HOÀNG ĐAN LINH
Giới thiệu về bản thân
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích diễn biến tâm lý nhân vật ông giáo Thứ để từ đó thấy được những phẩm chất của nhân vật này trong đoạn trích phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4 điểm)
Năm 2023, Dove – thương hiệu chăm sóc cá nhân đến từ Hoa Kỳ - đã tạo ra một chiến dịch quảng cáo có tên “Turn your back” (Quay lưng lại), cổ vũ phụ nữ nói riêng và con người nói chung không sử dụng các hiệu ứng chỉnh sửa khuôn mặt AI đến từ Tiktok, nhằm tôn vinh vẻ đẹp của con người, và mang đến thông điệp: Vẻ đẹp là không có chuẩn mực. Chiến dịch này của Dove đã tạo ra hiệu ứng tích cực trên toàn cầu, nhấn mạnh rằng vẻ đẹp của con người, dù có khiếm khuyết, lại chính là điều hoàn hảo nhất.
Viết bài văn ngắn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về thông điệp của Dove.
Sống mòn
“... Trong khi ở nhà quê cũng vậy, làm đến chết người, cũng chỉ vì mỗi ngày mấy bữa cơm, ngoài ra, chẳng hề có một cái lạc thú gì khác nữa... Cuộc đời như thế kéo dài đã mấy năm rồi. Nó còn kéo dài ra năm năm, mười năm, hai mươi năm... biết đến bao giờ? Thứ hoảng hốt rằng đời y rất có thể cứ thể này mãi mãi, suốt đời... Thứ mở to đôi mắt, sợ hãi, nhận ra rằng bao nhiêu năm nay y đã sống như mơ ngủ vậy. Ôi chao! Còn cách gì có thể thay đổi được đời y? Y không đánh bạc, không mua vé số, không có vốn để đi buôn, cái đời công chức, có lẽ chẳng hơn cải đời y được bao nhiêu, mà lại có phần bỏ buộc hơn, chán nản hơn...
Y có sáu đứa em thì ba đứa sẽ phải cưới vợ, ba đứa phải gả chồng, rồi lại phải giúp cho chúng có nghề nghiệp, có cơ sở làm ăn. Y là con cả. Y đã được học nhiều. Cái bổn phận của y cố nhiên là phải to tát lắm. Y có rất nhiều gánh nặng. Càng nhìn xa, y càng thấy đời y càng ngày càng thắt chặt vào, càng chật chội thêm. Y chỉ có thể khổ hơn thế, không có thể sướng ra. Hết việc nọ đến việc kia, toàn những việc phải tiêu. Y đúng như một con ngựa còm, cứ vừa mới ý ạch qua cái dốc này thì lại đến ngay dốc khác. Tương lai sầm tối. Thử vụt đã lại đã biến thành con người thực tế hơn. Y không còn dám nghĩ gì đến những thú vui, những hy vọng cao xa. Y chỉ còn dám nghĩ đến cơm áo hằng ngày của vợ con... Số tiền gửi về nhà quê, số tiền để dành sẽ hụt đi. Vợ con y sẽ khổ thêm. Mà biết đến bao giờ y mới sạch công nợ, có được một số vốn con con để đỡ lo một chút? Vả lại ở nhà quê, vợ, các con y, bố mẹ y chả ăn uống khổ sở hàng đời người rồi hay sao, còn có bao giờ được no xôi chán chè lấy hai bữa, lấy vài tháng còn có bao giờ họ biết mùi thịt cá luôn, hay cũng chỉ cơm hầm cá hiu thôi? Vậy thì y được như hiện nay cũng là đủ lắm rồi. Tại sao y lại muốn sung sướng một mình trong khi cả nhà còn đói khổ? Y nhớ đến một lần y ở Hà Nội về quê. Hồi ấy vợ chồng y mới ăn riêng... Bởi vậy lúc ăn cơm, khi thấy bà, bố mẹ và các em ngồi một mâm, y thấy ngường ngượng mà lại buồn buồn. Khó chịu như là ở mâm y lại có một đĩa cá kho, còn mâm kia chỉ toàn là rau. Y cau mặt khẽ trách Liên. Liên chưa kịp trả lời thì bà mẹ y nhận thấy, đã cười và đáp hộ Liên:
- Dào ôi! Nhà chẳng có đâu. Chúng tôi ở nhà thì đến cơm cũng chẳng có mà ăn, còn có tiền đâu mà sắm thức ăn? Mọi khi nó cũng chỉ có rau không. Đây là hôm nay, cụ Bá thấy nói con rể cụ về, sợ con rể cụ xưa nay chỉ ở tỉnh thành, chịu kham khổ không quen nên bảo vợ mày đem về cho mày một đĩa cá kho đấy chứ! Nó chẳng mua đâu mà mắng nó.
