà còn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của chúng ta.
II. VIẾT
Câu 1 (2.0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ cấp thiết nhất của con người hiện nay. Môi trường không chỉ cung cấp tài nguyên, điều kiện sống mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người. Khi môi trường bị ô nhiễm, biến đổi khí hậu gia tăng, con người phải đối mặt với hàng loạt hậu quả nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh và cả những khủng hoảng tâm lí như “tiếc thương sinh thái”. Điều đó cho thấy thiên nhiên không hề xa lạ mà gắn bó mật thiết với đời sống của mỗi cá nhân. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chính mình. Mỗi người có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ như tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh hay nâng cao ý thức cộng đồng. Đồng thời, cần lên án những hành vi phá hoại môi trường. Chỉ khi con người sống hài hòa với thiên nhiên, chúng ta mới có thể hướng tới một tương lai bền vững và tốt đẹp hơn.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn ~600 chữ
Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, xa lánh danh lợi. Qua bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng này hiện lên vừa có điểm tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng biệt.
Trước hết, ở cả hai bài thơ, người ẩn sĩ đều lựa chọn cuộc sống hòa mình với thiên nhiên, tránh xa vòng danh lợi. Trong Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa một cuộc sống giản dị với “mai, cuốc, cần câu”, ngày ngày ung dung lao động và tận hưởng thiên nhiên. Còn ở bài thơ của Nguyễn Khuyến, không gian thu hiện lên tĩnh lặng, trong trẻo với trời cao, nước biếc, ánh trăng, tất cả tạo nên một thế giới thanh bình, yên ả. Qua đó, cả hai nhà thơ đều thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên là nơi nương náu tinh thần.
Tuy nhiên, hình tượng người ẩn sĩ ở mỗi tác giả lại mang những nét riêng. Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là một sự lựa chọn dứt khoát và chủ động. Ông tự nhận mình “dại” để đối lập với “người khôn” nơi chốn quan trường, từ đó khẳng định lối sống xa lánh danh lợi, coi phú quý chỉ là “chiêm bao”. Lối sống ấy thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và nhân cách cao đẹp của một bậc trí giả. Ngược lại, ở Nguyễn Khuyến, ẩn sĩ không hoàn toàn là sự an nhiên tuyệt đối. Đằng sau bức tranh thu tĩnh lặng là một nỗi niềm trăn trở, một sự “thẹn với ông Đào” – tức Đào Tiềm. Điều đó cho thấy nhà thơ vẫn còn nặng lòng với thời cuộc, chưa thể hoàn toàn dứt bỏ thế sự.
Ngoài ra, giọng điệu hai bài thơ cũng có sự khác biệt. Nhàn mang giọng điệu nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, thể hiện quan niệm sống rõ ràng. Trong khi đó, bài thơ của Nguyễn Khuyến lại mang nét trầm lắng, suy tư, pha chút day dứt. Điều này góp phần làm nổi bật hai kiểu ẩn sĩ: một người ung dung, tự tại; một người ẩn dật mà vẫn nặng lòng với đời.
Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp thanh cao, gắn bó với thiên nhiên và xa lánh danh lợi. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại gửi gắm vào đó những tâm tư riêng, phản ánh hoàn cảnh và cá tính khác nhau. Điều này không chỉ làm phong phú hình tượng ẩn sĩ trong văn học mà còn giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về tâm hồn và nhân cách của các nhà thơ trung đại Việt Nam.
Bạn đã nói:
Học trực tuyến OLMLớp 12
Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo cuối kì II - Đề số 2
olm
Bài GV giao
ND
Đề số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (1186)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
CON YÊU CON GHÉT
Lược phần đầu: Bớt và Nở đều là con gái bà Ngải nhưng lại nhận sự đối xử phân biệt yêu ghét trái ngược từ mẹ đến mức Bớt từng phải ấm ức khóc ầm ĩ: "Bu đừng có con yêu con ghét! Được, đã thế xem sau này bu già, một mình cái Nở có nuôi bu không, hay lúc ấy lại phải gọi đến tôi?". Sau này hai cô con gái đi lấy chồng, bà vẫn đối xử kiểu phân biệt, có gì cũng bù trì cho Nở, tiền nong gửi cả Nở nhưng rồi lại bị chính Nở dáo dở lấy hết tiền gom góp dành dụm của bà. Bà giận, khóa cửa, xuống cuối làng ở với mẹ con Bớt.
[...] Thấy mẹ đem quần áo nồi niêu đến ở chung, Bớt rất mừng. Nhưng chị cố gặng mẹ cho hết lẽ:
- Bu nghĩ kĩ đi. Chẳng sau này lại phiền bu ra, như chị Nở thì con không muốn...
Nghe con nhắc đến thế thì cụ lại ngượng. Bà cụ gượng cười:
- Mày khác, nó khác. Với cái gì mà phải nghĩ hở con? Đây này, bu cứ tính thế này: Bao giờ đánh xong thằng Mỹ, bố con Hiên với cậu Tấn nó về, lúc bấy giờ ở đâu rồi hãy hay. Còn bây giờ bu cứ ở đây với mẹ con mày, chứ bu ở trên ấy một mình, vong vóng cũng buồn, mà mẹ con mày dưới này thì bấn quá. Mày thì đã lắm thứ công tác. Lại còn lo làm điểm lấy thóc nuôi con...
Từ ngày bà đến ở chung, Bớt như người được cất đi một gánh nặng trên vai. Giờ Bớt chỉ lo công tác với ra đồng làm, giá có phải đi họp hay đi học dăm bảy ngày liền như lớp học chống sâu bệnh cho lúa vừa rồi, là Bớt có thể yên trí đùm gạo đi được, không phải như cái đận ngày xưa vừa họp đấy, mà bụng thì nôn lên với mấy đứa con còn vất vạ ra ở nhà, gửi liều cho hàng xóm. Mấy đứa trẻ được bà trông, chỉ vài tháng đã lớn, béo ra trông thấy. [...]
[...] Bớt kéo con vào lòng, vạch tóc con ra và chỉ vào cái sẹo to bằng cái trôn bát ở gần đỉnh đầu, vô tình kể với bà:
- Còn bố nó ở nhà, bố nó thương con này nhất, bố nó cứ bảo: Tội! Con gái xấu xí.
Bà cụ thở dài và buột miệng cái điều mà bà vẫn lấy làm ân hận:
- Ừ, đáng ra là thế, con nào chả là con. Có mẹ cổ nhân cổ sơ, ngày xưa mẹ mới dọa ra thế chứ!
Bớt vội buông bé Hiên, ôm lấy mẹ:
- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?
1966 - 1974
(Vũ Thị Thường, Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1945 - 2005, NXB Công an Nhân dân, 2005, tr.20 - 23)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn)
Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện.
Câu 2. Chỉ ra một số chi tiết về cách ứng xử của chị Bớt Dương trong văn bản cho thấy chị không giận mẹ dù trước đó từng bị mẹ phân biệt đối xử.
Câu 3. Qua đoạn trích, anh/chị thấy nhân vật Bớt là người như thế nào?
Câu 4. Hành động ôm lấy vai mẹ và câu nói của chị Bớt: "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?" có ý nghĩa gì?
Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống hôm nay và lí giải tại sao.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (1075)
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1 (2.0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của bức tranh quê trong đoạn thơ sau:
Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đưa,
Đầu thềm con chó ngủ lơ mơ,
Bóng cây lơi lả bên hàng dậu,
Đêm vắng, người im, cảnh lặng tờ.
Ông lão nằm chơi ở giữa sân,
Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân.
Thằng cu đứng vịn bên thành chõng,
Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân.
(Trích Trăng hè, Đoàn Văn Cừ, Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân, NXB Văn học, 2005, tr.190 - 191)
Câu 2 (4.0 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ hiện nay.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ, rõ ý cho từng phần:
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1:
Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
Câu 2:
Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ:
- Vui mừng khi mẹ đến ở cùng
- Gặng hỏi mẹ nhưng với thái độ lo lắng, chân thành, không trách móc
- Chăm sóc, đón nhận mẹ về sống chung
- Khi mẹ áy náy, chị ôm mẹ và trấn an
Câu 3:
Nhân vật Bớt là người:
- Hiếu thảo, bao dung
- Nhân hậu, giàu tình cảm
- Chịu thương chịu khó, có trách nhiệm với gia đình
→ Là hình ảnh đẹp của người phụ nữ nông thôn.
Câu 4:
Ý nghĩa:
- Thể hiện tình yêu thương, sự cảm thông sâu sắc của Bớt dành cho mẹ
- Giúp mẹ giải tỏa mặc cảm, ân hận
- Khẳng định đức tính bao dung, vị tha của người con
Câu 5:
Thông điệp:
→ Trong gia đình, cần yêu thương công bằng, đồng thời mỗi người con cũng nên biết bao dung, thấu hiểu cha mẹ.
Lí giải:
Vì tình cảm gia đình chỉ bền vững khi có sự yêu thương, cảm thông từ cả hai phía; sự vị tha giúp hàn gắn những tổn thương và giữ gìn hạnh phúc.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Đoạn thơ trong bài Trăng hè của Đoàn Văn Cừ đã vẽ nên một bức tranh làng quê yên bình, giản dị mà giàu sức gợi. Không gian được mở ra trong đêm hè tĩnh lặng với những âm thanh quen thuộc như “tiếng võng kẽo kẹt”, hình ảnh “con chó ngủ lơ mơ”, “bóng cây lơi lả” tạo nên nhịp điệu chậm rãi, êm đềm. Cảnh vật dường như hòa vào sự yên tĩnh tuyệt đối của “đêm vắng, người im”. Sang khổ thơ sau, bức tranh trở nên sinh động hơn với hình ảnh con người: ông lão nằm nghỉ, đứa trẻ thơ ngây, con mèo quấn quýt dưới chân. Ánh trăng lan tỏa khiến cảnh vật trở nên lung linh, huyền ảo. Tất cả tạo nên một bức tranh quê vừa gần gũi, vừa ấm áp tình người. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu tha thiết với cuộc sống thôn quê và gợi nhắc người đọc trân trọng những khoảnh khắc bình dị trong đời sống.
Câu 2 (4,0 điểm): Bài văn ~600 chữ
Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất của đời người, là lúc con người có nhiều khát vọng, hoài bão và năng lượng để theo đuổi ước mơ. Trong xã hội hiện đại, sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ không chỉ là yếu tố quyết định thành công cá nhân mà còn góp phần tạo nên sự phát triển của đất nước.
Trước hết, nỗ lực hết mình là việc mỗi người trẻ dám dấn thân, không ngừng học hỏi và cố gắng vượt qua giới hạn của bản thân. Đó không chỉ là sự chăm chỉ trong học tập mà còn là tinh thần cầu tiến, sẵn sàng đối mặt với thử thách. Khi nỗ lực, con người sẽ tích lũy được tri thức, kĩ năng và kinh nghiệm – những yếu tố cần thiết để thành công trong tương lai. Ngược lại, nếu sống thụ động, lười biếng, tuổi trẻ sẽ trôi qua một cách vô nghĩa.
