TRẦN THỊ THÙY LINH
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. (Đoạn văn ~120 chữ) Trong đoạn trích Đất nước của Bằng Việt, hình tượng đất nước hiện lên vừa gần gũi vừa lớn lao. Đó không chỉ là không gian địa lí mà còn là kết tinh của bao thế hệ con người cần cù, dũng cảm, hi sinh vì Tổ quốc. Đất nước được cảm nhận qua những bàn tay dựng nhà, những cây cầu nối lại, qua em bé đến lớp, cô gái may áo cưới sau bom đạn. Đất nước vì thế mang vẻ đẹp của sức sống, của hồi sinh và niềm tin vào tương lai. Hình tượng đất nước gắn liền với con người – những con người đã làm nên lịch sử bằng mồ hôi, nước mắt và máu. Câu 2. (Bài văn ~300 chữ) Câu nói: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử” gợi một cách nhìn rất sâu sắc về lịch sử và cảm xúc của con người. Thực tế, lịch sử trong sách vở thường khô khan với con số, sự kiện và mốc thời gian. Nếu chỉ học để nhớ, để thi, thì khó có thể chạm đến trái tim. Nhưng khi ta biết rằng đằng sau mỗi trang sách là số phận con người – những người đã sống, chiến đấu, hi sinh – thì lịch sử bỗng trở nên gần gũi và lay động. Ta xúc động không phải vì chiến thắng được ghi chép, mà vì có những con người đã ngã xuống để làm nên chiến thắng ấy. Chính con người mới là linh hồn của lịch sử. Họ là những bà mẹ tiễn con ra trận, những người lính nằm lại nơi chiến trường, những thanh niên dám sống và chết cho lý tưởng. Khi ta hiểu họ, ta hiểu lịch sử bằng trái tim chứ không chỉ bằng trí nhớ. Câu nói nhắc nhở chúng ta học lịch sử không phải để thuộc lòng, mà để biết trân trọng con người, trân trọng quá khứ. Từ đó, mỗi người trẻ sẽ sống có trách nhiệm hơn với hiện tại và tương lai của đất nước.
Câu 1. Đoạn thơ viết theo thể thơ tự do: số tiếng trong mỗi dòng không đều, không bị ràng buộc bởi luật vần, nhịp linh hoạt. Câu 2. Đoạn thơ thể hiện niềm xúc động, tự hào, tin yêu và lạc quan của nhân vật trữ tình trước sức sống, sự hồi sinh và tương lai của đất nước sau chiến tranh. Câu 3. Biện pháp tu từ điệp cấu trúc/điệp từ “Mỗi… Đều…”. → Nhấn mạnh: từ em bé đến cô gái, mọi thế hệ đều trưởng thành từ gian khổ, bom đạn. Qua đó làm nổi bật ý chí kiên cường và sức sống mạnh mẽ của con người Việt Nam. Câu 4. “Vị ngọt” là vị ngọt của hòa bình, hạnh phúc, tự do, thành quả cách mạng. Vị ngọt ấy có được từ những hi sinh, mất mát, đấu tranh gian khổ của các thế hệ đi trước. Câu 5. Lòng yêu nước là tình cảm thiêng liêng, gắn với trách nhiệm giữ gìn và xây dựng đất nước. Hôm nay, yêu nước không chỉ là sẵn sàng hi sinh khi Tổ quốc cần, mà còn là học tập tốt, sống tử tế, cống hiến bằng việc làm cụ thể để làm cho đất nước ngày càng tốt đẹp hơn.
Trong đoạn trích từ tác phẩm "Sống mòn" của Nam Cao, nhân vật Thứ hiện lên như một hình mẫu điển hình của con người tài năng nhưng lại phải sống trong cảnh bần cùng, nghèo khổ hay gọi là có tài nhưng không gặp thời. Thứ là một người thất nghiệp tuy vậy ẩn sâu trong con người anh là một người trí thức đầy khát vọng,luôn hoài niệm về những ước mơ cao đẹp từng nung nấu trong lòng. Thế nhưng nỗi chua xót trước thực tại tăm tối của cuộc sống khiến Thứ không thể không cảm nhận được sự tù túng ; gian khổ mà mình đang phải trải qua.Qua những dòng suy tư của Thứ , em thấy rõ sự trái ngược của hai khái niệm: khát vọng mong muốn và thực tại phũ phàng. Anh khao khát được sống một cuộc đời đáng giá, không bị bó hẹp bởi những lo toan nhàm chán nhưng thực tế lại buộc anh phải chăm chăm vào việc kiếm ăn, thiếu thốn . Tâm trạng bi thương của anh thể hiện tư tưởng triết lý sâu sắc của Nam Cao cái đói khổ, cái nghèo nàn, bi kịch trong đời sống con người, khi mà phải lo Cơm áo gạo tiền để rồi quên bẵng mất đi khát vọng muốn đạt được. Và đặc biệt câu hỏi của nhân vật Thứ "Sống làm gì cho cực?"đã nói lên nỗi hoài nghi về giá trị cuộc sống, nói lên tiếng lòng của bao phận người khác trong xã hội , nơi đất khách quê người.Nghệ thuật khắc họa tinh thần khi bị trói buộc bởi thực tại phũ phàng, Thứ đại diện cho nhiều con người khao khát vượt lên hoàn cảnh nhưng đã vô tình bị trói buộc bởi những xiềng xích của nghèo đói , cuộc sống.Từ đó khắc sâu trong lòng người đọc những suy ngẫm , suy tư về giá trị sống , khát vọng tự do trong cuộc đời.
