NGUYỄN NGỌC DIỆP-A
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính Phương thức biểu đạt chính của văn bản là Nghị luận (kết hợp với yếu tố biểu cảm sâu sắc và ngôn ngữ giàu hình ảnh). Câu 2: Nội dung chính của văn bản Văn bản thức tỉnh con người về sự vô tâm, thô tháp của bản thân trước vẻ đẹp và sự mong manh của thế giới xung quanh (từ thiên nhiên đến tình cảm con người). Tác giả nhấn mạnh rằng chúng ta thường vô tình gây ra tổn thương mà không hay biết, từ đó kêu gọi sự thấu cảm, lòng trân trọng và lối sống tỉnh thức để tránh làm đau những điều quý giá. Câu 3: Biện pháp tu từ và phân tích Trong đoạn (7), biện pháp tu từ nổi bật nhất là Điệp cấu trúc kết hợp với Nhân hóa. Biểu hiện: Cấu trúc "Những... quen/vốn không..." được lặp lại liên tục (Mặt đất quen tha thứ, Đại dương quen độ lượng, Cánh rừng quen trầm mặc, Thảm rêu không biết dỗi hờn, Giấc mơ một mực bao dung...). Tác dụng: Về nội dung: Nhấn mạnh sự nhẫn nại, bao dung và đức hy sinh vô hạn của thiên nhiên và những điều tốt đẹp xung quanh con người. Thiên nhiên luôn im lặng đón nhận những tổn thương mà không hề oán trách hay trả đũa. Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu dàn trải, trầm lắng, gợi lên sự đối lập gay gắt giữa sự bao dung của thế giới và sự vô tâm của con người, từ đó tác động mạnh mẽ đến cảm xúc và nhận thức của người đọc. Câu 4: Ý nghĩa câu nói "Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm" Tác giả nói "Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm" vì: Cái "gai đâm" ở đây là biểu tượng cho những vấp ngáp, nỗi đau hoặc những biến cố mà ta phải gánh chịu. Khi bị đau, con người mới thoát khỏi trạng thái "yên chí" (vô tâm, hời hợt) để giật mình tỉnh ngộ. Nỗi đau cá nhân giúp ta hiểu được cảm giác của người khác và của thế giới khi bị ta tổn thương. Đó là sự thức tỉnh cần thiết để con người học cách sống chậm lại, biết nâng niu và trân trọng sự sống hơn. Câu 5: Bài học ý nghĩa nhất Bài học ý nghĩa nhất rút ra là: Lối sống tỉnh thức và lòng trân trọng đối với vạn vật. Nội dung: Mỗi hành động, lời nói hay sự vô tâm của chúng ta đều có thể gây ra những vết sẹo cho người khác hoặc môi trường sống. Chúng ta cần rèn luyện khả năng thấu cảm, biết tự soi xét bản thân để sống một cuộc đời tinh tế hơn, bớt thô tháp hơn, nhằm bảo vệ những giá trị mong manh nhưng tuyệt đẹp của cuộc sống này.
Câu 1 (khoảng 200 chữ)
Bài thơ “Ca sợi chỉ” của Hồ Chí Minh là một tác phẩm ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa, thể hiện sâu sắc tư tưởng về sức mạnh của sự đoàn kết. Hình ảnh “sợi chỉ” nhỏ bé, mỏng manh được tác giả sử dụng như một biểu tượng nghệ thuật đặc sắc. Một sợi chỉ riêng lẻ dễ bị đứt, nhưng khi nhiều sợi kết lại thành dây, thành thừng thì trở nên bền chắc, khó phá vỡ. Qua đó, nhà thơ gửi gắm một chân lý giản dị mà sâu sắc: cá nhân dù mạnh mẽ đến đâu cũng có giới hạn, nhưng khi con người biết liên kết, gắn bó thì sẽ tạo nên sức mạnh to lớn.