Bên cạnh đó, sự nỗ lực của tuổi trẻ còn thể hiện trách nhiệm đối với gia đình và xã hội. Những người trẻ biết cố gắng sẽ không chỉ xây dựng được cuộc sống tốt đẹp cho bản thân mà còn đóng góp vào sự phát triển chung. Trong thời đại hội nhập, đất nước rất cần những con người năng động, sáng tạo và không ngừng vươn lên. Chính vì vậy, mỗi cá nhân trẻ cần ý thức rõ vai trò của mình để sống có mục tiêu và lí tưởng.
Tuy nhiên, nỗ lực không có nghĩa là lao vào làm việc một cách mù quáng hay bất chấp tất cả. Người trẻ cần có phương hướng đúng đắn, biết cân bằng giữa học tập, làm việc và nghỉ ngơi. Đồng thời, cũng cần tránh tâm lí so sánh, chạy theo thành tích mà quên đi giá trị thực sự của bản thân. Nỗ lực chân chính phải đi kèm với sự kiên trì, bền bỉ và tinh thần học hỏi không ngừng.
Trong thực tế, có rất nhiều tấm gương người trẻ thành công nhờ nỗ lực. Họ xuất phát từ hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn kiên trì theo đuổi ước mơ, từng bước khẳng định bản thân. Những câu chuyện ấy là nguồn cảm hứng lớn, thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay sống tích cực hơn, có trách nhiệm hơn với cuộc đời mình.
Tóm lại, nỗ lực hết mình là chìa khóa giúp tuổi trẻ chinh phục ước mơ và khẳng định giá trị bản thân. Vì vậy, mỗi người trẻ cần sống có mục tiêu, dám nghĩ dám làm và không ngừng cố gắng. Chỉ khi tận dụng tốt quãng thời gian quý giá này, chúng ta mới có thể tạo dựng một tương lai vững chắc và ý nghĩa.
Bạn đã nói:
Học trực tuyến OLMLớp 12
Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo cuối kì II - Đề số 3
olm
Bài GV giao
ND
Đề số 3 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
BÀN GIAO
Rồi ông sẽ bàn giao cho cháu
Bàn giao gió heo may
Bàn giao góc phố
Có mùi ngô nướng bay
Ông sẽ chẳng bàn giao những tháng ngày vất vả
Sương muối đêm bay lạnh mặt người
Đất rung chuyển, xóm làng loạn lạc
Ngọn đèn mờ, mưa bụi rơi
Ông bàn giao tháng giêng hương bưởi
Cỏ mùa xuân xanh dưới chân giày
Bàn giao những mặt người đẫm nắng
Đẫm yêu thương trên trái đất này
Ông chỉ bàn giao một chút buồn
Ngậm ngùi một chút, chút cô đơn
Câu thơ vững gót làm người ấy*
Ông cũng bàn giao cho cháu luôn.
(Theo Vũ Quần Phương, Văn nghệ quân đội, Xuân Giáp Ngọ 2014, tr.86)
Chú thích:
* Câu thơ Cắn răng mà chịu thiệt, vững gót để làm người.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2. Trong bài thơ, nhân vật người ông sẽ bàn giao cho cháu những thứ gì?
Câu 3. Ở khổ thơ thứ hai, có những thứ mà người ông chẳng bàn giao cho cháu. Theo anh/chị, vì sao người ông lại không muốn bàn giao cho cháu những thứ đó?
Câu 4. Chỉ ra và phân tích biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong bài thơ.
Câu 5. Chúng ta hôm nay đã nhận bàn giao từ thế hệ cha ông đi trước rất nhiều điều quý giá, thiêng liêng. Theo anh/chị, chúng ta cần có thái độ gì trước những điều được bàn giao ấy? (Bày tỏ bằng đoạn văn 5 - 7 câu)
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (458)
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về bài thơ ở phần đọc hiểu.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn (khoảng 600 chữ) nêu suy nghĩ về vấn đề tuổi trẻ và sự trải nghiệm.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ, rõ ràng cho đề số 3:
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1:
Thể thơ: Thơ tự do.
Câu 2:
Người ông bàn giao cho cháu:
- Gió heo may, góc phố, mùi ngô nướng
- Tháng giêng hương bưởi, cỏ mùa xuân
- Những con người “đẫm nắng, đẫm yêu thương”
- Một chút buồn, chút cô đơn
- Bài học làm người (ý chí, nghị lực)
Câu 3:
Người ông không bàn giao những tháng ngày vất vả vì:
- Đó là những đau khổ, mất mát, chiến tranh, gian truân mà ông từng trải qua
- Ông không muốn thế hệ sau phải chịu những khó khăn ấy
→ Thể hiện tình yêu thương, sự che chở và mong muốn cháu có cuộc sống tốt đẹp hơn.
Câu 4:
Điệp ngữ: “bàn giao”
Tác dụng:
- Nhấn mạnh hành động trao truyền giữa các thế hệ
- Tạo nhịp điệu cho bài thơ
- Làm nổi bật ý nghĩa: sự kế thừa những giá trị tốt đẹp của cuộc sống và con người
Câu 5 (5–7 câu):
Chúng ta cần có thái độ trân trọng và biết ơn trước những giá trị mà thế hệ cha ông đã bàn giao. Đó không chỉ là thiên nhiên tươi đẹp mà còn là những bài học quý giá về cách sống, cách làm người. Mỗi người cần có ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị ấy để không phụ công lao của thế hệ đi trước. Đồng thời, chúng ta cũng phải có trách nhiệm tiếp nối, xây dựng và phát triển những điều tốt đẹp hơn cho tương lai. Nếu thờ ơ hoặc lãng phí những giá trị được trao truyền, chúng ta sẽ đánh mất những nền tảng quan trọng của cuộc sống. Vì vậy, sống có trách nhiệm chính là cách tốt nhất để đáp lại sự “bàn giao” thiêng liêng ấy.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Bài thơ Bàn giao của Vũ Quần Phương
Chúng tôi sử dụng cookie
Chúng tôi sử dụng cookie để hỗ trợ trang web này hoạt động, hiểu rõ cách dịch vụ được sử dụng và hỗ trợ các hoạt động tiếp thị. Vui lòng truy cập mục Quản lý cookie để thay đổi tùy chọn bất cứ lúc nào. Xem Chính sách cookie của chúng tôi để biết thêm thông tin.
Quản lý cookie Từ chối cookie không thiết yếu Chấp nhận tất cảẢnh Ứng dụng Nghiên cứu chuyên sâu Sức khỏe Xem các gói dịch vụ và mức giá Cài đặt Trợ giúp
Nhận phản hồi phù hợp với nhu cầu của bạn
Đăng nhập để nhận câu trả lời dựa trên các đoạn chat đã lưu, cũng như tạo hình ảnh và tải lên tệp.
Đăng nhập ChatGPT Đăng nhập Đăng ký miễn phíBạn đã nói:
Lớp 12Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo giữa kì II - Đề số 2
olm
Bài GV giao
ND
Đề tham khảo giữa kì số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (761)
(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
TỰ MIỄN
(Tự khuyên mình)
Phiên âm:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,
Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.
Dịch nghĩa:
Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,
Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;
Tai ương rèn luyện ta,
Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.
Dịch thơ:
Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 380-381)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2 (0.5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Câu 4 (1.0 điểm): Tai ương vốn là những điều tiêu cực, song trong bài thơ này, đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa gì?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm cho từng câu:
Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (kết hợp nghị luận).
Câu 2 (0.5 điểm):
Bài thơ được viết theo thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt (Đường luật).
Câu 3 (1.0 điểm):
Biện pháp tu từ: Phép đối (đối lập)
- “đông hàn” ↔ “xuân noãn”
- “tiều tụy cảnh” ↔ “huy hoàng”
Tác dụng:
Làm nổi bật quy luật tự nhiên và cuộc sống: phải có khó khăn, gian khổ (mùa đông) mới có thành công, tươi sáng (mùa xuân). Qua đó nhấn mạnh ý nghĩa của nghịch cảnh.
Câu 4 (1.0 điểm):
Trong bài thơ, tai ương không chỉ là điều tiêu cực mà còn:
- Là thử thách giúp con người rèn luyện bản thân
- Giúp tinh thần trở nên mạnh mẽ, kiên cường hơn
→ Tai ương trở thành động lực để trưởng thành và phát triển.
Câu 5 (1.0 điểm):
Bài học ý nghĩa nhất:
Con người cần biết vượt qua khó khăn, thử thách, xem đó là cơ hội để rèn luyện ý chí và hoàn thiện bản thân; không nên bi quan trước nghịch cảnh mà phải giữ tinh thần lạc quan, kiên cường.
Nếu bạn muốn, mình có thể viết luôn đoạn văn hoàn chỉnh (5–7 dòng) cho câu 5 để bạn chép vào bài nhé 👍
Bạn đã nói:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh.Câu 2 (4.0 điểm): Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của những thử thách trong cuộc sống.
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ cho cả hai câu:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ
Bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh là một lời tự khuyên giàu ý nghĩa về thái độ sống trước khó khăn, thử thách. Mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng hình ảnh đối lập giữa “đông hàn” và “xuân noãn” để khẳng định một quy luật tất yếu của tự nhiên: không có mùa đông giá lạnh thì không có mùa xuân ấm áp, huy hoàng. Từ quy luật ấy, Người liên hệ đến cuộc sống con người: những gian truân, tai ương chính là môi trường rèn luyện ý chí và tinh thần. Hai câu thơ sau thể hiện rõ quan niệm sống tích cực: tai ương không làm con người gục ngã mà ngược lại còn giúp tinh thần thêm “khẩn trương”, mạnh mẽ hơn. Bài thơ ngắn gọn nhưng hàm chứa triết lí sâu sắc: cần biết nhìn nhận khó khăn như một cơ hội để hoàn thiện bản thân. Qua đó, ta thấy được bản lĩnh kiên cường, tinh thần lạc quan và ý chí vượt lên nghịch cảnh của Hồ Chí Minh, đồng thời rút ra bài học quý giá cho mỗi người trong cuộc sống.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn khoảng 600 chữ
Trong hành trình sống của mỗi con người, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Có người e ngại, né tránh khó khăn, nhưng cũng có người dũng cảm đối mặt và trưởng thành từ chính những thử thách ấy. Thực tế cho thấy, thử thách không chỉ là trở ngại mà còn mang ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân.
Trước hết, thử thách là môi trường để con người rèn luyện ý chí và bản lĩnh. Khi đối diện với khó khăn, con người buộc phải nỗ lực, kiên trì và tìm cách vượt qua. Chính quá trình ấy giúp ta trở nên mạnh mẽ, tự tin hơn. Nếu cuộc sống chỉ toàn thuận lợi, con người sẽ dễ trở nên yếu đuối, thiếu khả năng ứng phó với biến cố. Giống như vàng phải qua lửa mới tinh luyện, con người cũng cần thử thách để hoàn thiện bản thân.
Bên cạnh đó, thử thách còn giúp con người nhận ra giá trị của thành công. Những thành quả đạt được sau nỗ lực vượt khó luôn mang ý nghĩa sâu sắc và đáng trân trọng hơn nhiều so với những điều có được một cách dễ dàng. Khi trải qua gian nan, ta học được cách kiên nhẫn, biết trân trọng công sức của bản thân và của người khác. Nhờ đó, cuộc sống trở nên ý nghĩa và đáng sống hơn.