Trong đoạn trích từ tác phẩm "Sống mòn" của Nam Cao, nhân vật Thứ hiện lên như một hình mẫu điển hình của con người tài năng nhưng lại phải sống trong cảnh bần cùng, nghèo khổ hay gọi là có tài nhưng không gặp thời. Thứ là một người thất nghiệp tuy vậy ẩn sâu trong con người anh là một người trí thức đầy khát vọng,luôn hoài niệm về những ước mơ cao đẹp từng nung nấu trong lòng. Thế nhưng nỗi chua xót trước thực tại tăm tối của cuộc sống khiến Thứ không thể không cảm nhận được sự tù túng ; gian khổ mà mình đang phải trải qua.Qua những dòng suy tư của Thứ , em thấy rõ sự trái ngược của hai khái niệm: khát vọng mong muốn và thực tại phũ phàng. Anh khao khát được sống một cuộc đời đáng giá, không bị bó hẹp bởi những lo toan nhàm chán nhưng thực tế lại buộc anh phải chăm chăm vào việc kiếm ăn, thiếu thốn . Tâm trạng bi thương của anh thể hiện tư tưởng triết lý sâu sắc của Nam Cao cái đói khổ, cái nghèo nàn, bi kịch trong đời sống con người, khi mà phải lo Cơm áo gạo tiền để rồi quên bẵng mất đi khát vọng muốn đạt được. Và đặc biệt câu hỏi của nhân vật Thứ "Sống làm gì cho cực?"đã nói lên nỗi hoài nghi về giá trị cuộc sống, nói lên tiếng lòng của bao phận người khác trong xã hội , nơi đất khách quê người.Nghệ thuật khắc họa tinh thần khi bị trói buộc bởi thực tại phũ phàng, Thứ đại diện cho nhiều con người khao khát vượt lên hoàn cảnh nhưng đã vô tình bị trói buộc bởi những xiềng xích của nghèo đói , cuộc sống.Từ đó khắc sâu trong lòng người đọc những suy ngẫm , suy tư về giá trị sống , khát vọng tự do trong cuộc đời.
Trong đoạn trích từ tác phẩm "Sống mòn" của Nam Cao, nhân vật Thứ hiện lên như một hình mẫu điển hình của con người tài năng nhưng lại phải sống trong cảnh bần cùng, nghèo khổ hay gọi là có tài nhưng không gặp thời. Thứ là một người thất nghiệp tuy vậy ẩn sâu trong con người anh là một người trí thức đầy khát vọng,luôn hoài niệm về những ước mơ cao đẹp từng nung nấu trong lòng. Thế nhưng nỗi chua xót trước thực tại tăm tối của cuộc sống khiến Thứ không thể không cảm nhận được sự tù túng ; gian khổ mà mình đang phải trải qua.Qua những dòng suy tư của Thứ , em thấy rõ sự trái ngược của hai khái niệm: khát vọng mong muốn và thực tại phũ phàng. Anh khao khát được sống một cuộc đời đáng giá, không bị bó hẹp bởi những lo toan nhàm chán nhưng thực tế lại buộc anh phải chăm chăm vào việc kiếm ăn, thiếu thốn . Tâm trạng bi thương của anh thể hiện tư tưởng triết lý sâu sắc của Nam Cao cái đói khổ, cái nghèo nàn, bi kịch trong đời sống con người, khi mà phải lo Cơm áo gạo tiền để rồi quên bẵng mất đi khát vọng muốn đạt được. Và đặc biệt câu hỏi của nhân vật Thứ "Sống làm gì cho cực?"đã nói lên nỗi hoài nghi về giá trị cuộc sống, nói lên tiếng lòng của bao phận người khác trong xã hội , nơi đất khách quê người.Nghệ thuật khắc họa tinh thần khi bị trói buộc bởi thực tại phũ phàng, Thứ đại diện cho nhiều con người khao khát vượt lên hoàn cảnh nhưng đã vô tình bị trói buộc bởi những xiềng xích của nghèo đói , cuộc sống.Từ đó khắc sâu trong lòng người đọc những suy ngẫm , suy tư về giá trị sống , khát vọng tự do trong cuộc đời.
