NGUYỄN THỊ KHÁNH LINH
Giới thiệu về bản thân
- Câu 1: Phương thức biểu đạt chính:
- Nếu đoạn văn có nhiều cảm xúc, suy tư, bộc lộ tình cảm, đó có thể là Biểu cảm (kết hợp với Nghị luận).
- Nếu có kể chuyện, đó là Tự sự.
- Nếu dùng lời lẽ để thuyết phục, đó là Nghị luận.
- Câu 2: Thao tác lập luận đoạn (5) và tác dụng:
- Thao tác: Thường là Phân tích (làm rõ vấn đề), Bình luận (bàn luận sâu sắc), Giải thích, So sánh, Chứng minh (dùng dẫn chứng).
- Tác dụng: Làm cho lập luận chặt chẽ, sâu sắc, có sức thuyết phục cao, làm rõ chủ đề.
- Câu 3: "Chúng ta thực sự là những kẻ nghèo đói" vì:
- Thường do thiếu tình yêu thương, sự sẻ chia, kết nối; vật chất đầy đủ nhưng tâm hồn trống rỗng; xa rời giá trị tinh thần, cội nguồn dân tộc.
- Ví dụ: Thiếu sự thấu cảm, chỉ biết ích kỷ, xa lạ với cộng đồng, quên đi cội rễ văn hóa.
- Câu 4: Cách chữa "bệnh tâm hồn" (theo đoạn 11):
- Tìm về giá trị cội nguồn (tình yêu quê hương, tiếng mẹ đẻ).
- Sẻ chia, thấu cảm, yêu thương lẫn nhau.
- Kết nối lại với cộng đồng, xã hội.
- Tìm lại ý nghĩa cuộc sống, biết ơn những điều giản dị.
âu 1. (0,5 điểm):
Dấu hiệu xác định thể thơ tự d là:
- Các câu thơ dài ngắn không đều nhau,
- Không bị ràng buộc bởi số chữ, số tiếng mỗi dòng,
- Nhịp điệu linh hoạt, giàu cảm xúc.
Câu 2. (0,5 điểm):
Từ miêu tả cảm xúc của nhân vật trữ tình trong đoạn thơ in đậm là từ:
→ bàng hoàng.
Câu 3. (1,0 điểm):
Phân tích tác dụng của phép tu từ ẩn dụ trong hai dòng thơ:
> Em đi gặt trên cánh đồng cổ tích
> Lúa bàng hoàng chín rực những triền sông...
- Ẩn dụ “cánh đồng cổ tích”: gợi ra vẻ đẹp kì diệu, nên thơ của quê hương đất nước, biến công việc lao động bình dị thành một hành trình mơ mộng, thiêng liêng.
- Ẩn dụ “lúa bàng hoàng chín rực”: nhân hóa lúa, thể hiện sự ngỡ ngàng trước thành quả lao động to lớn, đồng thời làm nổi bật màu sắc rực rỡ, trù phú của đất nước.
→ Tác dụng chung: Làm cho bức tranh quê hương thêm sinh động, lung linh, thể hiện niềm tự hào, yêu thương sâu sắc với đất nước.
Câu 4. (1,0 điểm):
Lí giải ý nghĩa hai dòng thơ:
> Đất nước đàn bầu/ Đất nước ban mai...
- “Đất nước đàn bầu”: đàn bầu – nhạc cụ dân tộc – tượng trưng cho tâm hồn Việt Nam, nét đẹp văn hóa truyền thống.
-“Đất nước ban mai”: ban mai – buổi sáng tinh khôi – tượng trưng cho sự tươi mới, hi vọng, tương lai tươi sáng.
→ Ý nghĩa: Hai hình ảnh kết hợp làm nổi bật vẻ đẹp vừa truyền thống vừa hiện đại của đất nước Việt Nam: giữ gìn bản sắc dân tộc và đang vươn lên mạnh mẽ trong tương lai.