Không chỉ vậy, thử thách còn mở ra cơ hội khám phá khả năng tiềm ẩn của con người. Nhiều người chỉ nhận ra sức mạnh và năng lực của mình khi bị đặt vào hoàn cảnh khó khăn. Chính nghịch cảnh đã giúp họ bứt phá, vượt qua giới hạn của bản thân. Trong lịch sử và cuộc sống, không ít tấm gương thành công đều trưởng thành từ gian khó, chứng minh rằng thử thách chính là bước đệm cho sự phát triển.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thái độ đúng đắn trước thử thách. Có người dễ dàng nản chí, buông xuôi khi gặp khó khăn, từ đó đánh mất cơ hội vươn lên. Điều quan trọng là mỗi người cần giữ vững tinh thần lạc quan, chủ động đối mặt và xem thử thách như một phần tất yếu của cuộc sống. Chỉ khi thay đổi cách nhìn nhận, ta mới có thể biến khó khăn thành động lực.
Tóm lại, thử thách giữ vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người. Đó không chỉ là phép thử của ý chí mà còn là cơ hội để mỗi người trưởng thành và hoàn thiện bản thân. Vì vậy, thay vì sợ hãi, chúng ta hãy dũng cảm đón nhận thử thách, bởi chính chúng sẽ giúp ta trở nên mạnh mẽ hơn và tiến gần hơn đến thành công.
Bạn đã nói:
TIẾC THƯƠNG SINH THÁIBước sang năm 2022, chúng ta nghe thấy và nhìn thấy biến đổi khí hậu ở mọi nơi, cả ở ngoài đời thực, cả trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật. Giữa một thế giới nơi tất cả các giọng nói - hay thậm chí là giọng hát - đều gợi nhắc về một thảm kịch toàn cầu đang cận kề, biến đổi khí hậu đã đi vào tâm thức của mọi người và tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần. Một hậu quả đáng chú ý là sự xuất hiện của hiện tượng tâm lí “tiếc thương sinh thái” (ecological grief).
Cụm từ “tiếc thương sinh thái” xuất hiện lần đầu trong một bài viết vào năm 2018 của hai nhà khoa học xã hội Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis, trong đó họ định nghĩa tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này có thể đa dạng, ví dụ như sự biến mất của các loài sinh vật hay sự thay đổi ở các cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần, song điểm chung là chúng đều do biến đổi khí hậu gây ra và đều khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân. Theo Cunsolo và Ellis, tiếc thương sinh thái là một phản ứng có thể đoán trước được, nhất là ở những cộng đồng vẫn còn sinh sống, làm việc và giữ các mối quan hệ văn hoá mật thiết với môi trường tự nhiên. Hai tác giả này đưa ra hai trường hợp cụ thể: những người Inuit ở miền Bắc Canada và những người làm nghề trồng trọt ở Australia. Lúc được hỏi về sự thay đổi môi trường chóng vánh ở nơi mình sống, cả hai cộng đồng này đều có chung những cảm xúc như nỗi thất vọng, u sầu, hay thậm chí là ý nghĩ muốn tự sát, mặc dù họ sinh sống ở hai nơi hoàn toàn khác nhau về mặt địa lí, phong tục tập quán, và còn bị ảnh hưởng bởi các loại thiên tai hoàn toàn khác nhau.
[...] Như bất kì vấn đề sức khỏe tâm thần nào khác, nỗi tiếc thương sinh thái ăn sâu vào tâm trí một người và thường xuyên đẩy họ vào trạng thái khủng hoảng hiện sinh. Cunsolo và Ellis ghi nhận câu trả lời của một người Inuit như sau: “Inuit là dân tộc băng biển. Băng biển không còn, làm sao chúng tôi còn là dân tộc băng biển được nữa?”. Và những cảm xúc như vậy thực sự cũng chẳng còn xa lạ gì nữa: khi rừng Amazon bốc cháy năm 2019, các tộc người bản địa ở Brazil như người Tenharim, người Guató và người Guarani đều đã nói rằng họ đang mất hết tất cả và khó có thể gìn giữ được truyền thống văn hoá của mình khi mà cánh rừng quê hương đang bốc cháy ngùn ngụt. [...] Có thể thấy, đối với người ở nơi “tiền tuyến” của biến đổi khí hậu - cho dù là cộng đồng địa phương hay là các nhà nghiên cứu thực địa, việc chứng kiến và cảm nhận trực tiếp hậu quả của biến đổi khí hậu đã để lại tác động tâm lí nghiêm trọng, bởi những người này đã lâu ngày gần gũi và gắn bó với môi trường đang bị hủy hoại. [...]
Tiếc thay, sau hàng thập kỉ biết đến mối nguy hại của biến đổi khí hậu, nỗi tiếc thương sinh thái đã bắt đầu ảnh hưởng tới cả người ở hậu phương. Tháng 12/2021, Caroline Hickman và cộng sự công bố một cuộc thăm dò về cảm xúc trước biến đổi khí hậu của 1,000 trẻ em và thanh thiếu niên từ mỗi quốc gia trong tổng số 10 nước Anh, Australia, Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Brazil, Hoa Kì, Nigeria, Pháp, Phần Lan và Philippines. Trong số những người được hỏi, 59% thấy “rất hoặc cực kì lo” về biến đổi khí hậu, và 45% thừa nhận rằng cảm xúc của họ về biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống thường ngày. Nỗi lo về biến đổi khí hậu và sự chấp nhận tận thế đang cận kề đều là các cảm xúc không hiếm gặp ở những người trẻ ngày nay, nhất là kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu.
(Nguyễn Bình, Báo điện tử Tia sáng, 25/1/2022)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Theo bài viết trên, hiện tượng tiếc thương sinh thái là gì?
Câu 2. Bài viết trên trình bày thông tin theo trình tự nào?
Câu 3. Tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào để cung cấp thông tin cho người đọc?
Câu 4. Anh/chị hãy nhận xét về cách tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu của tác giả trong văn bản.
Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất mà anh/chị nhận được từ bài viết trên là gì?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (840)
II. VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1. (2.0 điểm) Từ phần đọc hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng người ẩn sĩ được khắc họa qua hai bài thơ sau:
NHÀN
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến bóng cây ta hãy uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Khoa học Xã hội, 2021)
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
(Nguyễn Khuyến, NXB Hội Nhà văn, 2015)
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời đầy đủ, ngắn gọn – đúng ý cho từng phần:
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Hiện tượng “tiếc thương sinh thái” là nỗi đau buồn, mất mát của con người trước sự suy thoái của môi trường tự nhiên do biến đổi khí hậu gây ra, tương tự như cảm giác mất đi người thân.
Câu 2:
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự:
→ Giải thích khái niệm → phân tích, đưa dẫn chứng cụ thể → mở rộng vấn đề → nêu thực trạng hiện nay.
Câu 3:
Tác giả sử dụng các bằng chứng:
- Nghiên cứu khoa học của Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis
- Trường hợp thực tế: người Inuit (Canada), nông dân Australia
- Dẫn chứng sự kiện: cháy rừng Amazon 2019
- Số liệu khảo sát (Caroline Hickman, 2021 về giới trẻ nhiều quốc gia)
→ Những dẫn chứng đa dạng, xác thực, có tính thuyết phục cao.
Câu 4:
Cách tiếp cận của tác giả:
- Mới mẻ, nhân văn: tiếp cận biến đổi khí hậu từ góc độ tâm lí con người
- Không chỉ nói về thiệt hại vật chất mà còn nhấn mạnh tổn thương tinh thần
→ Giúp người đọc nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về vấn đề.
Câu 5:
Thông điệp sâu sắc nhất:
→ Con người cần ý thức rõ hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, từ đó có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống, bởi thiên nhiên không chỉ là nơi tồn tại mà còn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của chúng ta.
II. VIẾT
Câu 1 (2.0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ cấp thiết nhất của con người hiện nay. Môi trường không chỉ cung cấp tài nguyên, điều kiện sống mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người. Khi môi trường bị ô nhiễm, biến đổi khí hậu gia tăng, con người phải đối mặt với hàng loạt hậu quả nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh và cả những khủng hoảng tâm lí như “tiếc thương sinh thái”. Điều đó cho thấy thiên nhiên không hề xa lạ mà gắn bó mật thiết với đời sống của mỗi cá nhân. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chính mình. Mỗi người có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ như tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh hay nâng cao ý thức cộng đồng. Đồng thời, cần lên án những hành vi phá hoại môi trường. Chỉ khi con người sống hài hòa với thiên nhiên, chúng ta mới có thể hướng tới một tương lai bền vững và tốt đẹp hơn.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn ~600 chữ
Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, xa lánh danh lợi. Qua bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng này hiện lên vừa có điểm tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng biệt.
Trước hết, ở cả hai bài thơ, người ẩn sĩ đều lựa chọn cuộc sống hòa mình với thiên nhiên, tránh xa vòng danh lợi. Trong Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa một cuộc sống giản dị với “mai, cuốc, cần câu”, ngày ngày ung dung lao động và tận hưởng thiên nhiên. Còn ở bài thơ của Nguyễn Khuyến, không gian thu hiện lên tĩnh lặng, trong trẻo với trời cao, nước biếc, ánh trăng, tất cả tạo nên một thế giới thanh bình, yên ả. Qua đó, cả hai nhà thơ đều thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên là nơi nương náu tinh thần.
Tuy nhiên, hình tượng người ẩn sĩ ở mỗi tác giả lại mang những nét riêng. Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là một sự lựa chọn dứt khoát và chủ động. Ông tự nhận mình “dại” để đối lập với “người khôn” nơi chốn quan trường, từ đó khẳng định lối sống xa lánh danh lợi, coi phú quý chỉ là “chiêm bao”. Lối sống ấy thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và nhân cách cao đẹp của một bậc trí giả. Ngược lại, ở Nguyễn Khuyến, ẩn sĩ không hoàn toàn là sự an nhiên tuyệt đối. Đằng sau bức tranh thu tĩnh lặng là một nỗi niềm trăn trở, một sự “thẹn với ông Đào” – tức Đào Tiềm. Điều đó cho thấy nhà thơ vẫn còn nặng lòng với thời cuộc, chưa thể hoàn toàn dứt bỏ thế sự.
Ngoài ra, giọng điệu hai bài thơ cũng có sự khác biệt. Nhàn mang giọng điệu nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, thể hiện quan niệm sống rõ ràng. Trong khi đó, bài thơ của Nguyễn Khuyến lại mang nét trầm lắng, suy tư, pha chút day dứt. Điều này góp phần làm nổi bật hai kiểu ẩn sĩ: một người ung dung, tự tại; một người ẩn dật mà vẫn nặng lòng với đời.
Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp thanh cao, gắn bó với thiên nhiên và xa lánh danh lợi. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại gửi gắm vào đó những tâm tư riêng, phản ánh hoàn cảnh và cá tính khác nhau. Điều này không chỉ làm phong phú hình tượng ẩn sĩ trong văn học mà còn giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về tâm hồn và nhân cách của các nhà thơ trung đại Việt Nam.
