NGUYỄN NHƯ TUẤN
Giới thiệu về bản thân
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (khoảng 200 chữ)
Bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của nhân loại hiện nay. Môi trường không chỉ là không gian sống mà còn là nền tảng duy trì sự tồn tại và phát triển của con người. Khi môi trường bị tàn phá, con người không chỉ đối mặt với thiên tai, dịch bệnh mà còn chịu những tổn thương về tinh thần, như hiện tượng “tiếc thương sinh thái” đã chỉ ra. Thiên nhiên gắn bó mật thiết với đời sống con người, từ nguồn nước, không khí đến cảnh quan nuôi dưỡng tâm hồn. Vì vậy, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ chính cuộc sống và tương lai của chúng ta. Mỗi cá nhân cần có ý thức từ những hành động nhỏ như tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải, trồng cây xanh và tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng. Đồng thời, các quốc gia cần chung tay đưa ra những chính sách hiệu quả nhằm giảm thiểu biến đổi khí hậu. Chỉ khi con người biết trân trọng và gìn giữ thiên nhiên, chúng ta mới có thể xây dựng một cuộc sống bền vững và hạnh phúc.
Câu 2 (khoảng 600 chữ)
Hình tượng người ẩn sĩ là một biểu tượng quen thuộc trong văn học trung đại Việt Nam, thể hiện quan niệm sống thanh cao, thoát tục của các nhà nho. Qua hai bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ của Nguyễn Khuyến, hình ảnh người ẩn sĩ hiện lên với những nét tương đồng nhưng cũng có những điểm khác biệt đáng chú ý.
Trước hết, ở bài thơ Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khắc họa hình tượng người ẩn sĩ với lối sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên. Những hình ảnh “một mai, một cuốc, một cần câu” gợi cuộc sống lao động thanh đạm, tự do tự tại. Nhà thơ lựa chọn “nơi vắng vẻ” để tránh xa chốn “lao xao”, thể hiện thái độ coi thường danh lợi. Cuộc sống của ông gắn bó với tự nhiên qua các hoạt động thường ngày: “thu ăn măng trúc, đông ăn giá / xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”. Tất cả tạo nên một bức tranh cuộc sống thanh bình, thuận theo tự nhiên. Đặc biệt, quan niệm “phú quý tựa chiêm bao” cho thấy cái nhìn tỉnh táo, triết lí về cuộc đời, khẳng định bản lĩnh và nhân cách cao đẹp của người ẩn sĩ.
Trong khi đó, bài thơ của Nguyễn Khuyến cũng khắc họa hình ảnh người ẩn sĩ nhưng mang sắc thái trầm lắng, sâu kín hơn. Không gian mùa thu hiện lên với vẻ đẹp thanh sơ, tĩnh lặng: “trời thu xanh ngắt”, “nước biếc”, “song thưa”, “bóng trăng”. Cảnh vật gợi sự cô tịch, phản ánh tâm trạng của nhân vật trữ tình. Người ẩn sĩ ở đây không chỉ sống hòa mình với thiên nhiên mà còn mang nỗi niềm suy tư, day dứt. Câu thơ “nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” thể hiện sự tự vấn, khiêm nhường trước những bậc ẩn sĩ xưa như Đào Uyên Minh. Điều đó cho thấy Nguyễn Khuyến không chỉ tìm sự thanh nhàn mà còn ý thức sâu sắc về nhân cách và lý tưởng sống của mình.
So sánh hai hình tượng, có thể thấy cả hai đều gặp nhau ở lối sống thanh cao, xa lánh danh lợi, hòa hợp với thiên nhiên. Tuy nhiên, nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện sự ung dung, tự tại, mang tính triết lí rõ nét thì Nguyễn Khuyến lại thiên về cảm xúc nội tâm, trầm lắng và có phần suy tư. Người ẩn sĩ trong Nhàn mang vẻ đẹp chủ động, lựa chọn dứt khoát con đường sống, còn ở Nguyễn Khuyến lại gợi cảm giác lặng lẽ, kín đáo và đầy tâm trạng.
Như vậy, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ không chỉ phản ánh quan niệm sống của các nhà nho mà còn thể hiện vẻ đẹp nhân cách và tâm hồn của họ. Dù ở những sắc thái khác nhau, cả hai đều góp phần khẳng định giá trị của lối sống thanh cao, hướng về thiên nhiên và giữ gìn phẩm giá trong mọi hoàn cảnh.
Dưới đây là bài làm đầy đủ – rõ ý – đúng chuẩn cho cả phần Đọc hiểu và Viết:
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1.
“Tiếc thương sinh thái” là trạng thái đau khổ, mất mát về tinh thần của con người trước sự suy thoái, biến mất của môi trường tự nhiên do biến đổi khí hậu gây ra, với cảm xúc tương tự như khi mất người thân.