Câu 1: Trong đoạn trích từ tác phẩm "Sống mòn" của Nam Cao, nhân vật Thứ hiện lên như một hình mẫu điển hình của những con người tài năng nhưng lại phải sống trong cảnh bần cùng, nghèo khổ hay gọi là có tài nhưng không gặp thời. Thứ là một người thất nghiệp tuy vậy ẩn sâu trong con người anh là một người trí thức đầy khát vọng,luôn hoài niệm về những ước mơ cao đẹp từng nung nấu trong lòng. Thế nhưng nỗi chua xót trước thực tại tăm tối của cuộc sống khiến Thứ không thể không cảm nhận được sự tù túng ; gian khổ mà mình đang phải trải qua.Qua những dòng suy tư của Thứ , em thấy rõ sự trái ngược của hai khái niệm: khát vọng mong muốn và thực tại phũ phàng. Anh khao khát được sống một cuộc đời đáng giá, không bị bó hẹp bởi những lo toan nhàm chán nhưng thực tế lại buộc anh phải chăm chăm vào việc kiếm ăn, thiếu thốn . Tâm trạng bi thương của anh thể hiện tư tưởng triết lý sâu sắc của Nam Cao cái đói khổ, cái nghèo nàn, bi kịch trong đời sống con người, khi mà phải lo Cơm áo gạo tiền để rồi quên bẵng mất đi khát vọng muốn đạt được. Và đặc biệt câu hỏi của nhân vật Thứ "Sống làm gì cho cực?"đã nói lên nỗi hoài nghi về giá trị cuộc sống, nói lên tiếng lòng của bao phận người khác trong xã hội , nơi đất khách quê người.Nghệ thuật khắc họa tinh thần khi bị trói buộc bởi thực tại phũ phàng, Thứ đại diện cho nhiều con người khao khát vượt lên hoàn cảnh nhưng đã vô tình bị trói buộc bởi những xiềng xích của nghèo đói , cuộc sống.Từ đó khắc sâu trong lòng người đọc những suy ngẫm , suy tư về giá trị sống , khát vọng tự do trong cuộc đời.
Câu 2:
Câu 1: Ngôi kể: ngôi thứ ba Câu 2: Có sự kết hợp điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn của tác giả và của nhân vật trong truyện Câu 3: Điểm nhìn của đoạn văn trên là nhân vật người cha, trọng tâm là điểm nhìn từ bên trong. Đó là sự bất lực, lo lắng , trốn tránh của người cha trước thực tại khi ông không thể làm gì cho con Câu 4:Lời của nhân vật trong tác phẩm nhân vật người mẹ Đây là những lời của mẹ Hồng mắng Hồng khi hồng nghịch bẩn làm lấm lem quần áo
Câu 1:
Trong đoạn trích từ tác phẩm "Sống mòn" của Nam Cao, nhân vật Thứ hiện lên như một hình mẫu điển hình của những con người tài năng nhưng lại phải sống trong cảnh bần cùng, nghèo khổ hay gọi là có tài nhưng không gặp thời. Thứ là một người thất nghiệp tuy vậy ẩn sâu trong con người anh là một người trí thức đầy khát vọng,luôn hoài niệm về những ước mơ cao đẹp từng nung nấu trong lòng. Thế nhưng nỗi chua xót trước thực tại tăm tối của cuộc sống khiến Thứ không thể không cảm nhận được sự tù túng ; gian khổ mà mình đang phải trải qua.Qua những dòng suy tư của Thứ , em thấy rõ sự trái ngược của hai khái niệm: khát vọng mong muốn và thực tại phũ phàng. Anh khao khát được sống một cuộc đời đáng giá, không bị bó hẹp bởi những lo toan nhàm chán nhưng thực tế lại buộc anh phải chăm chăm vào việc kiếm ăn, thiếu thốn . Tâm trạng bi thương của anh thể hiện tư tưởng triết lý sâu sắc của Nam Cao cái đói khổ, cái nghèo nàn, bi kịch trong đời sống con người, khi mà phải lo Cơm áo gạo tiền để rồi quên bẵng mất đi khát vọng muốn đạt được. Và đặc biệt câu hỏi của nhân vật Thứ "Sống làm gì cho cực?"đã nói lên nỗi hoài nghi về giá trị cuộc sống, nói lên tiếng lòng của bao phận người khác trong xã hội , nơi đất khách quê người.Nghệ thuật khắc họa tinh thần khi bị trói buộc bởi thực tại phũ phàng, Thứ đại diện cho nhiều con người khao khát vượt lên hoàn cảnh nhưng đã vô tình bị trói buộc bởi những xiềng xích của nghèo đói , cuộc sống.Từ đó khắc sâu trong lòng người đọc những suy ngẫm , suy tư về giá trị sống , khát vọng tự do trong cuộc đời.