Bạn đã nói:
Học trực tuyến OLMLớp 12
Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo cuối kì II - Đề số 2
olm
Bài GV giao
ND
Đề số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (1186)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
CON YÊU CON GHÉT
Lược phần đầu: Bớt và Nở đều là con gái bà Ngải nhưng lại nhận sự đối xử phân biệt yêu ghét trái ngược từ mẹ đến mức Bớt từng phải ấm ức khóc ầm ĩ: "Bu đừng có con yêu con ghét! Được, đã thế xem sau này bu già, một mình cái Nở có nuôi bu không, hay lúc ấy lại phải gọi đến tôi?". Sau này hai cô con gái đi lấy chồng, bà vẫn đối xử kiểu phân biệt, có gì cũng bù trì cho Nở, tiền nong gửi cả Nở nhưng rồi lại bị chính Nở dáo dở lấy hết tiền gom góp dành dụm của bà. Bà giận, khóa cửa, xuống cuối làng ở với mẹ con Bớt.
[...] Thấy mẹ đem quần áo nồi niêu đến ở chung, Bớt rất mừng. Nhưng chị cố gặng mẹ cho hết lẽ:
- Bu nghĩ kĩ đi. Chẳng sau này lại phiền bu ra, như chị Nở thì con không muốn...
Nghe con nhắc đến thế thì cụ lại ngượng. Bà cụ gượng cười:
- Mày khác, nó khác. Với cái gì mà phải nghĩ hở con? Đây này, bu cứ tính thế này: Bao giờ đánh xong thằng Mỹ, bố con Hiên với cậu Tấn nó về, lúc bấy giờ ở đâu rồi hãy hay. Còn bây giờ bu cứ ở đây với mẹ con mày, chứ bu ở trên ấy một mình, vong vóng cũng buồn, mà mẹ con mày dưới này thì bấn quá. Mày thì đã lắm thứ công tác. Lại còn lo làm điểm lấy thóc nuôi con...
Từ ngày bà đến ở chung, Bớt như người được cất đi một gánh nặng trên vai. Giờ Bớt chỉ lo công tác với ra đồng làm, giá có phải đi họp hay đi học dăm bảy ngày liền như lớp học chống sâu bệnh cho lúa vừa rồi, là Bớt có thể yên trí đùm gạo đi được, không phải như cái đận ngày xưa vừa họp đấy, mà bụng thì nôn lên với mấy đứa con còn vất vạ ra ở nhà, gửi liều cho hàng xóm. Mấy đứa trẻ được bà trông, chỉ vài tháng đã lớn, béo ra trông thấy. [...]
[...] Bớt kéo con vào lòng, vạch tóc con ra và chỉ vào cái sẹo to bằng cái trôn bát ở gần đỉnh đầu, vô tình kể với bà:
- Còn bố nó ở nhà, bố nó thương con này nhất, bố nó cứ bảo: Tội! Con gái xấu xí.
Bà cụ thở dài và buột miệng cái điều mà bà vẫn lấy làm ân hận:
- Ừ, đáng ra là thế, con nào chả là con. Có mẹ cổ nhân cổ sơ, ngày xưa mẹ mới dọa ra thế chứ!
Bớt vội buông bé Hiên, ôm lấy mẹ:
- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?
1966 - 1974
(Vũ Thị Thường, Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1945 - 2005, NXB Công an Nhân dân, 2005, tr.20 - 23)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn)
Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện.
Câu 2. Chỉ ra một số chi tiết về cách ứng xử của chị Bớt Dương trong văn bản cho thấy chị không giận mẹ dù trước đó từng bị mẹ phân biệt đối xử.
Câu 3. Qua đoạn trích, anh/chị thấy nhân vật Bớt là người như thế nào?
Câu 4. Hành động ôm lấy vai mẹ và câu nói của chị Bớt: "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?" có ý nghĩa gì?
Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống hôm nay và lí giải tại sao.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (1075)
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1 (2.0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của bức tranh quê trong đoạn thơ sau:
Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đưa,
Đầu thềm con chó ngủ lơ mơ,
Bóng cây lơi lả bên hàng dậu,
Đêm vắng, người im, cảnh lặng tờ.
Ông lão nằm chơi ở giữa sân,
Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân.
Thằng cu đứng vịn bên thành chõng,
Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân.
(Trích Trăng hè, Đoàn Văn Cừ, Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân, NXB Văn học, 2005, tr.190 - 191)
Câu 2 (4.0 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ hiện nay.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ, rõ ý cho từng phần:
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1:
Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
Câu 2:
Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ:
- Vui mừng khi mẹ đến ở cùng
- Gặng hỏi mẹ nhưng với thái độ lo lắng, chân thành, không trách móc
- Chăm sóc, đón nhận mẹ về sống chung
- Khi mẹ áy náy, chị ôm mẹ và trấn an
Câu 3:
Nhân vật Bớt là người:
- Hiếu thảo, bao dung
- Nhân hậu, giàu tình cảm
- Chịu thương chịu khó, có trách nhiệm với gia đình
→ Là hình ảnh đẹp của người phụ nữ nông thôn.
Câu 4:
Ý nghĩa:
- Thể hiện tình yêu thương, sự cảm thông sâu sắc của Bớt dành cho mẹ
- Giúp mẹ giải tỏa mặc cảm, ân hận
- Khẳng định đức tính bao dung, vị tha của người con
Câu 5:
Thông điệp:
→ Trong gia đình, cần yêu thương công bằng, đồng thời mỗi người con cũng nên biết bao dung, thấu hiểu cha mẹ.
Lí giải:
Vì tình cảm gia đình chỉ bền vững khi có sự yêu thương, cảm thông từ cả hai phía; sự vị tha giúp hàn gắn những tổn thương và giữ gìn hạnh phúc.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Đoạn thơ trong bài Trăng hè của Đoàn Văn Cừ đã vẽ nên một bức tranh làng quê yên bình, giản dị mà giàu sức gợi. Không gian được mở ra trong đêm hè tĩnh lặng với những âm thanh quen thuộc như “tiếng võng kẽo kẹt”, hình ảnh “con chó ngủ lơ mơ”, “bóng cây lơi lả” tạo nên nhịp điệu chậm rãi, êm đềm. Cảnh vật dường như hòa vào sự yên tĩnh tuyệt đối của “đêm vắng, người im”. Sang khổ thơ sau, bức tranh trở nên sinh động hơn với hình ảnh con người: ông lão nằm nghỉ, đứa trẻ thơ ngây, con mèo quấn quýt dưới chân. Ánh trăng lan tỏa khiến cảnh vật trở nên lung linh, huyền ảo. Tất cả tạo nên một bức tranh quê vừa gần gũi, vừa ấm áp tình người. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu tha thiết với cuộc sống thôn quê và gợi nhắc người đọc trân trọng những khoảnh khắc bình dị trong đời sống.
Câu 2 (4,0 điểm): Bài văn ~600 chữ
Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất của đời người, là lúc con người có nhiều khát vọng, hoài bão và năng lượng để theo đuổi ước mơ. Trong xã hội hiện đại, sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ không chỉ là yếu tố quyết định thành công cá nhân mà còn góp phần tạo nên sự phát triển của đất nước.
Trước hết, nỗ lực hết mình là việc mỗi người trẻ dám dấn thân, không ngừng học hỏi và cố gắng vượt qua giới hạn của bản thân. Đó không chỉ là sự chăm chỉ trong học tập mà còn là tinh thần cầu tiến, sẵn sàng đối mặt với thử thách. Khi nỗ lực, con người s
Chúng tôi sử dụng cookie
Chúng tôi sử dụng cookie để hỗ trợ trang web này hoạt động, hiểu rõ cách dịch vụ được sử dụng và hỗ trợ các hoạt động tiếp thị. Vui lòng truy cập mục Quản lý cookie để thay đổi tùy chọn bất cứ lúc nào. Xem Chính sách cookie của chúng tôi để biết thêm thông tin.
Quản lý cookie Từ chối cookie không thiết yếu Chấp nhận tất cảẢnh Ứng dụng Nghiên cứu chuyên sâu Sức khỏe Xem các gói dịch vụ và mức giá Cài đặt Trợ giúp
Nhận phản hồi phù hợp với nhu cầu của bạn
Đăng nhập để nhận câu trả lời dựa trên các đoạn chat đã lưu, cũng như tạo hình ảnh và tải lên tệp.
Đăng nhập ChatGPT Đăng nhập Đăng ký miễn phíBạn đã nói:
Lớp 12Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo giữa kì II - Đề số 2
olm
Bài GV giao
ND
Đề tham khảo giữa kì số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (761)
(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
TỰ MIỄN
(Tự khuyên mình)
Phiên âm:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,
Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.
Dịch nghĩa:
Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,
Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;
Tai ương rèn luyện ta,
Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.
Dịch thơ:
Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 380-381)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2 (0.5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Câu 4 (1.0 điểm): Tai ương vốn là những điều tiêu cực, song trong bài thơ này, đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa gì?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm cho từng câu:
Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (kết hợp nghị luận).
Câu 2 (0.5 điểm):
Bài thơ được viết theo thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt (Đường luật).
Câu 3 (1.0 điểm):
Biện pháp tu từ: Phép đối (đối lập)
- “đông hàn” ↔ “xuân noãn”
- “tiều tụy cảnh” ↔ “huy hoàng”
Tác dụng:
Làm nổi bật quy luật tự nhiên và cuộc sống: phải có khó khăn, gian khổ (mùa đông) mới có thành công, tươi sáng (mùa xuân). Qua đó nhấn mạnh ý nghĩa của nghịch cảnh.
Câu 4 (1.0 điểm):
Trong bài thơ, tai ương không chỉ là điều tiêu cực mà còn:
- Là thử thách giúp con người rèn luyện bản thân
- Giúp tinh thần trở nên mạnh mẽ, kiên cường hơn
→ Tai ương trở thành động lực để trưởng thành và phát triển.
Câu 5 (1.0 điểm):
Bài học ý nghĩa nhất:
Con người cần biết vượt qua khó khăn, thử thách, xem đó là cơ hội để rèn luyện ý chí và hoàn thiện bản thân; không nên bi quan trước nghịch cảnh mà phải giữ tinh thần lạc quan, kiên cường.
Nếu bạn muốn, mình có thể viết luôn đoạn văn hoàn chỉnh (5–7 dòng) cho câu 5 để bạn chép vào bài nhé 👍
Bạn đã nói:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh.Câu 2 (4.0 điểm): Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của những thử thách trong cuộc sống.
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ cho cả hai câu:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ
Bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh là một lời tự khuyên giàu ý nghĩa về thái độ sống trước khó khăn, thử thách. Mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng hình ảnh đối lập giữa “đông hàn” và “xuân noãn” để khẳng định một quy luật tất yếu của tự nhiên: không có mùa đông giá lạnh thì không có mùa xuân ấm áp, huy hoàng. Từ quy luật ấy, Người liên hệ đến cuộc sống con người: những gian truân, tai ương chính là môi trường rèn luyện ý chí và tinh thần. Hai câu thơ sau thể hiện rõ quan niệm sống tích cực: tai ương không làm con người gục ngã mà ngược lại còn giúp tinh thần thêm “khẩn trương”, mạnh mẽ hơn. Bài thơ ngắn gọn nhưng hàm chứa triết lí sâu sắc: cần biết nhìn nhận khó khăn như một cơ hội để hoàn thiện bản thân. Qua đó, ta thấy được bản lĩnh kiên cường, tinh thần lạc quan và ý chí vượt lên nghịch cảnh của Hồ Chí Minh, đồng thời rút ra bài học quý giá cho mỗi người trong cuộc sống.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn khoảng 600 chữ
Trong hành trình sống của mỗi con người, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Có người e ngại, né tránh khó khăn, nhưng cũng có người dũng cảm đối mặt và trưởng thành từ chính những thử thách ấy. Thực tế cho thấy, thử thách không chỉ là trở ngại mà còn mang ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân.