Y chép miệng:
- Hừ! Khéo vẽ!... Ăn thế nào mà chẳng được.
Rồi y bảo lấy một đĩa nữa, xé cả đĩa ra, bỏ sang mâm kia một nửa cho bà và các em ăn với. Nhưng mọi người nhao nhao phản đối. Bà mẹ gắt lên:
- Thôi! Để đấy mà ăn. Chúng nó thì đến ăn cơm với tương cũng còn nhẵn cả nồi đấy, lạ là phải thức ăn ngon! Có thức ăn ngon cho bọn chúng nó ăn thì đến mười nồi cơm cũng chẳng xuể.
- Thì mẹ cứ để cho chúng nó ăn, mẹ cũng xơi nhân thể.
Nhưng bà cụ đã vội và nốt bát cơm, buông đũa đứng lên.
- Thôi, tôi ăn xong rồi. Mỗi người có vài vực cơm, nhiều nhặn gì mà phải cá?
Thứ hơi phật ý. Y tưởng như bà và mẹ mỉa mai. Nhưng nghĩ cho kỹ, thì có lẽ các cụ chỉ nhường nhịn đó thôi. Các cụ sợ nếu các cụ nhận ăn một lần thì lần sau, có món ăn gì Thứ cũng lại chia cho. Nhà quá đông người. Nếu muốn mua thức ăn cho chồng mà vợ Thứ cứ phải mua cho đủ mọi người ăn thì y lấy đâu ra tiền mà mua như vậy? Huống chi đĩa cá kho lại là của ông bố vợ Thứ cho y. Ông cho y thì để y ăn, người khác ăn vào, mang tiếng... Y nhớ đến những bữa ăn hàng, y tiêu tốn đến hàng đồng và thấy lòng ân hận... Y chẳng còn biết gì ngon. Và nếu không trông thấy mặt Liên buồn buồn, hai mắt nhìn xuống như có ý tủi thân, thì có lẽ đã chẳng chạm đũa vào đĩa cá... Buổi chiều hôm ấy, y còn được dịp nghĩ ngợi nhiều hơn.
Vừa mới chập tối, bà y đã đi nằm. Bà mẹ, đang ngồi nói chuyện với y ở đầu hè, đột nhiên cũng đứng lên:
- Kìa! Nó đã dọn cơm kia kìa! Đi mà ăn cơm!
Bà chực lảng vào buồng, Thứ hỏi:
- Nhà chưa ăn kia à?
- Chưa, lát nữa mới ăn.
Bà mẹ y vừa nói vừa tủm tỉm cười. Mấy đứa em y ngồi gần đấy cũng tủm tỉm cười. Y chợt đoán ra.
- Ở nhà không ăn.
Bà mẹ đáp, sau một thoáng ngập ngừng:
- Không. Chúng nó ăn khỏe, ăn dồn cả vào một bữa cho đỡ lách ca lách cách. Đằng nào cũng chỉ có bằng ấy gạo; chia ra hai bữa thì cũng thế.