Câu 2: Suy nghĩ về thông điệp của chiến dịch "Turn your back" của Dove Bài văn ngắn: Chiến dịch "Turn your back" (Quay lưng lại) của Dove năm 2023 không chỉ là một chiến dịch quảng cáo mà còn là lời tuyên ngôn mạnh mẽ về vẻ đẹp con người, lan tỏa thông điệp ý nghĩa về sự đa dạng và giá trị của vẻ đẹp tự nhiên, không chuẩn mực. Thông điệp này chạm đến sâu sắc tâm lý nhiều người, đặc biệt là phụ nữ, trong bối cảnh mạng xã hội bùng nổ các bộ lọc AI làm biến dạng thực tế, tạo ra áp lực về một vẻ đẹp hoàn hảo, phi thực tế. Thứ nhất, thông điệp tôn vinh vẻ đẹp tự nhiên và sự độc đáo của mỗi cá nhân. Dove khích lệ mọi người "quay lưng" lại với những hiệu ứng chỉnh sửa, thay vào đó, nhìn nhận và yêu thương vẻ đẹp thật sự của bản thân, dù có những khuyết điểm. Vẻ đẹp chân thực, không hoàn hảo mới chính là vẻ đẹp độc đáo, mang dấu ấn cá nhân và có giá trị thực sự. Việc nhấn mạnh "vẻ đẹp là không có chuẩn mực" giúp giải phóng con người khỏi gánh nặng phải chạy theo những tiêu chuẩn cái đẹp do xã hội áp đặt. Thứ hai, chiến dịch phản ánh và lên án áp lực "hoàn hảo hóa" bản thân. Sự phát triển của công nghệ AI, đặc biệt là các bộ lọc khuôn mặt trên TikTok, vô tình tạo ra một chuẩn mực ảo về sắc đẹp, khiến nhiều người cảm thấy tự ti, mặc cảm về ngoại hình thật của mình. Dove đặt ra câu hỏi về giá trị thực sự của vẻ đẹp trong thời đại số và khuyến khích một thái độ sống tích cực hơn, nơi con người không đánh mất bản ngã vì những hình ảnh được "chỉnh sửa" hoàn hảo giả tạo. Thứ ba, chiến dịch xây dựng sự tự tin và tình yêu thương bản thân. Khi phụ nữ và mọi người ngừng tìm kiếm sự công nhận qua những hình ảnh ảo, họ sẽ quay về trân trọng và yêu thương chính mình nhiều hơn. Điều này không chỉ giúp nâng cao sức khỏe tinh thần mà
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, dựa vào kiến thức của bản thân về nhà văn Nam Cao
Lời giải chi tiết:
Khi xây dựng nhân vật ông giáo Thứ, nhà văn Nam Cao muốn:
- Thể hiện cuộc đời đầy bi kịch của tầng lớp trí thức tiểu tư sản lúc bấy giờ, những người trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, có hoài bão, tâm huyết và tài năng, muốn xây dựng một sự nghiệp tinh thần cao quý nhưng lại bị gánh nặng cơm áo và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho “chết mòn”, phải sống như một kẻ vô ích, một người thừa trong xã hội.
- Thể hiện cái nhìn phát hiện về người trí thức tiểu tư sản với khát vọng, một lẽ sống lớn, có ích, có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người.
- Thông qua câu chuyện để kịch liệt phê phán sâu sắc xã hội phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người.
→ Đáp án D
Câu 9: Em có suy nghĩ và đánh giá gì về nhân vật ông giáo Thứ trong đoạn trích? (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích, chú ý những chi tiết miêu tả nhân vật thứ và đưa ra suy nghĩ của bản thân
Lời giải chi tiết:
Ông giáo Thứ trong đoạn trích là một người có đời sống nội tâm sâu sắc với những day dứt và giằng xé giữa một bên là khát vọng về một cuộc sống có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống, một bên là gánh nặng cơm áo gạo tiền.
Dù nhiều lúc Thứ có những suy nghĩ ích kỉ nhưng xét đến cùng, đây vẫn là một con người lương thiện với tấm lòng vị tha, bao dung, luôn muốn giúp đỡ người khác và sống trách nhiệm với gia đình. Đây chính là đại diện tiêu biểu cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản lúc bấy giờ với những đau khổ, những khát vọng và cả những phẩm chất tốt đẹp
Nhắc đến nhà văn Nam Cao người ta nhớ đến ngay một cây bút xuất sắc của văn học hiện thực phê phán. Ông để lại cho nền văn học nước nhà những tác phẩm có giá trị vô cùng to lớn, Bên cạnh những tác phẩm như “Lão Hạc”, “Chí Phèo”, “Đời thừa” người ta còn nhớ đến truyện ngăn “Sống mòn”, một tiểu thuyết dài hơn 200 trang của Nam Cao đã thể hiện được cảm quan về thời gian và không gian gắn liền với cảm quan về con người và cuộc đời, gắn bó với ước mơ và lí tưởng nhà văn.