Trước hết, thử thách là môi trường để con người rèn luyện ý chí và bản lĩnh. Khi đối diện với khó khăn, con người buộc phải nỗ lực, kiên trì và tìm cách vượt qua. Chính quá trình ấy giúp ta trở nên mạnh mẽ, tự tin hơn. Nếu cuộc sống chỉ toàn thuận lợi, con người sẽ dễ trở nên yếu đuối, thiếu khả năng ứng phó với biến cố. Giống như vàng phải qua lửa mới tinh luyện, con người cũng cần thử thách để hoàn thiện bản thân.
Bên cạnh đó, thử thách còn giúp con người nhận ra giá trị của thành công. Những thành quả đạt được sau nỗ lực vượt khó luôn mang ý nghĩa sâu sắc và đáng trân trọng hơn nhiều so với những điều có được một cách dễ dàng. Khi trải qua gian nan, ta học được cách kiên nhẫn, biết trân trọng công sức của bản thân và của người khác. Nhờ đó, cuộc sống trở nên ý nghĩa và đáng sống hơn.
Không chỉ vậy, thử thách còn mở ra cơ hội khám phá khả năng tiềm ẩn của con người. Nhiều người chỉ nhận ra sức mạnh và năng lực của mình khi bị đặt vào hoàn cảnh khó khăn. Chính nghịch cảnh đã giúp họ bứt phá, vượt qua giới hạn của bản thân. Trong lịch sử và cuộc sống, không ít tấm gương thành công đều trưởng thành từ gian khó, chứng minh rằng thử thách chính là bước đệm cho sự phát triển.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thái độ đúng đắn trước thử thách. Có người dễ dàng nản chí, buông xuôi khi gặp khó khăn, từ đó đánh mất cơ hội vươn lên. Điều quan trọng là mỗi người cần giữ vững tinh thần lạc quan, chủ động đối mặt và xem thử thách như một phần tất yếu của cuộc sống. Chỉ khi thay đổi cách nhìn nhận, ta mới có thể biến khó khăn thành động lực.
Tóm lại, thử thách giữ vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người. Đó không chỉ là phép thử của ý chí mà còn là cơ hội để mỗi người trưởng thành và hoàn thiện bản thân. Vì vậy, thay vì sợ hãi, chúng ta hãy dũng cảm đón nhận thử thách, bởi chính chúng sẽ giúp ta trở nên mạnh mẽ hơn và tiến gần hơn đến thành công.
Bạn đã nói:
TIẾC THƯƠNG SINH THÁIBước sang năm 2022, chúng ta nghe thấy và nhìn thấy biến đổi khí hậu ở mọi nơi, cả ở ngoài đời thực, cả trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật. Giữa một thế giới nơi tất cả các giọng nói - hay thậm chí là giọng hát - đều gợi nhắc về một thảm kịch toàn cầu đang cận kề, biến đổi khí hậu đã đi vào tâm thức của mọi người và tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần. Một hậu quả đáng chú ý là sự xuất hiện của hiện tượng tâm lí “tiếc thương sinh thái” (ecological grief).
Cụm từ “tiếc thương sinh thái” xuất hiện lần đầu trong một bài viết vào năm 2018 của hai nhà khoa học xã hội Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis, trong đó họ định nghĩa tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này có thể đa dạng, ví dụ như sự biến mất của các loài sinh vật hay sự thay đổi ở các cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần, song điểm chung là chúng đều do biến đổi khí hậu gây ra và đều khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân. Theo Cunsolo và Ellis, tiếc thương sinh thái là một phản ứng có thể đoán trước được, nhất là ở những cộng đồng vẫn còn sinh sống, làm việc và giữ các mối quan hệ văn hoá mật thiết với môi trường tự nhiên. Hai tác giả này đưa ra hai trường hợp cụ thể: những người Inuit ở miền Bắc Canada và những người làm nghề trồng trọt ở Australia. Lúc được hỏi về sự thay đổi môi trường chóng vánh ở nơi mình sống, cả hai cộng đồng này đều có chung những cảm xúc như nỗi thất vọng, u sầu, hay thậm chí là ý nghĩ muốn tự sát, mặc dù họ sinh sống ở hai nơi hoàn toàn khác nhau về mặt địa lí, phong tục tập quán, và còn bị ảnh hưởng bởi các loại thiên tai hoàn toàn khác nhau.
[...] Như bất kì vấn đề sức khỏe tâm thần nào khác, nỗi tiếc thương sinh thái ăn sâu vào tâm trí một người và thường xuyên đẩy họ vào trạng thái khủng hoảng hiện sinh. Cunsolo và Ellis ghi nhận câu trả lời của một người Inuit như sau: “Inuit là dân tộc băng biển. Băng biển không còn, làm sao chúng tôi còn là dân tộc băng biển được nữa?”. Và những cảm xúc như vậy thực sự cũng chẳng còn xa lạ gì nữa: khi rừng Amazon bốc cháy năm 2019, các tộc người bản địa ở Brazil như người Tenharim, người Guató và người Guarani đều đã nói rằng họ đang mất hết tất cả và khó có thể gìn giữ được truyền thống văn hoá của mình khi mà cánh rừng quê hương đang bốc cháy ngùn ngụt. [...] Có thể thấy, đối với người ở nơi “tiền tuyến” của biến đổi khí hậu - cho dù là cộng đồng địa phương hay là các nhà nghiên cứu thực địa, việc chứng kiến và cảm nhận trực tiếp hậu quả của biến đổi khí hậu đã để lại tác động tâm lí nghiêm trọng, bởi những người này đã lâu ngày gần gũi và gắn bó với môi trường đang bị hủy hoại. [...]
Tiếc thay, sau hàng thập kỉ biết đến mối nguy hại của biến đổi khí hậu, nỗi tiếc thương sinh thái đã bắt đầu ảnh hưởng tới cả người ở hậu phương. Tháng 12/2021, Caroline Hickman và cộng sự công bố một cuộc thăm dò về cảm xúc trước biến đổi khí hậu của 1,000 trẻ em và thanh thiếu niên từ mỗi quốc gia trong tổng số 10 nước Anh, Australia, Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Brazil, Hoa Kì, Nigeria, Pháp, Phần Lan và Philippines. Trong số những người được hỏi, 59% thấy “rất hoặc cực kì lo” về biến đổi khí hậu, và 45% thừa nhận rằng cảm xúc của họ về biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống thường ngày. Nỗi lo về biến đổi khí hậu và sự chấp nhận tận thế đang cận kề đều là các cảm xúc không hiếm gặp ở những người trẻ ngày nay, nhất là kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu.
(Nguyễn Bình, Báo điện tử Tia sáng, 25/1/2022)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Theo bài viết trên, hiện tượng tiếc thương sinh thái là gì?
Câu 2. Bài viết trên trình bày thông tin theo trình tự nào?
Câu 3. Tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào để cung cấp thông tin cho người đọc?
Câu 4. Anh/chị hãy nhận xét về cách tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu của tác giả trong văn bản.
Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất mà anh/chị nhận được từ bài viết trên là gì?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (840)
II. VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1. (2.0 điểm) Từ phần đọc hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng người ẩn sĩ được khắc họa qua hai bài thơ sau:
NHÀN
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến bóng cây ta hãy uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Khoa học Xã hội, 2021)
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
(Nguyễn Khuyến, NXB Hội Nhà văn, 2015)
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời đầy đủ, ngắn gọn – đúng ý cho từng phần:
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Hiện tượng “tiếc thương sinh thái” là nỗi đau buồn, mất mát của con người trước sự suy thoái của môi trường tự nhiên do biến đổi khí hậu gây ra, tương tự như cảm giác mất đi người thân.
Câu 2:
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự:
→ Giải thích khái niệm → phân tích, đưa dẫn chứng cụ thể → mở rộng vấn đề → nêu thực trạng hiện nay.
Câu 3:
Tác giả sử dụng các bằng chứng:
- Nghiên cứu khoa học của Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis
- Trường hợp thực tế: người Inuit (Canada), nông dân Australia
- Dẫn chứng sự kiện: cháy rừng Amazon 2019
- Số liệu khảo sát (Caroline Hickman, 2021 về giới trẻ nhiều quốc gia)
→ Những dẫn chứng đa dạng, xác thực, có tính thuyết phục cao.
Câu 4:
Cách tiếp cận của tác giả:
- Mới mẻ, nhân văn: tiếp cận biến đổi khí hậu từ góc độ tâm lí con người
- Không chỉ nói về thiệt hại vật chất mà còn nhấn mạnh tổn thương tinh thần
→ Giúp người đọc nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về vấn đề.
Câu 5:
Thông điệp sâu sắc nhất:
→ Con người cần ý thức rõ hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, từ đó có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống, bởi thiên nhiên không chỉ là nơi tồn tại mà còn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của chúng ta.
II. VIẾT
Câu 1 (2.0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ cấp thiết nhất của con người hiện nay. Môi trường không chỉ cung cấp tài nguyên, điều kiện sống mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người. Khi môi trường bị ô nhiễm, biến đổi khí hậu gia tăng, con người phải đối mặt với hàng loạt hậu quả nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh và cả những khủng hoảng tâm lí như “tiếc thương sinh thái”. Điều đó cho thấy thiên nhiên không hề xa lạ mà gắn bó mật thiết với đời sống của mỗi cá nhân. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chính mình. Mỗi người có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ như tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh hay nâng cao ý thức cộng đồng. Đồng thời, cần lên án những hành vi phá hoại môi trường. Chỉ khi con người sống hài hòa với thiên nhiên, chúng ta mới có thể hướng tới một tương lai bền vững và tốt đẹp hơn.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn ~600 chữ
Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, xa lánh danh lợi. Qua bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng này hiện lên vừa có điểm tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng biệt.
Trước hết, ở cả hai bài thơ, người ẩn sĩ đều lựa chọn cuộc sống hòa mình với thiên nhiên, tránh xa vòng danh lợi. Trong Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa một cuộc sống giản dị với “mai, cuốc, cần câu”, ngày ngày ung dung lao động và tận hưởng thiên nhiên. Còn ở bài thơ của Nguyễn Khuyến, không gian thu hiện lên tĩnh lặng, trong trẻo với trời cao, nước biếc, ánh trăng, tất cả tạo nên một thế giới thanh bình, yên ả. Qua đó, cả hai nhà thơ đều thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên là nơi nương náu tinh thần.