Câu 2.
Bài viết được trình bày theo trình tự:
→ Giới thiệu hiện tượng
→ Giải thích, định nghĩa khái niệm
→ Đưa ra dẫn chứng thực tế
→ Mở rộng, nêu thực trạng và tác động hiện nay.
Câu 3.
Các bằng chứng được sử dụng gồm:
- Nghiên cứu của Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis
- Ví dụ về người Inuit (Canada) và nông dân Australia
- Sự kiện cháy rừng Amazon năm 2019
- Khảo sát của Caroline Hickman về giới trẻ ở nhiều quốc gia.
Câu 4.
Tác giả tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu từ góc độ tâm lí con người, nhấn mạnh tác động đến đời sống tinh thần. Đây là cách tiếp cận mới mẻ, sâu sắc, giúp người đọc nhận thức rõ mức độ nghiêm trọng và toàn diện của vấn đề.
Câu 5.
Thông điệp:
Biến đổi khí hậu không chỉ hủy hoại môi trường sống mà còn gây tổn thương sâu sắc đến đời sống tinh thần con người, vì vậy cần nâng cao ý thức và hành động bảo vệ thiên nhiên.
số 3
Bài GV giao
Bài 1
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
BÀN GIAO
Rồi ông sẽ bàn giao cho cháu
Bàn giao gió heo may
Bàn giao góc phố
Có mùi ngô nướng bay
Ông sẽ chẳng bàn giao những tháng ngày vất vả
Sương muối đêm bay lạnh mặt người
Đất rung chuyển, xóm làng loạn lạc
Ngọn đèn mờ, mưa bụi rơi
Ông bàn giao tháng giêng hương bưởi
Cỏ mùa xuân xanh dưới chân giày
Bàn giao những mặt người đẫm nắng
Đẫm yêu thương trên trái đất này
Ông chỉ bàn giao một chút buồn
Ngậm ngùi một chút, chút cô đơn
Câu thơ vững gót làm người ấy*
Ông cũng bàn giao cho cháu luôn.
(Theo Vũ Quần Phương, Văn nghệ quân đội, Xuân Giáp Ngọ 2014, tr.86)
Chú thích:
* Câu thơ Cắn răng mà chịu thiệt, vững gót để làm người.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2. Trong bài thơ, nhân vật người ông sẽ bàn giao cho cháu những thứ gì?
Câu 3. Ở khổ thơ thứ hai, có những thứ mà người ông chẳng bàn giao cho cháu. Theo anh/chị, vì sao người ông lại không muốn bàn giao cho cháu những thứ đó?
Câu 4. Chỉ ra và phân tích biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong bài thơ.
Câu 5. Chúng ta hôm nay đã nhận bàn giao từ thế hệ cha ông đi trước rất nhiều điều quý giá, thiêng liêng. Theo anh/chị, chúng ta cần có thái độ gì trước những điều được bàn giao ấy? (Bày tỏ bằng đoạn văn 5 - 7 câu)
Guide icon
Hướng dẫn giải
Trả lời
Bài 2
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về bài thơ ở phần đọc hiểu.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn (khoảng 600 chữ) nêu suy nghĩ về vấn đề tuổi trẻ và sự trải nghiệm.
Dưới đây là bài giải đầy đủ – rõ ràng – đúng hướng dẫn cho “Bài GV giao – số 3”:
Bài 1. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
Trong bài thơ, người ông sẽ bàn giao cho cháu những điều:
- Gió heo may
- Góc phố có mùi ngô nướng
- Tháng giêng hương bưởi
- Cỏ mùa xuân xanh
- Những con người đẫm nắng, đẫm yêu thương
- Một chút buồn, chút ngậm ngùi, cô đơn
- Bài học làm người (qua câu thơ)
Câu 3.
Người ông không muốn bàn giao những tháng ngày vất vả, đau thương như:
- Sương muối lạnh lẽo
- Đất rung chuyển, loạn lạc
- Cuộc sống gian khổ, u ám
👉 Lý do:
- Ông muốn cháu được sống trong những điều tốt đẹp, bình yên.
- Những đau khổ, mất mát thuộc về quá khứ, ông muốn giữ lại cho riêng mình.
- Thể hiện tình yêu thương sâu sắc, mong cháu có một tuổi thơ trong sáng, hạnh phúc.
Câu 4.