Một trong những nét đặc sắc của thời gian nghệ thuật trong sáng tác của Nam Cao là đã tạo ra một kiểu thời gian hiện thực hàng ngày. Trong đó các nhân vật của ông dường như bị giam hãm, tù túng, lẩn quẩn trong vòng những lo âu thường nhật: Nhà cửa, miếng cơm, manh áo.. "nhắp chén nước, vừa nghĩ đến cái vị nhạt phèo của đời y. Làm đến chết người đó, chỉ để được ngày vài bữa cơm rau đổ vào mồn rồi đêm ngủ một mình, tưởng nhớ đến vợ con, trong khi ở quê cũng vậy, làm, làm đến chết người, cũng chỉ vì mỗi ngày mấy bữa cơm, ngoài ra chẳng có một cái hy vọng gì hơn nữa. ". Cả thế giới nhân vật trong tiểu thuyết "bị áo cơm ghì sát đất" như xuôi đi trong cái vòng lẩn quẩn của thời gian hàng ngày mòn mỏi, khiến cho thời gian trong tác phẩm như đông đặc lại. Có thể nói, cùng với việc phác họa những chi tiết chân thật, mô tả những mối quan hệ nhân sinh, Nam Cao đã sáng tạo ra trong tác phẩm một kiểu thời gian hiện thực hàng ngày với những lo âu về kinh tế, mòn mỏi về tâm hồn, góp phần tạo nên hình ảnh một cuộc sống bế tắc, ngột ngạt.
Bên cạnh thời gian hiện tại, Nam Cao nhiều khi còn sử dụng thời gian hồi tưởng. Trong tác phẩm, hồi tưởng hiện ra từ từ, nó không tồn tại độc lập mà trong mối liên hệ thường xuyên, chặt chẽ với hệ thống thời gian nghệ thuật. Trong Sống mòn, những kỉ niệm cũ hiện lên thông qua sự hồi tưởng của nhân vật có thể trong sáng, ấm áp nhưng bao giờ cũng gợi lên một nỗi buồn. Đó là lúc Thứ nghe Mô kể chuyện cưới vợ: "Lúc này đây, y cũng buồn, tuy Mô đang sung sướng nói về vợ nó với y. Nó nhắc y nhớ đến những phút sung sướng đã qua, đến vợ con, đến gia đình. Y ngước mắt nhìn một vì sao, ngậm ngùi tưởng tượng ra vợ y đang ôm con, ngồi ở ngưỡng cửa, lặng lẽ và buồn rầu như đá Vọng Phu..". Đối với họ, những cảnh vật ngày hôm nay như khêu như gợi những kỉ niệm của ngày qua. Và kỉ niệm cũ hiện về chỉ làm tăng thêm nỗi buồn chán khổ đau trước mắt.
Trong tác phẩm, Nam Cao còn miêu tả thêm viễn cảnh của tương lai. Hiện tại tối tăm, ảm đạm còn tương lai cũng nhuốm màu xám xịt. Hiện tại đối với Thứ thật mòn mỏi, nhưng tương lai còn thê thảm hơn nhiều: "Nhưng nay mai mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y, rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!". Song tương lai ấy cũng không hoàn toàn tuyệt vọng, trong cái thế giới nghệ thuật nhuốm màu ảm đạm của Nam Cao đôi khi cũng lóe lên những hy vọng. Ở đoạn kết tác phẩm, Thứ cũng hy vọng vào một sự đổi thay: "Lòng Thứ đột nhiên lại hé ra một tia sáng long lanh. Thứ lại thấy hy vọng một cách vu vơ. Tuy nhiên, tia sáng lạc quan cách mạng ấy, nhìn chung còn rất mong manh, chưa có cơ sở vững chắc trong thế giới quan của nhà văn, vì thế không đủ sức xua tan không khí bi quan ảm đạm bao trùm toàn bộ tác phẩm.
Các kiểu thời gian riêng biệt nói trên liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau tạo nên nhịp điệu chung của sự vận động trong tác phẩm, một nhịp điệu chậm, nặng nề, nhàm chán và mòn mỏi. Trong cái nhịp điệu chung ấy, đời sống các nhân vật của ông như bị tù đọng, ứ lại. Từ cảnh sống mòn mỏi của Thứ, San đến cuộc sống đơn điệu, tẻ ngắt của gia đình ông Học.. tất cả hiện lên tạo thành một bức tranh tổng hợp về lối sống mòn mà nhà văn muốn đề cập đến trong tiểu thuyết này.