Tuy nhiên, hình tượng người ẩn sĩ ở mỗi tác giả lại mang những nét riêng. Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là một sự lựa chọn dứt khoát và chủ động. Ông tự nhận mình “dại” để đối lập với “người khôn” nơi chốn quan trường, từ đó khẳng định lối sống xa lánh danh lợi, coi phú quý chỉ là “chiêm bao”. Lối sống ấy thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và nhân cách cao đẹp của một bậc trí giả. Ngược lại, ở Nguyễn Khuyến, ẩn sĩ không hoàn toàn là sự an nhiên tuyệt đối. Đằng sau bức tranh thu tĩnh lặng là một nỗi niềm trăn trở, một sự “thẹn với ông Đào” – tức Đào Tiềm. Điều đó cho thấy nhà thơ vẫn còn nặng lòng với thời cuộc, chưa thể hoàn toàn dứt bỏ thế sự.
Ngoài ra, giọng điệu hai bài thơ cũng có sự khác biệt. Nhàn mang giọng điệu nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, thể hiện quan niệm sống rõ ràng. Trong khi đó, bài thơ của Nguyễn Khuyến lại mang nét trầm lắng, suy tư, pha chút day dứt. Điều này góp phần làm nổi bật hai kiểu ẩn sĩ: một người ung dung, tự tại; một người ẩn dật mà vẫn nặng lòng với đời.
Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp thanh cao, gắn bó với thiên nhiên và xa lánh danh lợi. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại gửi gắm vào đó những tâm tư riêng, phản ánh hoàn cảnh và cá tính khác nhau. Điều này không chỉ làm phong phú hình tượng ẩn sĩ trong văn học mà còn giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về tâm hồn và nhân cách của các nhà thơ trung đại Việt Nam.
Bạn đã nói:
Học trực tuyến OLMLớp 12
Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo cuối kì II - Đề số 2
olm
Bài GV giao
ND
Đề số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (1186)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
CON YÊU CON GHÉT
Lược phần đầu: Bớt và Nở đều là con gái bà Ngải nhưng lại nhận sự đối xử phân biệt yêu ghét trái ngược từ mẹ đến mức Bớt từng phải ấm ức khóc ầm ĩ: "Bu đừng có con yêu con ghét! Được, đã thế xem sau này bu già, một mình cái Nở có nuôi bu không, hay lúc ấy lại phải gọi đến tôi?". Sau này hai cô con gái đi lấy chồng, bà vẫn đối xử kiểu phân biệt, có gì cũng bù trì cho Nở, tiền nong gửi cả Nở nhưng rồi lại bị chính Nở dáo dở lấy hết tiền gom góp dành dụm của bà. Bà giận, khóa cửa, xuống cuối làng ở với mẹ con Bớt.
[...] Thấy mẹ đem quần áo nồi niêu đến ở chung, Bớt rất mừng. Nhưng chị cố gặng mẹ cho hết lẽ:
- Bu nghĩ kĩ đi. Chẳng sau này lại phiền bu ra, như chị Nở thì con không muốn...
Nghe con nhắc đến thế thì cụ lại ngượng. Bà cụ gượng cười:
- Mày khác, nó khác. Với cái gì mà phải nghĩ hở con? Đây này, bu cứ tính thế này: Bao giờ đánh xong thằng Mỹ, bố con Hiên với cậu Tấn nó về, lúc bấy giờ ở đâu rồi hãy hay. Còn bây giờ bu cứ ở đây với mẹ con mày, chứ bu ở trên ấy một mình, vong vóng cũng buồn, mà mẹ con mày dưới này thì bấn quá. Mày thì đã lắm thứ công tác. Lại còn lo làm điểm lấy thóc nuôi con...
Từ ngày bà đến ở chung, Bớt như người được cất đi một gánh nặng trên vai. Giờ Bớt chỉ lo công tác với ra đồng làm, giá có phải đi họp hay đi học dăm bảy ngày liền như lớp học chống sâu bệnh cho lúa vừa rồi, là Bớt có thể yên trí đùm gạo đi được, không phải như cái đận ngày xưa vừa họp đấy, mà bụng thì nôn lên với mấy đứa con còn vất vạ ra ở nhà, gửi liều cho hàng xóm. Mấy đứa trẻ được bà trông, chỉ vài tháng đã lớn, béo ra trông thấy. [...]
[...] Bớt kéo con vào lòng, vạch tóc con ra và chỉ vào cái sẹo to bằng cái trôn bát ở gần đỉnh đầu, vô tình kể với bà:
- Còn bố nó ở nhà, bố nó thương con này nhất, bố nó cứ bảo: Tội! Con gái xấu xí.
Bà cụ thở dài và buột miệng cái điều mà bà vẫn lấy làm ân hận:
- Ừ, đáng ra là thế, con nào chả là con. Có mẹ cổ nhân cổ sơ, ngày xưa mẹ mới dọa ra thế chứ!
Bớt vội buông bé Hiên, ôm lấy mẹ:
- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?
1966 - 1974
(Vũ Thị Thường, Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1945 - 2005, NXB Công an Nhân dân, 2005, tr.20 - 23)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn)
Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện.
Câu 2. Chỉ ra một số chi tiết về cách ứng xử của chị Bớt Dương trong văn bản cho thấy chị không giận mẹ dù trước đó từng bị mẹ phân biệt đối xử.
Câu 3. Qua đoạn trích, anh/chị thấy nhân vật Bớt là người như thế nào?
Câu 4. Hành động ôm lấy vai mẹ và câu nói của chị Bớt: "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?" có ý nghĩa gì?
Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống hôm nay và lí giải tại sao.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (1075)
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1 (2.0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của bức tranh quê trong đoạn thơ sau:
Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đưa,
Đầu thềm con chó ngủ lơ mơ,
Bóng cây lơi lả bên hàng dậu,
Đêm vắng, người im, cảnh lặng tờ.
Ông lão nằm chơi ở giữa sân,
Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân.
Thằng cu đứng vịn bên thành chõng,
Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân.
(Trích Trăng hè, Đoàn Văn Cừ, Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân, NXB Văn học, 2005, tr.190 - 191)
Câu 2 (4.0 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ hiện nay.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ, rõ ý cho từng phần:
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1:
Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
Câu 2:
Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ:
- Vui mừng khi mẹ đến ở cùng
- Gặng hỏi mẹ nhưng với thái độ lo lắng, chân thành, không trách móc
- Chăm sóc, đón nhận mẹ về sống chung
- Khi mẹ áy náy, chị ôm mẹ và trấn an
Câu 3:
Nhân vật Bớt là người:
- Hiếu thảo, bao dung
- Nhân hậu, giàu tình cảm
- Chịu thương chịu khó, có trách nhiệm với gia đình
→ Là hình ảnh đẹp của người phụ nữ nông thôn.
Câu 4:
Ý nghĩa:
- Thể hiện tình yêu thương, sự cảm thông sâu sắc của Bớt dành cho mẹ
- Giúp mẹ giải tỏa mặc cảm, ân hận
- Khẳng định đức tính bao dung, vị tha của người con
Câu 5:
Thông điệp:
→ Trong gia đình, cần yêu thương công bằng, đồng thời mỗi người con cũng nên biết bao dung, thấu hiểu cha mẹ.
Lí giải:
Vì tình cảm gia đình chỉ bền vững khi có sự yêu thương, cảm thông từ cả hai phía; sự vị tha giúp hàn gắn những tổn thương và giữ gìn hạnh phúc.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Đoạn thơ trong bài Trăng hè của Đoàn Văn Cừ đã vẽ nên một bức tranh làng quê yên bình, giản dị mà giàu sức gợi. Không gian được mở ra trong đêm hè tĩnh lặng với những âm thanh quen thuộc như “tiếng võng kẽo kẹt”, hình ảnh “con chó ngủ lơ mơ”, “bóng cây lơi lả” tạo nên nhịp điệu chậm rãi, êm đềm. Cảnh vật dường như hòa vào sự yên tĩnh tuyệt đối của “đêm vắng, người im”. Sang khổ thơ sau, bức tranh trở nên sinh động hơn với hình ảnh con người: ông lão nằm nghỉ, đứa trẻ thơ ngây, con mèo quấn quýt dưới chân. Ánh trăng lan tỏa khiến cảnh vật trở nên lung linh, huyền ảo. Tất cả tạo nên một bức tranh quê vừa gần gũi, vừa ấm áp tình người. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu tha thiết với cuộc sống thôn quê và gợi nhắc người đọc trân trọng những khoảnh khắc bình dị trong đời sống.
Câu 2 (4,0 điểm): Bài văn ~600 chữ
Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất của đời người, là lúc con người có nhiều khát vọng, hoài bão và năng lượng để theo đuổi ước mơ. Trong xã hội hiện đại, sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ không chỉ là yếu tố quyết định thành công cá nhân mà còn góp phần tạo nên sự phát triển của đất nước.
Trước hết, nỗ lực hết mình là việc mỗi người trẻ dám dấn thân, không ngừng học hỏi và cố gắng vượt qua giới hạn của bản thân. Đó không chỉ là sự chăm chỉ trong học tập mà còn là tinh thần cầu tiến, sẵn sàng đối mặt với thử thách. Khi nỗ lực, con người s
Chúng tôi sử dụng cookie
Chúng tôi sử dụng cookie để hỗ trợ trang web này hoạt động, hiểu rõ cách dịch vụ được sử dụng và hỗ trợ các hoạt động tiếp thị. Vui lòng truy cập mục Quản lý cookie để thay đổi tùy chọn bất cứ lúc nào. Xem Chính sách cookie của chúng tôi để biết thêm thông tin.
Quản lý cookie Từ chối cookie không thiết yếu Chấp nhận tất cảẢnh Ứng dụng Nghiên cứu chuyên sâu Sức khỏe Xem các gói dịch vụ và mức giá Cài đặt Trợ giúp
Nhận phản hồi phù hợp với nhu cầu của bạn
Đăng nhập để nhận câu trả lời dựa trên các đoạn chat đã lưu, cũng như tạo hình ảnh và tải lên tệp.
Đăng nhập ChatGPT Đăng nhập Đăng ký miễn phíBạn đã nói:
Lớp 12Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo giữa kì II - Đề số 2
olm
Bài GV giao
ND
Đề tham khảo giữa kì số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (761)
(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
TỰ MIỄN
(Tự khuyên mình)
Phiên âm:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,
Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.
Dịch nghĩa:
Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,
Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;
Tai ương rèn luyện ta,
Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.
Dịch thơ:
Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 380-381)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.
Câu 2 (0.5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;
Câu 4 (1.0 điểm): Tai ương vốn là những điều tiêu cực, song trong bài thơ này, đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa gì?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm cho từng câu:
Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (kết hợp nghị luận).
Câu 2 (0.5 điểm):
Bài thơ được viết theo thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt (Đường luật).
Câu 3 (1.0 điểm):
Biện pháp tu từ: Phép đối (đối lập)
- “đông hàn” ↔ “xuân noãn”
- “tiều tụy cảnh” ↔ “huy hoàng”
Tác dụng:
Làm nổi bật quy luật tự nhiên và cuộc sống: phải có khó khăn, gian khổ (mùa đông) mới có thành công, tươi sáng (mùa xuân). Qua đó nhấn mạnh ý nghĩa của nghịch cảnh.
Câu 4 (1.0 điểm):
Trong bài thơ, tai ương không chỉ là điều tiêu cực mà còn:
- Là thử thách giúp con người rèn luyện bản thân
- Giúp tinh thần trở nên mạnh mẽ, kiên cường hơn
→ Tai ương trở thành động lực để trưởng thành và phát triển.