Bài thơ không chỉ có giá trị về nội dung mà còn hấp dẫn ở nghệ thuật biểu đạt. Ngôn ngữ giản dị, gần gũi, giàu tính dân gian giúp tư tưởng lớn trở nên dễ hiểu, dễ nhớ. Giọng điệu nhẹ nhàng mà thấm thía, mang tính giáo dục cao. Với hình ảnh giàu tính biểu tượng và cách diễn đạt cô đọng, “Ca sợi chỉ” không chỉ là một bài thơ mà còn là một lời nhắc nhở về tinh thần đoàn kết – yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh của mỗi cá nhân và cả cộng đồng.
Câu 2 (khoảng 600 chữ)
Trong cuộc sống, con người không thể tồn tại một cách tách biệt mà luôn gắn bó với cộng đồng. Chính vì vậy, sự đoàn kết trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành công của mỗi cá nhân và cả xã hội.
Trước hết, đoàn kết là sự gắn bó, hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa con người vì mục tiêu chung. Khi con người biết đặt lợi ích tập thể lên trên cái tôi cá nhân, họ sẽ tạo nên một sức mạnh to lớn mà không một cá nhân riêng lẻ nào có thể đạt được. Thực tế đã chứng minh, trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nhờ tinh thần đoàn kết mà nhân dân ta đã vượt qua biết bao khó khăn, thử thách để giành được độc lập, tự do.
Không chỉ trong phạm vi quốc gia, đoàn kết còn có ý nghĩa quan trọng trong đời sống hàng ngày. Trong học tập, khi học sinh biết hợp tác, giúp đỡ nhau, việc tiếp thu kiến thức sẽ trở nên hiệu quả hơn. Trong công việc, tinh thần làm việc nhóm giúp nâng cao năng suất và tạo ra những kết quả tốt hơn. Đoàn kết cũng giúp con người vượt qua những lúc khó khăn, bởi khi đó mỗi người đều nhận được sự chia sẻ, động viên từ người khác.
Bên cạnh đó, đoàn kết còn góp phần xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái. Khi con người biết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, các mối quan hệ sẽ trở nên tốt đẹp hơn, hạn chế mâu thuẫn và xung đột. Một tập thể đoàn kết không chỉ mạnh về sức lực mà còn giàu về tinh thần, tạo nên nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững.
Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn không ít người sống ích kỷ, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân mà thiếu tinh thần hợp tác. Điều này không chỉ làm suy yếu tập thể mà còn khiến chính bản thân họ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, mỗi người cần nhận thức rõ vai trò của đoàn kết và chủ động rèn luyện tinh thần này trong cuộc sống.
Tóm lại, đoàn kết là chìa khóa dẫn đến thành công và hạnh phúc. Mỗi cá nhân cần biết gắn kết với tập thể, sống vì lợi ích chung để tạo nên một cộng đồng vững mạnh. Khi mọi người cùng chung tay, không có khó khăn nào là không thể vượt qua.
Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Biểu cảm.
Câu 2 (0.5 điểm):
Nhân vật “tôi” trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ: Cái bông.
Câu 3 (1.0 điểm):
*Biện pháp tu từ có trong đoạn thơ là nhân hóa, sợi chỉ cũng có ý thức, có bạn bè:
Nhờ tôi có nhiều đồng bang,
Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.
- Tác dụng:
+ Làm câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.
+ Thể hiện rằng khi hợp lại, những sợi chỉ có thể có sức mạnh phi thường.
=> Tình đoàn kết.
*Biện pháp tu từ có trong đoạn thơ là so sánh:
Dệt nên tấm vải mỹ miều,
Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.
- Tác dụng:
+ Làm câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.
+ Nhấn mạnh vẻ đẹp và sự vững bền của tình đoàn kết.
Câu 4 (1.0 điểm):
- Đặc tính của sợi chỉ: Mỏng manh nhưng dẻo dai, có thể hợp lại với các sợi chỉ khác để tạo nên cái đẹp và sự bền vững.
- Sức mạnh chủ yếu của sợi chỉ nằm ở việc có thể kết hợp với các sợi chỉ khác để tạo nên một mảnh vải đẹp, đó là sức mạnh của sự đoàn kết.
Câu 5 (1.0 điểm):
- Bài học: Sức mạnh của tình đoàn kết tạo ra những thắng lợi vẻ vang.