Không gian nghệ thuật trong tác phẩm trước hết là không gian thành thị. Các nhân vật hướng tới nó với niềm hi vọng tìm thấy lối thoát cho cuộc sống cùng quẫn, buồn chán và tẻ nhạt ở quê nhà. Sài Gòn, Hà Nội hiện ra, nơi mà các nhân vật của Nam Cao gửi gắm biết bao hy vọng, háo hức nhưng rồi lại bị chết dần, chết mòn những mơ ước ở đó, cuối cùng như một quy luật họ buộc phải quay về quê hương đem theo cả sự nghèo đói, cả sự suy sụp cả về tinh thần lẫn thể xác.
Không gian thứ hai trong tác phẩm là không gian vùng nông thôn, những căn nhà nơi thôn dã.. Khác với làng Đông Xá huyên náo, dồn dập tiếng trống thúc sưu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, nông thôn trong Sống mòn có cái vẻ vắng lặng, hoang vu của một làng quê xơ xác, đói nghèo. Từ không gian thành thị đến không gian làng quê, tuy địa điểm có khác nhau nhưng nhìn chung vẫn là không gian sống của những kiếp người nghèo khó. Làng quê thì vắng lặng, hoang vu, thành thị mà cụ thể là ở vùng ngoại ô Hà Nội, một phố nhem nhuốc, lổn nhổn đủ hạng người.. cũng chật chội, cũng lam lũ, ảm đạm không khác gì nhau. Nam Cao đã phản ánh chân thật cuộc sống tù đọng đến mức ngột ngạt của xã hội Việt Nam vào những đêm trước cách mạng tháng Tám. Những tiếng mắng diếc, hắt hủi, dằn vặt, khóc lóc hàng ngày đã làm mòn dần những rung động, những ước mơ của Thứ, San. Những xích mích vặt vãnh, những ghen tuông, đố kị nhỏ nhen của Thứ, San, Đích, Oanh cũng phơi bày hết trong cái không gian chật hẹp ở trường tư ngoại ô Hà Nội, trong căn gác xép hoặc căn buồng thuê của ông Học. Các nhân vật của Nam Cao dường như muốn thoát ra khỏi không gian ngột ngạt, tù túng ấy nhưng đánh bất lực
Ở ngoại ô làng Thụy, trong căn buồng thuê của gia đình ông Học, Thứ thường nằm dài trên giường suy nghĩ rất lung về cái kiếp sống mòn của mình. Qua dòng tâm tưởng của Thứ, người đọc thấy không gian tâm tưởng hiện ra chủ yếu là không gian làng quê trong quá khứ; không gian ngôi nhà, làng xóm với những cảnh rất đỗi quen thuộc mà Thứ đã từng gắn bó. Không gian làng quê hiện ra trong tâm tưởng Thứ cùng với những kỉ niệm buồn, với những nỗi xót xa, trăn trở dằn vặt, hối hận với gia đình mình. Với không gian tâm tưởng, Nam Cao đã để nhân vật của mình tự phơi bày đời sống phức tạp bên trong con người mình: Ý nghĩa cuộc sống, tình yêu, sự ghen tuông, cách xử thế với bạn, với mọi người xung quanh..
Ở cuối tác phẩm, trong không gian tâm tưởng xuất hiện hai hình ảnh đối lập nhau: Một là hình ảnh "một xó nhà quê", "đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mục ra".. hiện ra trong tâm trạng bi quan, tuyệt vọng của Thứ khi anh rời Hà Nội về quê, hai là hình ảnh về "một tia sáng mong manh. Thứ lại thấy hy vọng một cách vu vơ. Sau chiến tranh này, có lẽ cuộc sống sẽ dễ dàng hơn, công bằng hơn.. đẹp đẽ hơn..", không gian nghệ thuật của Sống mòn vì thế là không gian mở, gợi ra cho người đọc nhiều suy nghĩ khác nhau.
Là một nhà văn bậc thầy, Nam Cao đã sử dụng linh hoạt các yếu tố thời gian và không gian trong tiểu thuyết Sống mòn. Từ không gian làng quê, thành thị, cho đến căn buồng, nhà ở, Nam Cao đã vươn tới không gian tâm tưởng của con người với những trăn trở, dằn vặt, suy tư.. của các nhân vật trong tác phẩm. Cùng với việc đổi thay không gian, thời gian nghệ thuật cũng được mở ra nhiều chiều, tạo cho tác phẩm có được một giá trị sâu sắc, giúp cho người đọc thấy được cái nhìn và thái độ của nhà văn đối cuộc đời, với xã hội thời bấy giờ. Đó là một cái nhìn vừa thẳng thắn, khách quan vừa giàu chất nhân văn.