Câu 5 (1.0 điểm):
Bài học ý nghĩa nhất:
Con người cần biết vượt qua khó khăn, thử thách, xem đó là cơ hội để rèn luyện ý chí và hoàn thiện bản thân; không nên bi quan trước nghịch cảnh mà phải giữ tinh thần lạc quan, kiên cường.
Nếu bạn muốn, mình có thể viết luôn đoạn văn hoàn chỉnh (5–7 dòng) cho câu 5 để bạn chép vào bài nhé 👍
Bạn đã nói:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh.Câu 2 (4.0 điểm): Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của những thử thách trong cuộc sống.
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ cho cả hai câu:
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ
Bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh là một lời tự khuyên giàu ý nghĩa về thái độ sống trước khó khăn, thử thách. Mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng hình ảnh đối lập giữa “đông hàn” và “xuân noãn” để khẳng định một quy luật tất yếu của tự nhiên: không có mùa đông giá lạnh thì không có mùa xuân ấm áp, huy hoàng. Từ quy luật ấy, Người liên hệ đến cuộc sống con người: những gian truân, tai ương chính là môi trường rèn luyện ý chí và tinh thần. Hai câu thơ sau thể hiện rõ quan niệm sống tích cực: tai ương không làm con người gục ngã mà ngược lại còn giúp tinh thần thêm “khẩn trương”, mạnh mẽ hơn. Bài thơ ngắn gọn nhưng hàm chứa triết lí sâu sắc: cần biết nhìn nhận khó khăn như một cơ hội để hoàn thiện bản thân. Qua đó, ta thấy được bản lĩnh kiên cường, tinh thần lạc quan và ý chí vượt lên nghịch cảnh của Hồ Chí Minh, đồng thời rút ra bài học quý giá cho mỗi người trong cuộc sống.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn khoảng 600 chữ
Trong hành trình sống của mỗi con người, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Có người e ngại, né tránh khó khăn, nhưng cũng có người dũng cảm đối mặt và trưởng thành từ chính những thử thách ấy. Thực tế cho thấy, thử thách không chỉ là trở ngại mà còn mang ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân.
Trước hết, thử thách là môi trường để con người rèn luyện ý chí và bản lĩnh. Khi đối diện với khó khăn, con người buộc phải nỗ lực, kiên trì và tìm cách vượt qua. Chính quá trình ấy giúp ta trở nên mạnh mẽ, tự tin hơn. Nếu cuộc sống chỉ toàn thuận lợi, con người sẽ dễ trở nên yếu đuối, thiếu khả năng ứng phó với biến cố. Giống như vàng phải qua lửa mới tinh luyện, con người cũng cần thử thách để hoàn thiện bản thân.
Bên cạnh đó, thử thách còn giúp con người nhận ra giá trị của thành công. Những thành quả đạt được sau nỗ lực vượt khó luôn mang ý nghĩa sâu sắc và đáng trân trọng hơn nhiều so với những điều có được một cách dễ dàng. Khi trải qua gian nan, ta học được cách kiên nhẫn, biết trân trọng công sức của bản thân và của người khác. Nhờ đó, cuộc sống trở nên ý nghĩa và đáng sống hơn.
Không chỉ vậy, thử thách còn mở ra cơ hội khám phá khả năng tiềm ẩn của con người. Nhiều người chỉ nhận ra sức mạnh và năng lực của mình khi bị đặt vào hoàn cảnh khó khăn. Chính nghịch cảnh đã giúp họ bứt phá, vượt qua giới hạn của bản thân. Trong lịch sử và cuộc sống, không ít tấm gương thành công đều trưởng thành từ gian khó, chứng minh rằng thử thách chính là bước đệm cho sự phát triển.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thái độ đúng đắn trước thử thách. Có người dễ dàng nản chí, buông xuôi khi gặp khó khăn, từ đó đánh mất cơ hội vươn lên. Điều quan trọng là mỗi người cần giữ vững tinh thần lạc quan, chủ động đối mặt và xem thử thách như một phần tất yếu của cuộc sống. Chỉ khi thay đổi cách nhìn nhận, ta mới có thể biến khó khăn thành động lực.
Tóm lại, thử thách giữ vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người. Đó không chỉ là phép thử của ý chí mà còn là cơ hội để mỗi người trưởng thành và hoàn thiện bản thân. Vì vậy, thay vì sợ hãi, chúng ta hãy dũng cảm đón nhận thử thách, bởi chính chúng sẽ giúp ta trở nên mạnh mẽ hơn và tiến gần hơn đến thành công.
Bạn đã nói:
TIẾC THƯƠNG SINH THÁIBước sang năm 2022, chúng ta nghe thấy và nhìn thấy biến đổi khí hậu ở mọi nơi, cả ở ngoài đời thực, cả trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật. Giữa một thế giới nơi tất cả các giọng nói - hay thậm chí là giọng hát - đều gợi nhắc về một thảm kịch toàn cầu đang cận kề, biến đổi khí hậu đã đi vào tâm thức của mọi người và tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần. Một hậu quả đáng chú ý là sự xuất hiện của hiện tượng tâm lí “tiếc thương sinh thái” (ecological grief).
Cụm từ “tiếc thương sinh thái” xuất hiện lần đầu trong một bài viết vào năm 2018 của hai nhà khoa học xã hội Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis, trong đó họ định nghĩa tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này có thể đa dạng, ví dụ như sự biến mất của các loài sinh vật hay sự thay đổi ở các cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần, song điểm chung là chúng đều do biến đổi khí hậu gây ra và đều khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân. Theo Cunsolo và Ellis, tiếc thương sinh thái là một phản ứng có thể đoán trước được, nhất là ở những cộng đồng vẫn còn sinh sống, làm việc và giữ các mối quan hệ văn hoá mật thiết với môi trường tự nhiên. Hai tác giả này đưa ra hai trường hợp cụ thể: những người Inuit ở miền Bắc Canada và những người làm nghề trồng trọt ở Australia. Lúc được hỏi về sự thay đổi môi trường chóng vánh ở nơi mình sống, cả hai cộng đồng này đều có chung những cảm xúc như nỗi thất vọng, u sầu, hay thậm chí là ý nghĩ muốn tự sát, mặc dù họ sinh sống ở hai nơi hoàn toàn khác nhau về mặt địa lí, phong tục tập quán, và còn bị ảnh hưởng bởi các loại thiên tai hoàn toàn khác nhau.
[...] Như bất kì vấn đề sức khỏe tâm thần nào khác, nỗi tiếc thương sinh thái ăn sâu vào tâm trí một người và thường xuyên đẩy họ vào trạng thái khủng hoảng hiện sinh. Cunsolo và Ellis ghi nhận câu trả lời của một người Inuit như sau: “Inuit là dân tộc băng biển. Băng biển không còn, làm sao chúng tôi còn là dân tộc băng biển được nữa?”. Và những cảm xúc như vậy thực sự cũng chẳng còn xa lạ gì nữa: khi rừng Amazon bốc cháy năm 2019, các tộc người bản địa ở Brazil như người Tenharim, người Guató và người Guarani đều đã nói rằng họ đang mất hết tất cả và khó có thể gìn giữ được truyền thống văn hoá của mình khi mà cánh rừng quê hương đang bốc cháy ngùn ngụt. [...] Có thể thấy, đối với người ở nơi “tiền tuyến” của biến đổi khí hậu - cho dù là cộng đồng địa phương hay là các nhà nghiên cứu thực địa, việc chứng kiến và cảm nhận trực tiếp hậu quả của biến đổi khí hậu đã để lại tác động tâm lí nghiêm trọng, bởi những người này đã lâu ngày gần gũi và gắn bó với môi trường đang bị hủy hoại. [...]
Tiếc thay, sau hàng thập kỉ biết đến mối nguy hại của biến đổi khí hậu, nỗi tiếc thương sinh thái đã bắt đầu ảnh hưởng tới cả người ở hậu phương. Tháng 12/2021, Caroline Hickman và cộng sự công bố một cuộc thăm dò về cảm xúc trước biến đổi khí hậu của 1,000 trẻ em và thanh thiếu niên từ mỗi quốc gia trong tổng số 10 nước Anh, Australia, Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Brazil, Hoa Kì, Nigeria, Pháp, Phần Lan và Philippines. Trong số những người được hỏi, 59% thấy “rất hoặc cực kì lo” về biến đổi khí hậu, và 45% thừa nhận rằng cảm xúc của họ về biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống thường ngày. Nỗi lo về biến đổi khí hậu và sự chấp nhận tận thế đang cận kề đều là các cảm xúc không hiếm gặp ở những người trẻ ngày nay, nhất là kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu.
(Nguyễn Bình, Báo điện tử Tia sáng, 25/1/2022)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Theo bài viết trên, hiện tượng tiếc thương sinh thái là gì?
Câu 2. Bài viết trên trình bày thông tin theo trình tự nào?
Câu 3. Tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào để cung cấp thông tin cho người đọc?
Câu 4. Anh/chị hãy nhận xét về cách tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu của tác giả trong văn bản.
Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất mà anh/chị nhận được từ bài viết trên là gì?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (840)
II. VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1. (2.0 điểm) Từ phần đọc hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng người ẩn sĩ được khắc họa qua hai bài thơ sau:
NHÀN
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến bóng cây ta hãy uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Khoa học Xã hội, 2021)
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
(Nguyễn Khuyến, NXB Hội Nhà văn, 2015)
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là gợi ý trả lời đầy đủ, ngắn gọn – đúng ý cho từng phần:
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Hiện tượng “tiếc thương sinh thái” là nỗi đau buồn, mất mát của con người trước sự suy thoái của môi trường tự nhiên do biến đổi khí hậu gây ra, tương tự như cảm giác mất đi người thân.
Câu 2:
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự:
→ Giải thích khái niệm → phân tích, đưa dẫn chứng cụ thể → mở rộng vấn đề → nêu thực trạng hiện nay.
Câu 3:
Tác giả sử dụng các bằng chứng:
- Nghiên cứu khoa học của Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis
- Trường hợp thực tế: người Inuit (Canada), nông dân Australia
- Dẫn chứng sự kiện: cháy rừng Amazon 2019
- Số liệu khảo sát (Caroline Hickman, 2021 về giới trẻ nhiều quốc gia)
→ Những dẫn chứng đa dạng, xác thực, có tính thuyết phục cao.
Câu 4:
Cách tiếp cận của tác giả:
- Mới mẻ, nhân văn: tiếp cận biến đổi khí hậu từ góc độ tâm lí con người
- Không chỉ nói về thiệt hại vật chất mà còn nhấn mạnh tổn thương tinh thần
→ Giúp người đọc nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về vấn đề.
Câu 5:
Thông điệp sâu sắc nhất:
→ Con người cần ý thức rõ hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, từ đó có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống, bởi thiên nhiên không chỉ là nơi tồn tại mà còn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của chúng ta.