- Ý nghĩa: Phải biết yêu đồng bào, yêu dân tộc, biết nhường nhịn và cùng nỗ lực để đạt đến thành công.
Câu 1
Nhân vật phu nhân trong Truyện người liệt nữ ở An Ấp là hình tượng tiêu biểu cho vẻ đẹp phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam xưa. Xuất thân là con nhà quan, phu nhân mang trong mình sự nền nã, đoan trang với “nghi dung thanh nhã, cử chỉ đoan trang”, đồng thời là người phụ nữ tài hoa, khéo léo trong thêu thùa khâu vá và giỏi văn thơ. Không chỉ đẹp người, phu nhân còn đẹp nết khi luôn giữ gìn lễ độ, khuôn phép, biết cư xử đúng mực trong gia đình, nhờ đó được phu quân hết mực yêu kính. Đặc biệt, bà còn là người vợ hiền, biết khuyên chồng chăm lo việc nước, góp phần giúp Đinh Hoàn trở thành vị quan cần mẫn, được triều đình tín nhiệm. Khi chồng mất nơi đất khách, phu nhân rơi vào nỗi đau tột cùng, không còn thiết tha với cuộc sống, nguyện hi sinh để giữ trọn đạo phu thê. Hành động quyên sinh của bà, dù mang màu sắc bi kịch, vẫn thể hiện tình yêu chung thủy, sâu nặng và khát vọng đoàn tụ với chồng. Qua nhân vật phu nhân, tác giả đã bày tỏ sự ngợi ca đối với phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến.
Câu 2
Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, trí thức luôn giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển và hưng thịnh của đất nước. Qua hình tượng Đinh Hoàn – một kẻ sĩ tận tụy với việc nước trong Truyện người liệt nữ ở An Ấp, vấn đề trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước càng trở nên đáng suy ngẫm.
Người trí thức là những người có trình độ học vấn cao, được đào tạo bài bản, nắm giữ tri thức chuyên môn trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, y tế, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật,… Họ không chỉ là người tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại mà còn có khả năng sáng tạo, dẫn dắt và lan tỏa các giá trị tiến bộ cho xã hội. Chính vì vậy, trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước là vô cùng to lớn.
Trước hết, người trí thức có trách nhiệm cống hiến trí tuệ và năng lực của mình cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Đinh Hoàn trong văn bản là một tấm gương tiêu biểu khi dốc lòng lo việc bang giao, không phụ sự tín nhiệm của triều đình, thậm chí đến lúc qua đời vẫn còn băn khoăn vì việc nước chưa trọn vẹn. Ngày nay, trong bối cảnh đất nước đang hội nhập và phát triển, người trí thức càng cần đem tri thức của mình phục vụ cộng đồng: nghiên cứu khoa học để nâng cao đời sống nhân dân, sáng tạo công nghệ mới để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, bắt kịp với sự phát triển của thế giới.
Bên cạnh đó, người trí thức còn có trách nhiệm định hướng các hệ giá trị xã hội, góp phần xây dựng một xã hội văn minh, nhân văn và tiến bộ. Với vốn hiểu biết sâu rộng, họ cần biết phân biệt đúng – sai, tốt – xấu, dám lên tiếng trước những bất công, tiêu cực; đồng thời có ý thức giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế. Khi tri thức gắn liền với đạo đức và trách nhiệm xã hội, nó mới thực sự trở thành động lực phát triển bền vững cho đất nước.
Thực tế cho thấy, hiện nay có rất nhiều trí thức Việt Nam đang âm thầm cống hiến cho Tổ quốc: những y bác sĩ ngày đêm cứu chữa bệnh nhân, các nhà khoa học miệt mài nghiên cứu, những nhà giáo tận tụy đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận trí thức sống thụ động, đề cao lợi ích cá nhân, né tránh trách nhiệm xã hội, thậm chí lợi dụng tri thức để trục lợi, tiếp tay cho cái xấu. Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ lối sống thực dụng, tâm lý ngại dấn thân, năng lực thực tế hạn chế hoặc chế độ đãi ngộ chưa tương xứng.