Thứ thấy lòng sầm tối lại. Vợ y đặt trước y một cái mâm con, trên lỏng chỏng có một bát cơm lồng, một đôi đũa, một cái bát con và đĩa cá kho trưa còn thừa lại. Cơm là cơm nguội. Mọi ngày Liên cũng chỉ ăn một bữa thôi. Nhưng biết chồng từ bé đến nay, chưa phải ăn một ngày một bữa bao giờ, bữa trưa y đã lấy thừa ra một suất cơm. Lúc xới cơm, y đã xới ba lượt đầy, lồng lại, cất đi. Đó là bữa tối cho Thứ... Thứ thấy vô lý quả. Trong hai vợ chồng nếu có người nào cần phải ăn hơn thì người đó phải là Liên: Liên đã phải luật quật suốt ngày, lại phải lo đủ sữa để nuôi con. Vả lại, ngoài Liên ra, lại còn bà Thử, già ngoài bảy mươi tuổi rồi mà vẫn đang còn nằm nhịn đói kia. Lại còn mẹ y, cũng luật quật suốt ngày và cũng có con thơ. Lại còn cha y, bữa trưa ăn ba lượt cơm như mọi người thì mới đầy được một góc dạ dày. Lại còn các em y, chưa đáng phải chịu những cay cực của đời và tạng phủ đang cần được tẩm bổ nhiều để đủ sức lớn lên; chúng gầy guộc, ngơ ngác, nhút nhát, buồn rầu, có lẽ chỉ vì phải nhịn đói, phải vất vả, phải mắng chửi suốt ngày, ngay từ cái lúc mà đáng lẽ chúng phải được ăn no rồi chạy nhẩy nhởn nhơ, mặt trong trẻo và lòng vô tư lự. Thứ đang độ trẻ trung. Y không phải lao lực như bất cứ ai trong nhà. Y lại cũng được no mãi rồi, bây giờ có đói một vài bữa cũng không sao, mà có lẽ cũng là sự công bình. Ấy thế mà tại sao y lại cứ cần phải ăn, phải no một mình như vậy? Thứ suy rộng ra và chua chát nhận ra rằng cái sự buồn cười ấy lại là một sự rất thường, chẳng riêng gì trong một nhà y, mà có lẽ chung cho khắp mọi nơi. Bao giờ và ở đâu đâu thì cũng thế thôi. Thằng nào đã chịu khổ quen r
Câu 1 (2 điểm)
Trong bài thơ Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa, hình tượng mưa được Lưu Quang Vũ sử dụng như một ẩn dụ giàu ý nghĩa, xuyên suốt toàn bộ mạch cảm xúc của tác phẩm. Mưa trước hết là biểu hiện của những biến động, bất trắc của cuộc đời và sự đổi thay khó lường của thời gian. Những cơn mưa có thể “xoá nhoà lời hứa”, “cướp đi ánh sáng của ngày”, khiến hạnh phúc trở nên mong manh, dễ tan vỡ. Qua đó, mưa còn tượng trưng cho nỗi lo âu, bất an trong lòng nhân vật trữ tình trước nguy cơ phai nhạt của tình yêu và kỷ niệm. Không chỉ vậy, mưa còn là dấu hiệu của sự thức tỉnh cảm xúc, buộc con người phải đối diện với sự thật rằng hạnh phúc không bền vững nếu không được gìn giữ. Điệp ngữ “anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa” vang lên nhiều lần như một lời tự nhắc nhở, vừa lo sợ mất mát, vừa tha thiết trân trọng hiện tại. Nhờ hình tượng mưa, bài thơ thể hiện sâu sắc quan niệm nhân văn của Lưu Quang Vũ: hãy yêu thương chân thành và sống tỉnh táo trước những đổi thay của cuộc đời.
Câu 2 (4 điểm)
Trong cuộc sống hiện đại đầy biến động, con người rất dễ rơi vào trạng thái sống vội, sống theo quán tính mà quên đi việc lắng nghe chính mình. Bởi thế, lời nhắn nhủ của Howard Thurman: “Hãy tự hỏi xem điều gì sẽ khiến bạn tỉnh thức, và thực hiện điều đó. Bởi cái thế giới cần là những con người đã thức tỉnh” mang ý nghĩa sâu sắc và có giá trị lâu dài đối với mỗi cá nhân.
“Thức tỉnh” trước hết là trạng thái nhận thức rõ ràng về bản thân và cuộc sống. Đó là khi con người hiểu mình là ai, mình đang sống vì điều gì và đâu là những giá trị thật sự quan trọng. Một con người tỉnh thức không sống mù quáng theo đám đông, không bị cuốn theo những ham muốn vật chất tầm thường mà biết lựa chọn con đường phù hợp với lương tâm và trách nhiệm của mình.