Tiểu thuyết Sống mòn với những suy nghĩ, trăn trở về cách sống, mục đích cuộc đời trong niềm xót xa, dằn vặt khôn nguôi đã thể hiện được một cái nhìn thấu suốt của nhà văn về con người, về những uẩn khúc rối ren của cuộc đời. Sống mòn không có những xung đột căng thẳng, không đao to búa lớn mà cứ đời thường giản dị, thông qua các tình huống, các cuộc đời nhân vật, đã nêu bật những giằng xé trong nội tâm, những ước mơ về một tương lai tốt đẹp. Bằng văn phong điềm đạm, cốt truyện đơn giản, Nam Cao đã phản ánh được những điều tồi tệ, nhỏ nhen, tha hóa của nhân cách con người và lòng khát khao thay đổi cuộc sống nhọc nhằn bằng một cuộc đời tốt đẹp và nhân bản hơn. Có thể nói bao trùm lên toàn tác phẩm là một tấm lòng nhân ái, tình người thẫm trong từng trang viết của ông.
Câu 1:
-Phương thức biểu đạt chính của văn bản: thuyết minh.
Câu 2:
-Những thể loại thể hiện tài năng văn học của Puskin: thơ, tiểu thuyết bằng thơ, trường ca thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết lịch sử,kịch...
Câu 3:
Theo tôi "Mặt trời của thi ca Nga" là cách nói ẩn dụ tôn vinh giá trị thơ và vị trí nhà thơ Puskin.
Thơ Puskin đánh thức những tình cảm tốt lành trong tâm hồn Nga khao khát tự do và tình yêu, mang sức mạnh tinh thần, có ý nghĩa to lớn trong lịch sử văn chương và lịch sử thức tỉnh của dân tộc Nga.
Puskin là nhà thơ vĩ đại có vị trí đặc biệt quan trọng - người khơi dậy sức phát triển phi thường cho văn học Nga thế kỉ XIXvaf đưa nó trở thành một trong những đỉnh cao của nghệ thuật nhân loại.
Câu 4:
"Tôi yêu em" không chỉ đơn thuần là một bài thơ để thể hiện sự chân thành của A.Pu-skin dành cho người mình yêu mà còn đem đến bài học thật sâu sắc về thái độ ứng xử có văn hoá trong tình yêu. Tình yêu là sự rung động mãnh liệt về cảm xúc, về trái tim của con người, thật khó có định nghĩa nào toàn diện về khái niệm này. Tình yêu không chỉ là tình cảm lứa đôi, không phải chỉ xuất phát từ trái tim mà còn đến từ khối óc của con người. Đó là thái độ ứng xử có văn hóa. Vậy điều này được thể hiện như thế nào? Trước hết đó là tôn trọng người mình yêu qua cách xưng hô như A. Pu-skin đã từng nói một cách đầy tình cảm rằng Tôi / em. Cách gọi ấy thể hiện sự trang trọng, dành trọn trái tim cho người mà mình yêu thương. Không những thế, tôn trọng sự lựa chọn của người mình yêu cũng là việc ứng xử có văn hóa trong tình yêu. Pu-skin đã không phản bác mà tự nguyện chấp nhận sự lựa chọn của người con gái, cũng không hờn dỗi, trách móc hay oán thán, tự nhận về mình trách nhiệm đã làm người con gái phải bận lòng, phải u hoài. Yêu nhưng luôn hướng về đối phương để em không bận lòng vì em nữa, hi sinh vì niềm đam mê, vì hạnh phúc nơi em chọn lựa. Tình yêu không phải là sự ép buộc mà tình yêu là một sự tự nguyện: tự nguyện của những tâm hồn đồng cảm, đồng điệu. Song chia tay không phải để trở thành đối lập, thù địch của nhau mà chia tay để nối thêm, để mở rộng tình đòi. Đó là văn hoá ứng xử trong tình yêu. Nhân vật trữ tình trong bài thơ không thể đến, không có cơ hội trao duyên mong thành đôi thì mong người con gái ấy sẽ hạnh phúc với lựa chọn của mình. Tình yêu cần hướng đến sự đồng điệu, đồng cảm, sự tận tụy hi sinh, cần mãnh liệt để yêu và cần tinh tế để cảm nhận. Đó mới là cách úng xử tuyệt vời nhất, thông minh và có văn hóa.