Để người trí thức có thể phát huy tốt vai trò của mình, cần có sự chung tay từ nhiều phía. Nhà nước cần xây dựng chính sách đãi ngộ hợp lý, tạo môi trường làm việc minh bạch, công bằng để thu hút và giữ chân nhân tài. Bản thân người trí thức cũng phải không ngừng rèn luyện đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn, nuôi dưỡng tinh thần trách nhiệm và ý thức cống hiến cho dân tộc.
Tóm lại, người trí thức chỉ thực sự có ý nghĩa khi tri thức của họ gắn liền với vận mệnh đất nước. Noi gương những kẻ sĩ như Đinh Hoàn, trí thức hôm nay cần sống có trách nhiệm, dấn thân và cống hiến để góp phần xây dựng một đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh.
Câu 1.
Thể loại: Truyện truyền kì.
Câu 2.
Đề tài: Người phụ nữ.
Câu 3.
− Yếu tố kì ảo:
+ Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng.
+ Người dân cầu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng.
− Tác dụng:
+ Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện.
+ Thể hiện sự tôn vinh, lý tưởng hoá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hoá mà nhân dân dành cho bà.
Câu 4.
− Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản; đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú, giàu cảm xúc.
− Em ấn tượng nhất với điển tích "chặt vai" vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng dám chặt tay để bảo vệ trinh tiết của mình. Song, đối với phu nhân của Định Hoàn, dù "chặt vai" hay "khoét mắt" thì thân xác, sự sống vẫn còn, chứ không thể đi theo người phu quân mà mình yêu thương sâu sắc. Do đó, điển tích này càng giúp em nhận thấy rõ nét hơn tình yêu chân thành, mãnh liệt mà phu nhân dành cho Đinh Hoàn.
Câu 5.
− Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: Cõi trần và cõi tiên/ cõi mộng. Cụ thể:
+ Không gian cõi trần: Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thu có gió vàng, tiếng ve; trời đất chỉ có sương mù, trăng mờ.
+ Không gian cõi tiên/ cõi mộng: Thiên Đình, nơi thiên tào nhiều công việc; không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân.
− Tác dụng của việc xây dựng không gian: Sự kết hợp giữa các cõi có tác dụng:
+ Góp phần làm tăng thêm sự kì ảo, huyền bí cho không gian nghệ thuật, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.
+ Khắc hoạ sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện: Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/ cõi tiên, không gian ấy tô đậm hơn tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó, thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hoá cho hành động quyên sinh của phu nhân sau này − rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động, cố gắng để được tái hợp với phu quân, khẳng định sự thuỷ chung, trinh liệt của người phụ nữ.
Câu 1. (2 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của hình tượng đất nước trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến sau: Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.
Hướng dẫn giải:
Câu 1: (2.0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0.25 điểm):
- Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
- Về kiểu đoạn văn, HS có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.25 điểm):
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích ý nghĩa của hình tượng đất nước trong văn bản Đất nước của Bằng Việt.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0.5 điểm):
- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Đất nước trong đau thương: Đất nước phải hứng chịu đạn bom với nhiều khó khăn, gian khổ.
+ Vẻ đẹp của đất nước thể hiện qua những con người cần cù, chịu thương chịu khó, đồng thời mang tinh thần quyết chiến chống lại kẻ thù.
+ Đất nước được nối dài bởi các thế hệ.
+ Những người con của đất nước luôn tràn đầy niềm tin và hi vọng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.
+ Hình tượng đất nước được làm rõ bởi những nét đặc sắc về nghệ thuật: Ngôn từ bình dị, mộc mạc; hình ảnh thơ gần gũi; các câu cảm thán + các biện pháp tu từ.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0.5 điểm):
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt (0.25 điểm):
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo (0.25 điểm):
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2 (4 điểm):
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0.25 điểm):
- Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.5 điểm):
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Lòng biết ơn đối với những người anh hùng đã hi sinh vì đất nước.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1.5 điểm):
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Triển khai vấn đề nghị luận:
- Giải thích được “bài giảng lịch sử” và “người làm nên lịch sử”.
- Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:
+ Lòng yêu nước bắt nguồn từ những điều bình dị, trong đó có cả việc nhớ đến công ơn của những người đã mang lại hòa bình.
+ Chính những người thật, việc thật và những câu chuyện về biết bao xương máu đã hi sinh để đổi lấy độc lập cho dân tộc là nền tảng của tình yêu nước. Con người chỉ yêu khi biết xúc động từ tận đáy lòng.
+ Cần ghi nhớ công lao của những người anh hùng.
+ Bên cạnh đó, cũng cần đổi mới trong cách dạy học lịch sử, để những thế hệ tương lai thực sự hiểu được ý nghĩa của độc lập và tự do.
- Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện.
* Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.
Câu 1: (0.5 điểm):
- Số chữ trong các dòng không bằng nhau là dấu hiệu để xác định thể thơ tự do trong đoạn trích.
Câu 2: (0.5 điểm):
- Bài thơ trên thể hiện tình yêu nước dâng trào mãnh liệt của nhân vật trữ tình khi thấy đất nước mạnh mẽ chiến đấu chống giặc ngoại xâm.
Câu 3 (1.0 điểm):
- Các biện pháp tu từ được sử dụng:
+ Điệp từ: “Mỗi”, “Đều”.
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh rằng tất cả những người con đất Việt đều đã được sinh ra và lớn lên một cách kiên cường dưới thời chiến tranh bom đạn.
+ Tăng tính liên kết và tạo nhịp điệu cho đoạn thơ.
Câu 4 (1.0 điểm):
- “Vị ngọt” trong câu thơ cuối cùng của đoạn trích là vị ngọt của một đất nước thanh bình, hạnh phúc, không có chiến tranh.
- Vị ngọt đó có được từ nỗ lực sống và chiến đấu của tất cả người dân trên mọi miền Tổ quốc.
Câu 5 (1.0 điểm):
- Có thể trả lời theo nhiều cách, đảm bảo một trong các ý sau:
+ Lòng yêu nước là cội nguồn tinh thần của mỗi con người.
+ Lòng yêu nước là yếu tố quan trọng giúp cho đất nước phát triển vững mạnh.
+ Người có lòng yêu nước có những nhận thức và hành vi đúng đắn trong xã hội.
+ Lòng yêu nước giúp nâng cao tình bạn, đồng đội giữa con người, tạo tinh thần đồng bào mạnh mẽ.
Câu 1: (2 điểm):
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích diễn biến tâm lý nhân vật Chi-hon trong đoạn trích.
Câu 2: (4 điểm):
Viết bài văn ngắn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về tầm quan trọng của kí ức về những người thân yêu trong cuộc đời mỗi người.
Hướng dẫn giải:
II |
| VIẾT |
|
1 | Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích diễn biến tâm lý nhân vật Chi-hon trong đoạn trích. | 2.0 | |
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn - Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. - Về kiểu đoạn văn, HS có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. | 0.25 | ||
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích diễn biến tâm lý của nhân vật Chi-hon. | 0.25 | ||
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận - Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + Chi-hon cảm thấy day dứt trong lòng khi mẹ bị lạc. Cô đi đến chỗ ga tàu Seoul – nơi mẹ đã lạc mất để hình dung lại cảnh mẹ bị lạc. + Chi-hon nhớ lại những hồi ức về mẹ, và cảm thấy hối tiếc vì sự vô tâm của mình trong quá khứ. + Chi-hon suy ngẫm lại khoảnh khắc định mệnh khi mẹ bị lạc, còn cô đang bận du lịch ở Bắc Kinh. Cô nhận ra mình đã không đủ quan tâm tới mẹ. + Chi-hon hiểu rằng mẹ sẽ không được tìm thấy. => Người con gái, khi bị lạc mất mẹ của mình, không thể thoát khỏi cảm xúc đau đớn, khổ sở, day dứt và hối hận. Có thể thấy, cô cũng là một cô gái hiếu thảo, nhưng vẫn có những khoảnh khắc cô đã vô tâm với mẹ của mình. Chính những điều đó đã là động lực cho hành trình tìm mẹ của cô, cả về thể xác và những điều sâu kín trong tâm hồn. + Nghệ thuật: Xây dựng nhân vật, miêu tả tâm lý nhân vật, ngôi kể thứ nhất và điểm nhìn bên trong. - Sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn. | 0.5 | ||
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. | 0.5 | ||
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. | 0.25 | ||
e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. | 0.25 | ||
2 | Viết bài văn ngắn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về tầm quan trọng của kí ức về những người thân yêu trong cuộc đời mỗi người. | 4 | |