Có nhiều điều trong cuộc sống có thể khiến con người tỉnh thức. Đó có thể là những biến cố, mất mát, khi ta đối diện với đau khổ, thất bại hay sự mong manh của kiếp người. Chính những lúc ấy, con người mới nhận ra giá trị của yêu thương, của gia đình, của thời gian và sự sống. Bên cạnh đó, tình yêu thương chân thành cũng là một nguồn lực mạnh mẽ đánh thức tâm hồn con người. Một ánh nhìn thấu hiểu, một bàn tay sẻ chia có thể giúp con người vượt qua ích kỷ, sống nhân ái và có trách nhiệm hơn. Ngoài ra, tri thức, nghệ thuật và trải nghiệm sống cũng góp phần làm con người tỉnh thức. Những cuốn sách hay, những tác phẩm nghệ thuật sâu sắc hay những chuyến đi trải nghiệm có thể mở rộng tầm nhìn, giúp con người nhìn cuộc sống đa chiều và sâu sắc hơn.
Thế giới hôm nay rất cần những con người đã tỉnh thức, bởi chỉ khi tỉnh thức, con người mới biết sống chậm lại, sống tử tế và sống có ý nghĩa. Một xã hội với nhiều con người tỉnh thức sẽ là một xã hội nhân văn, biết tôn trọng con người, bảo vệ môi trường và hướng tới sự phát triển bền vững. Ngược lại, sự mê ngủ trong nhận thức sẽ dẫn đến vô cảm, ích kỷ và những hệ lụy nghiêm trọng cho cộng đồng.
Đối với mỗi người trẻ, tỉnh thức không phải là điều gì quá xa vời. Đó bắt đầu từ việc biết lắng nghe bản thân, dám đối diện với sai lầm, biết trân trọng những gì đang có và không ngừng hoàn thiện mình mỗi ngày. Khi mỗi cá nhân biết thức tỉnh, họ không chỉ cứu rỗi chính mình mà còn góp phần làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Và đó cũng chính là điều mà cuộc sống này đang cần nhất
Câu 1
Thể thơ của bài thơ trên là: thơ tự do.
(Các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, không gò bó về số chữ, vần điệu linh hoạt.)
Câu 2
Bài thơ thể hiện nỗi lo âu, bất an, sợ hãi xen lẫn yêu thương sâu sắc của nhân vật trữ tình trước sự mong manh của hạnh phúc và những đổi thay khó lường của tương lai.
→ Đó là tâm trạng lo sợ mất mát, sợ sự phai nhạt của tình yêu, đồng thời cũng là nỗi day dứt, trân trọng những kỷ niệm đẹp đã qua.
Câu 3
Trong đoạn thơ, tác giả sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ (kết hợp với nhân hoá).
- Hình ảnh “mưa” không chỉ là hiện tượng thiên nhiên mà còn là ẩn dụ cho những biến cố, đổi thay, bất trắc của cuộc đời.
- Câu thơ “Mưa cướp đi ánh sáng của ngày” sử dụng nhân hoá, khiến “mưa” mang dáng dấp của một thế lực có thể tước đoạt niềm vui, hy vọng của con người.
- Các hình ảnh “đường chập choạng”, “dở dang giấc ngủ”, “hạnh phúc… mong manh” gợi cảm giác bất an, chông chênh, dễ tan vỡ.
👉 Biện pháp tu từ này giúp diễn tả sâu sắc tâm trạng lo âu của nhân vật trữ tình và nhấn mạnh sự mong manh của hạnh phúc con người trước những biến động khó lường.
Câu 4
Khi đối diện với một tương lai tràn ngập những điều chưa biết, con người cần:
- Giữ vững niềm tin và bản lĩnh, không hoang mang, buông xuôi.
- Trân trọng hiện tại, yêu thương và gìn giữ những giá trị tốt đẹp đang có.
- Chuẩn bị tâm thế chủ động, sẵn sàng thích nghi trước những đổi thay.
- Sống chân thành, có trách nhiệm với bản thân và người khác để hạn chế những nuối tiếc về sau.