Câu 1: Điểm nhìn của người kể chuyện là điểm nhìn hạn trị, điểm nhìn bên trong – người kể chuyện ngôi thứ ba nương vào cảm nhận, suy nghĩ của nhân vật Thứ để kể.
Câu 2: Ước mơ của Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là “đỗ thành chung”, “đỗ tủ tài”, “vào đại học đường”, “sang Tây”, rồi sẽ “thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình” (Học sinh có thể dẫn trực tiếp thông tin trong văn bản hoặc cũng có thể tóm tắt thông tin và trả lời, đảm bảo ý. Ước mơ của Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là đỗ đạt, thành tài và trở thành người có đóng góp lớn cho xã hội).
Câu 3: (1) Biện pháp điệp cấu trúc (Y sẽ.../ Đời y sẽ.../ ... sẽ khinh y/ ... chết mà chưa...): có tác dụng nhấn mạnh những nhận thức, hình dung về cuộc sống mòn mỏi, vô nghĩa của nhân vật Thứ về tương lai phía trước của mình; đồng thời tạo nên nhịp điệu gợi cảm cho câu văn; giúp người đọc có thể tưởng tượng được cuộc sống “mòn” đầy bi kịch của người trí thức trong xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng Tám, đồng thời hiểu, đồng cảm sâu sắc với tâm trạng đau khổ của nhân vật. (2) Biện pháp ẩn dụ: “đời” – “mốc lên”, “gỉ đi”, “mòn”, “mục” ra: có tác dụng gợi lên một cách sinh động về cuộc sống vô nghĩa, lụi tàn từng ngày mà nhân vật sẽ phải nếm trải trong hình dung của mình; thể hiện giá trị hiện thực của tác phẩm. (3) Biện pháp liệt kê tăng cấp: liệt kê một chuỗi những điều Thứ hình dung về cuộc sống tương lai của mình (chẳng có việc gì làm, ăn bám vợ/ mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra ở một xó nhà quê); trong đó nhân vật cảm nhận được sự khinh thường của mọi người và chính bản thân mình (Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y); có tác dụng gợi lên một cách sinh động và nhấn mạnh về cuộc sống vô nghĩa, lụi tàn cứ rõ nét từng ngày cũng như cảm xúc tổn thương, mặc cảm mà nhân vật sẽ phải nếm trải trong hình dung của mình; từ đó góp phần thể hiện giá trị hiện thực của tác phẩm. (4) Biện pháp nghịch ngữ: “chết mà chưa sống”, có tác dụng khắc hoạ và nhấn mạnh bi kịch mà nhân vật phải nếm trải: “chết” ở đây là “chết” về mặt tinh thần; “sống” ở đây là “sống” thực sự, sống có ý nghĩa. Từ đó, góp phần thể hiện giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm...
Câu 4: Nhận xét về cuộc sống và con người của nhân vật Thứ được thể hiện trong đoạn trích: (1) Cuộc sống của nhân vật Thứ: Cuộc sống đầy bi kịch, ngày càng khó khăn, mòn mỏi trong việc kiếm kế sinh nhai để lo cho bản thân và gia đình, không thực hiện được những ước mơ của đời mình. (2) Con người nhân vật Thứ: là con người đầy hoài bão, khát vọng; con người có đời sống nội tâm phong phú, có khả năng nhận thức sâu sắc về cuộc sống và bản thân mình.
Câu 5: Suy nghĩ về triết lí “sống là phải làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời mình”. Đây là một triết lí sâu sắc bởi lẽ: mỗi người là một bản thể duy nhất, mỗi người chỉ có cơ hội sống một lần. Cuộc sống là sự trải nghiệm của mỗi cá nhân.