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài - Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội. | 0.25 | ||
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Tầm quan trọng của kí ức về những người thân yêu trong cuộc đời mỗi người. | 0.5 | ||
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận - Xác định được các ý chính của bài viết. - Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề. * Triển khai vấn đề nghị luận: - Giải thích vấn đề nghị luận. - Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau: + Con người thường nhìn về phía trước để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn, tuy nhiên: “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác.” (Sưu tầm). Quá khứ chính là yếu tố quan trọng để hình thành nên tính cách một con người, và người khác với người bởi mỗi cuộc đời là những trải nghiệm riêng tư có được từ thời đã qua và được lưu giữ bằng kí ức. Những kí ức về gia đình là nền tảng quan trọng cho nhân cách của con người. + Những kí ức về những người thân yêu chính là những hành trang quan trọng cho cuộc đời của mỗi người, giúp con người có động lực và sự tích cực để tiến về phía trước. + Nếu không có kí ức, con người chỉ là lớp vỏ rỗng. - Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện. * Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân. | 1.0 | ||
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau - Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân. - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. Lưu ý: HS có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. | 1.5 | ||
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. | 0.25 | ||
e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
ĐỌC HIỂU | 4 | |
1 | Xác định ngôi kể: Người kể chuyện ngôi thứ 1, xưng “tôi”. | 0.5 |
2 | - Đoạn trích sử dụng điểm nhìn bên trong, mọi sự kiện và tình huống xảy ra đều được đánh giá dưới góc nhìn của người con gái Chi-hon. | 0.5 |
3 | - Biện pháp nghệ thuật: Lặp cấu trúc “Lúc mẹ...” - Tác dụng: + Nhấn mạnh khoảnh khắc mẹ bị lạc, Chi-hon đang bận rộn sống cuộc đời riêng. + Tăng tính liên kết và tạo nhịp điệu cho đoạn văn. | 1.0 |
4 | - Người mẹ của Chi-hon có phẩm chất mạnh mẽ, kiên quyết bảo vệ cho con của mình, ngay cả khi bà phải đối mặt với một môi trường lạ lẫm; bà cũng vô cùng yêu thương con, muốn con được thử và mặc những món đồ bà thấy thật đẹp. - Câu văn cho thấy phẩm chất của mẹ Chi-hon: "Mẹ nắm chặt tay cô, bước đi giữa biển người với phong thái có thể đe dọa cả những tòa nhà lừng lững đang từ trên cao nhìn thẳng xuống, rồi băng qua quảng trường và đợi anh cả dưới chân tháp đồng hồ." | 1.0 |
| 5 | - Chi-hon hối tiếc vì đã không thử mặc chiếc váy mẹ chọn, khiến mẹ buồn phiền. - Học sinh nêu được một trong những ý sau: + Những hành động vô tâm đôi khi có thể khiến những người xung quanh cảm thấy tổn thương, dù ta không cố ý. + Ngay cả với những người thân thiết nhất, ta cũng cần chú ý cư xử một cách tinh tế. + Khi ta chú tâm trong cách ứng xử với người khác, ta cũng nhận được những điều tương tự. |
Câu 1
Những giấc mơ có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của con người. Trước hết, giấc mơ là sự phản chiếu những khát vọng, mong muốn sâu kín mà con người không dễ bộc lộ trong đời sống hằng ngày. Khi mơ, con người được sống với điều mình khao khát, được giải tỏa những ước mơ còn dang dở hoặc những nỗi niềm chưa thể nói thành lời. Bên cạnh đó, giấc mơ còn giúp con người nhận diện chính mình, bởi trong mơ thường ẩn chứa những lo âu, trăn trở hay nỗi sợ hãi của tiềm thức. Không chỉ mang ý nghĩa tinh thần, những giấc mơ đẹp còn có thể trở thành động lực để con người vươn lên trong cuộc sống, nuôi dưỡng niềm tin và hi vọng vào tương lai. Tuy nhiên, nếu chỉ mải mê sống trong mơ mà quên đi thực tại, con người dễ trở nên ảo tưởng, thiếu thực tế. Vì vậy, giấc mơ chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người biết biến nó thành hành động cụ thể, biến ước mơ thành mục tiêu để phấn đấu. Có thể nói, những giấc mơ chính là điểm tựa tinh thần giúp con người sống có hi vọng và ý nghĩa hơn.