👉 Chỉ khi bình tĩnh và vững vàng, con người mới có thể bước qua những “cơn mưa” của cuộc đời và bảo vệ hạnh phúc của chính mình.
Câu 1 (2 điểm)
Trong cuộc sống của mỗi con người, những giấc mơ mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Giấc mơ không chỉ là những khát vọng đẹp đẽ hướng tới tương lai mà còn là động lực tinh thần giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách. Khi có giấc mơ, con người biết mình sống vì điều gì, biết cố gắng, nỗ lực để hoàn thiện bản thân và vươn tới những giá trị tốt đẹp hơn. Giấc mơ còn nuôi dưỡng tâm hồn, làm cho con người trở nên nhân ái, biết yêu thương và sẻ chia. Một cuộc sống chỉ đầy đủ về vật chất nhưng thiếu đi những giấc mơ sẽ trở nên trống rỗng và vô nghĩa. Tuy nhiên, giấc mơ không phải là những ảo tưởng viển vông, mà cần được gắn liền với hành động cụ thể và ý chí bền bỉ. Chỉ khi con người dám mơ và dám biến giấc mơ thành hiện thực, cuộc sống mới thực sự có ý nghĩa. Vì vậy, mỗi chúng ta cần trân trọng, giữ gìn và nuôi dưỡng những giấc mơ đẹp trong suốt hành trình sống của mình.
Câu 2 (4 điểm)
Nguyễn Bính là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ mới, được mệnh danh là “nhà thơ của làng quê Việt Nam”. Thơ ông mang đậm màu sắc dân gian, giản dị, mộc mạc nhưng giàu cảm xúc. Tương tư là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Nguyễn Bính, thể hiện tinh tế nỗi nhớ thầm kín, da diết của một chàng trai quê đang yêu.
Mở đầu bài thơ, tác giả đã gợi ra nỗi nhớ tương tư bằng hình ảnh không gian làng quê quen thuộc:
“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.”
Hai thôn làng được nhân hóa như hai con người đang nhớ nhau, qua đó thể hiện nỗi nhớ sâu nặng của nhân vật trữ tình. Cách nói “chín nhớ mười mong” mang đậm chất dân gian, diễn tả mức độ da diết, thường trực của nỗi tương tư.
Nỗi nhớ ấy được Nguyễn Bính ví như một “căn bệnh”:
“Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.”
So sánh hóm hỉnh nhưng đầy chân thật đã khẳng định: tương tư là cảm xúc tự nhiên, không thể tránh khỏi của người đang yêu. Nỗi nhớ ấy vừa ngọt ngào vừa day dứt, khiến người trong cuộc không lúc nào nguôi ngoai.
Điều đặc biệt trong bài thơ là khoảng cách không gian giữa hai người thực chất rất gần:
“Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?”
Chỉ chung một làng, chỉ “cách một đầu đình”, vậy mà vẫn xa cách. Khoảng cách ấy không phải do địa lý mà do những rào cản vô hình của lễ giáo, của sự e dè, kín đáo trong tình yêu thôn quê xưa. Chính cái “gần mà xa” ấy khiến nỗi tương tư càng trở nên dai dẳng, kéo dài theo thời gian:
“Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.”
Thời gian trôi chậm chạp, nỗi nhớ âm thầm làm tâm hồn con người héo hon như lá úa.
Tâm trạng tương tư đạt đến cao trào trong những câu hỏi đầy khắc khoải:
“Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?”
Hình ảnh bến – đò, hoa – bướm mang ý nghĩa biểu tượng, thể hiện khát vọng được gặp gỡ, được gắn bó trong tình yêu. Đó là mong ước chính đáng nhưng vẫn chỉ dừng lại ở niềm hy vọng xa xôi.
Kết thúc bài thơ, Nguyễn Bính trở lại với những hình ảnh quen thuộc của làng quê: giàn trầu, hàng cau. Qua câu hỏi tu từ:
“Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”
tác giả khẳng định nỗi nhớ tương tư là có thật, chân thành và chung thủy. Tương tư vì thế không chỉ là bài thơ tình buồn mà còn là bức tranh tâm hồn mộc mạc, chân quê, giàu chất dân gian của con người Việt Nam.