II. VIẾT
Câu 1 (2.0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ cấp thiết nhất của con người hiện nay. Môi trường không chỉ cung cấp tài nguyên, điều kiện sống mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người. Khi môi trường bị ô nhiễm, biến đổi khí hậu gia tăng, con người phải đối mặt với hàng loạt hậu quả nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh và cả những khủng hoảng tâm lí như “tiếc thương sinh thái”. Điều đó cho thấy thiên nhiên không hề xa lạ mà gắn bó mật thiết với đời sống của mỗi cá nhân. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chính mình. Mỗi người có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ như tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh hay nâng cao ý thức cộng đồng. Đồng thời, cần lên án những hành vi phá hoại môi trường. Chỉ khi con người sống hài hòa với thiên nhiên, chúng ta mới có thể hướng tới một tương lai bền vững và tốt đẹp hơn.
Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn ~600 chữ
Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, xa lánh danh lợi. Qua bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng này hiện lên vừa có điểm tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng biệt.
Trước hết, ở cả hai bài thơ, người ẩn sĩ đều lựa chọn cuộc sống hòa mình với thiên nhiên, tránh xa vòng danh lợi. Trong Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa một cuộc sống giản dị với “mai, cuốc, cần câu”, ngày ngày ung dung lao động và tận hưởng thiên nhiên. Còn ở bài thơ của Nguyễn Khuyến, không gian thu hiện lên tĩnh lặng, trong trẻo với trời cao, nước biếc, ánh trăng, tất cả tạo nên một thế giới thanh bình, yên ả. Qua đó, cả hai nhà thơ đều thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên là nơi nương náu tinh thần.
Tuy nhiên, hình tượng người ẩn sĩ ở mỗi tác giả lại mang những nét riêng. Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là một sự lựa chọn dứt khoát và chủ động. Ông tự nhận mình “dại” để đối lập với “người khôn” nơi chốn quan trường, từ đó khẳng định lối sống xa lánh danh lợi, coi phú quý chỉ là “chiêm bao”. Lối sống ấy thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và nhân cách cao đẹp của một bậc trí giả. Ngược lại, ở Nguyễn Khuyến, ẩn sĩ không hoàn toàn là sự an nhiên tuyệt đối. Đằng sau bức tranh thu tĩnh lặng là một nỗi niềm trăn trở, một sự “thẹn với ông Đào” – tức Đào Tiềm. Điều đó cho thấy nhà thơ vẫn còn nặng lòng với thời cuộc, chưa thể hoàn toàn dứt bỏ thế sự.
Ngoài ra, giọng điệu hai bài thơ cũng có sự khác biệt. Nhàn mang giọng điệu nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, thể hiện quan niệm sống rõ ràng. Trong khi đó, bài thơ của Nguyễn Khuyến lại mang nét trầm lắng, suy tư, pha chút day dứt. Điều này góp phần làm nổi bật hai kiểu ẩn sĩ: một người ung dung, tự tại; một người ẩn dật mà vẫn nặng lòng với đời.
Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp thanh cao, gắn bó với thiên nhiên và xa lánh danh lợi. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại gửi gắm vào đó những tâm tư riêng, phản ánh hoàn cảnh và cá tính khác nhau. Điều này không chỉ làm phong phú hình tượng ẩn sĩ trong văn học mà còn giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về tâm hồn và nhân cách của các nhà thơ trung đại Việt Nam.
Bạn đã nói:
Học trực tuyến OLMLớp 12
Ngữ văn 12 Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề tham khảo cuối kì II - Đề số 2
olm
Bài GV giao
ND
Đề số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (1186)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
CON YÊU CON GHÉT
Lược phần đầu: Bớt và Nở đều là con gái bà Ngải nhưng lại nhận sự đối xử phân biệt yêu ghét trái ngược từ mẹ đến mức Bớt từng phải ấm ức khóc ầm ĩ: "Bu đừng có con yêu con ghét! Được, đã thế xem sau này bu già, một mình cái Nở có nuôi bu không, hay lúc ấy lại phải gọi đến tôi?". Sau này hai cô con gái đi lấy chồng, bà vẫn đối xử kiểu phân biệt, có gì cũng bù trì cho Nở, tiền nong gửi cả Nở nhưng rồi lại bị chính Nở dáo dở lấy hết tiền gom góp dành dụm của bà. Bà giận, khóa cửa, xuống cuối làng ở với mẹ con Bớt.
[...] Thấy mẹ đem quần áo nồi niêu đến ở chung, Bớt rất mừng. Nhưng chị cố gặng mẹ cho hết lẽ:
- Bu nghĩ kĩ đi. Chẳng sau này lại phiền bu ra, như chị Nở thì con không muốn...
Nghe con nhắc đến thế thì cụ lại ngượng. Bà cụ gượng cười:
- Mày khác, nó khác. Với cái gì mà phải nghĩ hở con? Đây này, bu cứ tính thế này: Bao giờ đánh xong thằng Mỹ, bố con Hiên với cậu Tấn nó về, lúc bấy giờ ở đâu rồi hãy hay. Còn bây giờ bu cứ ở đây với mẹ con mày, chứ bu ở trên ấy một mình, vong vóng cũng buồn, mà mẹ con mày dưới này thì bấn quá. Mày thì đã lắm thứ công tác. Lại còn lo làm điểm lấy thóc nuôi con...
Từ ngày bà đến ở chung, Bớt như người được cất đi một gánh nặng trên vai. Giờ Bớt chỉ lo công tác với ra đồng làm, giá có phải đi họp hay đi học dăm bảy ngày liền như lớp học chống sâu bệnh cho lúa vừa rồi, là Bớt có thể yên trí đùm gạo đi được, không phải như cái đận ngày xưa vừa họp đấy, mà bụng thì nôn lên với mấy đứa con còn vất vạ ra ở nhà, gửi liều cho hàng xóm. Mấy đứa trẻ được bà trông, chỉ vài tháng đã lớn, béo ra trông thấy. [...]
[...] Bớt kéo con vào lòng, vạch tóc con ra và chỉ vào cái sẹo to bằng cái trôn bát ở gần đỉnh đầu, vô tình kể với bà:
- Còn bố nó ở nhà, bố nó thương con này nhất, bố nó cứ bảo: Tội! Con gái xấu xí.
Bà cụ thở dài và buột miệng cái điều mà bà vẫn lấy làm ân hận:
- Ừ, đáng ra là thế, con nào chả là con. Có mẹ cổ nhân cổ sơ, ngày xưa mẹ mới dọa ra thế chứ!
Bớt vội buông bé Hiên, ôm lấy mẹ:
- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?
1966 - 1974
(Vũ Thị Thường, Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1945 - 2005, NXB Công an Nhân dân, 2005, tr.20 - 23)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn)
Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện.
Câu 2. Chỉ ra một số chi tiết về cách ứng xử của chị Bớt Dương trong văn bản cho thấy chị không giận mẹ dù trước đó từng bị mẹ phân biệt đối xử.
Câu 3. Qua đoạn trích, anh/chị thấy nhân vật Bớt là người như thế nào?
Câu 4. Hành động ôm lấy vai mẹ và câu nói của chị Bớt: "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?" có ý nghĩa gì?
Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống hôm nay và lí giải tại sao.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (1075)
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1 (2.0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của bức tranh quê trong đoạn thơ sau:
Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đưa,
Đầu thềm con chó ngủ lơ mơ,
Bóng cây lơi lả bên hàng dậu,
Đêm vắng, người im, cảnh lặng tờ.
Ông lão nằm chơi ở giữa sân,
Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân.
Thằng cu đứng vịn bên thành chõng,
Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân.
(Trích Trăng hè, Đoàn Văn Cừ, Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân, NXB Văn học, 2005, tr.190 - 191)
Câu 2 (4.0 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ hiện nay.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c
◯
2022
ChatGPT đã nói:
Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ, rõ ý cho từng phần:
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1:
Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
Câu 2:
Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ:
- Vui mừng khi mẹ đến ở cùng
- Gặng hỏi mẹ nhưng với thái độ lo lắng, chân thành, không trách móc
- Chăm sóc, đón nhận mẹ về sống chung
- Khi mẹ áy náy, chị ôm mẹ và trấn an
Câu 3:
Nhân vật Bớt là người:
- Hiếu thảo, bao dung
- Nhân hậu, giàu tình cảm
- Chịu thương chịu khó, có trách nhiệm với gia đình
→ Là hình ảnh đẹp của người phụ nữ nông thôn.
Câu 4:
Ý nghĩa:
- Thể hiện tình yêu thương, sự cảm thông sâu sắc của Bớt dành cho mẹ
- Giúp mẹ giải tỏa mặc cảm, ân hận
- Khẳng định đức tính bao dung, vị tha của người con
Câu 5:
Thông điệp:
→ Trong gia đình, cần yêu thương công bằng, đồng thời mỗi người con cũng nên biết bao dung, thấu hiểu cha mẹ.
Lí giải:
Vì tình cảm gia đình chỉ bền vững khi có sự yêu thương, cảm thông từ cả hai phía; sự vị tha giúp hàn gắn những tổn thương và giữ gìn hạnh phúc.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Đoạn văn ~200 chữ
Đoạn thơ trong bài Trăng hè của Đoàn Văn Cừ đã vẽ nên một bức tranh làng quê yên bình, giản dị mà giàu sức gợi. Không gian được mở ra trong đêm hè tĩnh lặng với những âm thanh quen thuộc như “tiếng võng kẽo kẹt”, hình ảnh “con chó ngủ lơ mơ”, “bóng cây lơi lả” tạo nên nhịp điệu chậm rãi, êm đềm. Cảnh vật dường như hòa vào sự yên tĩnh tuyệt đối của “đêm vắng, người im”. Sang khổ thơ sau, bức tranh trở nên sinh động hơn với hình ảnh con người: ông lão nằm nghỉ, đứa trẻ thơ ngây, con mèo quấn quýt dưới chân. Ánh trăng lan tỏa khiến cảnh vật trở nên lung linh, huyền ảo. Tất cả tạo nên một bức tranh quê vừa gần gũi, vừa ấm áp tình người. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu tha thiết với cuộc sống thôn quê và gợi nhắc người đọc trân trọng những khoảnh khắc bình dị trong đời sống.
Câu 2 (4,0 điểm): Bài văn ~600 chữ
Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất của đời người, là lúc con người có nhiều khát vọng, hoài bão và năng lượng để theo đuổi ước mơ. Trong xã hội hiện đại, sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ không chỉ là yếu tố quyết định thành công cá nhân mà còn góp phần tạo nên sự phát triển của đất nước.
Trước hết, nỗ lực hết mình là việc mỗi người trẻ dám dấn thân, không ngừng học hỏi và cố gắng vượt qua giới hạn của bản thân. Đó không chỉ là sự chăm chỉ trong học tập mà còn là tinh thần cầu tiến, sẵn sàng đối mặt với thử thách. Khi nỗ lực, con người s
Chúng tôi sử dụng cookie
Chúng tôi sử dụng cookie để hỗ trợ trang web này hoạt động, hiểu rõ cách dịch vụ được sử dụng và hỗ trợ các hoạt động tiếp thị. Vui lòng truy cập mục Quản lý cookie để thay đổi tùy chọn bất cứ lúc nào. Xem Chính sách cookie của chúng tôi để biết thêm thông tin.
Quản lý cookie Từ chối cookie không thiết yếu Chấp nhận tất cả