Câu 2
Nguyễn Bính là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, được mệnh danh là “nhà thơ của hồn quê Việt”. Thơ ông mang đậm sắc thái dân gian, chân chất, mộc mạc nhưng giàu cảm xúc. Bài thơ “Tương tư” là một tác phẩm tiêu biểu, thể hiện sâu sắc nỗi nhớ nhung, khắc khoải của một tâm hồn đang yêu trong không gian làng quê Bắc Bộ.
Trước hết, bài thơ mở ra bằng nỗi nhớ tương tư da diết của nhân vật trữ tình. Hình ảnh “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông” gợi lên một không gian quen thuộc, gần gũi của làng quê. Nỗi nhớ ấy không mơ hồ mà được cụ thể hóa qua cách nói dân gian: “Một người chín nhớ mười mong một người”, nhấn mạnh mức độ sâu nặng, đầy ắp của tình cảm. Tương tư trong thơ Nguyễn Bính không phải cảm xúc cao xa, trừu tượng mà rất đời thường, giản dị.
Không dừng lại ở nỗi nhớ, tác giả còn khắc họa tình yêu như một “căn bệnh”. Nếu “gió mưa là bệnh của giời” thì “tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. Cách so sánh hóm hỉnh nhưng chân thành cho thấy tương tư là trạng thái không thể tránh khỏi của người đang yêu, vừa ngọt ngào vừa đau khổ. Nỗi tương tư ấy kéo dài theo thời gian, được thể hiện qua hình ảnh “ngày qua ngày lại qua ngày”, khiến cảnh vật cũng nhuốm màu tâm trạng, từ “lá xanh” hóa “lá vàng”, gợi sự mỏi mòn, chờ đợi.
Tiếp đó, bài thơ bộc lộ nỗi băn khoăn, tủi thân và khát khao được đáp lại tình cảm. Hai thôn chung một làng, chỉ “cách một đầu đình” mà người thương vẫn không sang, khiến nhân vật trữ tình vừa trách móc, vừa xót xa. Những câu hỏi tu từ liên tiếp như “Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!” hay “Bao giờ bến mới gặp đò?” đã diễn tả rõ tâm trạng cô đơn, lẻ loi của người yêu đơn phương, đồng thời thể hiện khát vọng được gắn bó, sum vầy.
Đặc biệt, đoạn cuối bài thơ với hình ảnh giàn trầu – hàng cau mang ý nghĩa biểu tượng cho hôn nhân truyền thống, thể hiện ước mơ về một tình yêu bền chặt, lâu dài. Tình yêu trong “Tương tư” vì thế vừa tha thiết, chân thành, vừa mang vẻ đẹp mộc mạc của tâm hồn người nông dân Việt Nam.
Tóm lại, bài thơ “Tương tư” đã thể hiện thành công nỗi nhớ thương da diết của một trái tim đang yêu, qua đó khắc họa vẻ đẹp của tình yêu chân thành, trong sáng. Với giọng điệu dân gian, hình ảnh giản dị và cảm xúc tự nhiên, Nguyễn Bính đã tạo nên một bài thơ giàu sức lay động, mang đậm hồn quê và dấu ấn riêng trong thơ ca Việt Nam.