Câu 1
Phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích là: nghị luận.
(Bên cạnh đó, văn bản còn kết hợp các phương thức khác như: biểu cảm, tự sự, nhưng nghị luận là phương thức chủ đạo.)
Câu 2
- Thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn (5):
Chứng minh (kết hợp với phân tích). - Tác dụng:
Tác giả đưa ra sự kiện thực tế về cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2008 và nhân vật Barack Obama để làm sáng tỏ, củng cố luận điểm:
→ Giấc mơ có sức mạnh to lớn, có thể lay động tâm hồn con người, khơi dậy niềm tin, hy vọng và tạo nên những thay đổi tích cực cho xã hội.
Qua đó, lập luận trở nên thuyết phục, cụ thể và giàu sức gợi.
Câu 3
Tác giả cho rằng “Chúng ta thực sự là những kẻ nghèo đói” vì:
- Con người đã đánh mất những giấc mơ đẹp, những khát vọng nhân văn.
- Chỉ chú trọng đến vật chất, lợi ích trước mắt mà bỏ quên đời sống tinh thần.
- Tâm hồn trở nên trống rỗng, không còn hạt giống của niềm tin, hy vọng, lòng nhân ái.
Đây là sự nghèo đói về tinh thần, nghiêm trọng hơn nhiều so với nghèo đói vật chất.
Câu 4
Từ đoạn (11), những cách khả thi để chữa chạy “những cơn đau ốm tâm hồn” có thể là:
- Khơi gợi và nuôi dưỡng những giấc mơ đẹp cho con người, đặc biệt là trẻ em.
- Quan tâm nhiều hơn đến đời sống tinh thần, không chỉ chăm lo sức khỏe thể chất.
- Đưa vào gia đình, nhà trường và xã hội:
- Những câu chuyện cổ tích, nghệ thuật, văn học.
- Những bài học về lòng nhân ái, niềm tin, hy vọng.
- Có những “người gieo hạt giống của giấc mơ”: cha mẹ, thầy cô, những người truyền cảm hứng sống.
👉 Khi tâm hồn được nuôi dưỡng, con người sẽ tránh được sự u uất, hoảng loạn và lạc lối.
câu 1:
Nhân vật Thứ trong đoạn trích thể hiện rõ bi kịch của một trí thức tiểu tư sản trong xã hội thực dân nửa phong kiến: có hoài bão lớn nhưng lại sống trong thực tại bế tắc và nghèo đói. Thứ từng nuôi mộng làm vĩ nhân, mong muốn cống hiến cho đất nước, nhưng rồi hiện thực cay nghiệt đã đè nát những ước mơ ấy, biến anh thành một con người nhu nhược, tự ti, bất lực và cam chịu. Anh ý thức được sự “sống mòn” của mình, thấy uất ức, thậm chí muốn vùng lên, muốn “đi liều”, nhưng cuối cùng vẫn bị cuốn theo dòng đời như một kẻ thụ động, phó mặc số phận. Hình ảnh con trâu kéo cày, sống quen trong khuôn khổ, sợ hãi đổi thay, chính là biểu tượng của cuộc đời Thứ và bao người như anh. Thứ đau khổ vì “chết mà chưa từng sống” – một nỗi đau thấm đẫm tinh thần nhân đạo và giá trị hiện thực. Qua nhân vật Thứ, Nam Cao không chỉ lên án xã hội đã bóp nghẹt lý tưởng của con người mà còn thể hiện sự trăn trở về vai trò, trách nhiệm và bản lĩnh của người trí thức trước thời cuộc.
Câu 2:
Gabriel Garcia Marquez từng nói: “Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ”. Câu nói ấy không chỉ khẳng định vai trò của ước mơ trong đời sống con người, mà còn đặc biệt nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa tuổi trẻ và khát vọng sống. Tuổi trẻ gắn liền với những hoài bão và đam mê. Khi còn mơ ước, còn hành động vì mơ ước, con người còn trẻ trung – dù ở bất cứ độ tuổi nào.
Tuổi trẻ là giai đoạn đẹp đẽ nhất của đời người. Ở đó, con người giàu nhiệt huyết, dám nghĩ, dám làm và sẵn sàng đương đầu với thử thách để khẳng định bản thân. Ước mơ chính là ánh sáng soi đường cho tuổi trẻ đi qua những tháng năm gian khổ, thử thách. Có ước mơ, tuổi trẻ sống có mục đích và biết vươn lên để hoàn thiện mình. Nhờ ước mơ, con người vượt qua được cảm giác mỏi mệt, nhàm chán của đời sống thường nhật để sống sâu sắc hơn, đầy khát vọng hơn. Ngược lại, một tuổi trẻ không có ước mơ là một tuổi trẻ lãng phí – dễ sống buông xuôi, tầm thường và sớm “già cỗi” trong tâm hồn, như lời Marquez đã cảnh báo.
Tuy nhiên, ước mơ không chỉ là thứ để mộng mơ mà còn cần đi liền với hành động. Tuổi trẻ có thể mơ ước cao xa, nhưng nếu không biết nuôi dưỡng, hiện thực hóa bằng nỗ lực cụ thể thì ước mơ dễ trở thành ảo tưởng. Ước mơ không phải lúc nào cũng dễ đạt được. Đôi khi, con người sẽ vấp ngã, bị thử thách, thậm chí là thất bại. Nhưng chính sự kiên định theo đuổi ước mơ mới là điều giữ cho tâm hồn con người trẻ mãi. Những người dám theo đuổi đến
Câu 1. Xác định điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản.
=> Điểm nhìn của người kể chuyện là điểm nhìn thứ ba (ngôi thứ ba), nhưng người kể chuyện đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật Thứ, từ đó cho thấy đây là điểm nhìn trần thuật kết hợp với điểm nhìn của nhân vật.
⸻
Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là gì?
=> Khi còn đi học, Thứ từng ước mơ đỗ Thành chung, tú tài, vào đại học, sang Pháp học tập, trở thành một vĩ nhân, đem lại những thay đổi lớn lao cho đất nước.
⸻
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích:
“Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!…”
=> Biện pháp tu từ được sử dụng nổi bật là điệp ngữ (lặp từ “sẽ”, “khinh y”, “chết”), kết hợp liệt kê các hình ảnh gắn với sự mục ruỗng như “mốc lên, gỉ đi, mòn, mục”.
Tác dụng: Những biện pháp tu từ này nhấn mạnh cảm giác bi kịch, tuyệt vọng của Thứ khi phải đối diện với sự bất lực và vô nghĩa trong cuộc đời. Chúng khắc họa sâu sắc thân phận con người bị đời sống tù túng, nghèo khổ nghiền nát, đồng thời cho thấy nỗi đau về sự tha hóa và tàn lụi trong tâm hồn trí thức.
⸻
Câu 4. Nhận xét về cuộc sống và con người của nhân vật Thứ được thể hiện trong đoạn trích.
=> Nhân vật Thứ hiện lên là một trí thức tiểu tư sản có lý tưởng, khát vọng sống cao đẹp nhưng bị hiện thực nghèo đói, khắc nghiệt và hoàn cảnh xã hội bất công làm cho tha hóa, trở nên yếu đuối, bất lực, sống kiếp “sống mòn”. Thứ vừa tỉnh táo nhận ra bi kịch cuộc đời mình, vừa bất lực, nhu nhược, không thể cưỡng lại số phận. Đó là bi kịch của một con người muốn sống có ích nhưng bị vùi dập trong guồng quay của sự trì trệ và bế tắc.
⸻
Câu 5. Nêu suy nghĩ của anh/chị về một triết lí nhân sinh được rút ra từ văn bản.
=> Văn bản gợi ra triết lí nhân sinh sâu sắc: Sống là phải không ngừng thay đổi, dám dấn thân và vượt lên hoàn cảnh để tìm đến giá trị đích thực của cuộc đời. Sự sợ hãi, quen thuộc và cam chịu sẽ giam cầm con người trong cuộc sống tầm thường và vô nghĩa. Muốn sống đúng nghĩa là con người, phải có khát vọng vươn lên, đấu tranh để được “sống” chứ không chỉ “tồn tại”.