👉 Biện pháp điệp ngữ: “bàn giao”, “ông sẽ”, “ông bàn giao”
Tác dụng:
- Nhấn mạnh hành động trao truyền giữa các thế hệ
- Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, tha thiết
- Làm nổi bật ý nghĩa: sự tiếp nối, kế thừa giá trị sống
- Thể hiện tình cảm yêu thương và trách nhiệm của người ông
Câu 5. (Đoạn văn 5–7 câu)
Chúng ta cần trân trọng những giá trị mà thế hệ cha ông đã bàn giao. Đó không chỉ là những điều tốt đẹp trong cuộc sống mà còn là truyền thống, tình yêu thương và bài học làm người. Mỗi người cần có ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị ấy trong cuộc sống hiện đại. Đồng thời, chúng ta cũng cần sống có trách nhiệm, không ngừng học hỏi và rèn luyện để xứng đáng với sự hy sinh của thế hệ đi trước. Việc tiếp nối và phát triển những điều tốt đẹp chính là cách để tri ân quá khứ. Nhờ đó, xã hội sẽ ngày càng tốt đẹp hơn.
Bài 2. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Đoạn văn khoảng 200 chữ:
Bài thơ “Bàn giao” của Vũ Quần Phương là lời tâm sự đầy xúc động của người ông dành cho cháu về sự tiếp nối giữa các thế hệ. Qua hình ảnh “bàn giao”, tác giả đã khắc họa những điều tốt đẹp mà ông muốn trao lại như thiên nhiên trong trẻo, tình người ấm áp và những ký ức bình yên. Đặc biệt, ông không bàn giao những đau thương, mất mát của quá khứ, thể hiện mong muốn cháu được sống trong một thế giới tốt đẹp hơn. Điều đó cho thấy tình yêu thương sâu sắc và sự hy sinh thầm lặng của thế hệ đi trước. Bài thơ còn gửi gắm bài học về cách làm người, nhắc nhở con cháu phải sống vững vàng, có trách nhiệm. Với giọng điệu nhẹ nhàng, giàu cảm xúc và hình ảnh gần gũi, bài thơ đã để lại nhiều suy ngẫm sâu sắc về truyền thống và sự kế thừa trong cuộc sống.
Câu 2 (4,0 điểm)
Bài văn khoảng 600 chữ:
Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất của cuộc đời, là lúc con người có nhiều ước mơ, hoài bão và khát khao khám phá thế giới. Tuy nhiên, để trưởng thành và hoàn thiện bản thân, tuổi trẻ không thể thiếu những trải nghiệm.
Trải nghiệm là quá trình con người trực tiếp tham gia, va chạm với thực tế cuộc sống để rút ra bài học cho mình. Đó có thể là những thành công, nhưng cũng có thể là thất bại, khó khăn. Chính những trải nghiệm ấy giúp con người hiểu rõ bản thân, tích lũy kinh nghiệm và trưởng thành hơn từng ngày.
Tuổi trẻ cần trải nghiệm bởi đó là cách tốt nhất để học hỏi. Những kiến thức trong sách vở chỉ là nền tảng, còn thực tế cuộc sống mới là “trường học lớn”. Khi dám thử sức, dám bước ra khỏi vùng an toàn, con người sẽ khám phá được khả năng tiềm ẩn của bản thân. Trải nghiệm cũng giúp ta rèn luyện bản lĩnh, sự tự tin và khả năng thích nghi với hoàn cảnh.
Bên cạnh đó, trải nghiệm còn giúp tuổi trẻ hiểu được giá trị của cuộc sống. Những khó khăn, thử thách sẽ dạy ta biết trân trọng những gì mình đang có. Những lần vấp ngã sẽ giúp ta mạnh mẽ hơn, biết đứng dậy và tiếp tục bước đi. Nếu không có trải nghiệm, tuổi trẻ sẽ trở nên nhạt nhòa, thiếu ý nghĩa và khó đạt được thành công trong tương lai.
Tuy nhiên, trải nghiệm không có nghĩa là hành động thiếu suy nghĩ hay chạy theo những điều mạo hiểm. Tuổi trẻ cần lựa chọn những trải nghiệm tích cực, phù hợp với bản thân và có ích cho xã hội. Đồng thời, cần biết rút ra bài học từ mỗi trải nghiệm để hoàn thiện mình.
Trong thực tế, nhiều người trẻ thành công chính là nhờ dám trải nghiệm. Họ không ngại khó khăn, luôn học hỏi và không ngừng nỗ lực. Ngược lại, những người sống thụ động, ngại thay đổi thường dễ bỏ lỡ cơ hội và khó phát triển.
Tóm lại, trải nghiệm là yếu tố quan trọng giúp tuổi trẻ trưởng thành và khẳng định bản thân. Mỗi người trẻ cần chủ động học hỏi, dám thử thách và sống hết mình để tuổi trẻ trở nên ý nghĩa. Bởi lẽ, chính những trải nghiệm hôm nay sẽ tạo nên con người của chúng ta trong tương lai.
Nếu bạn muốn, mình có thể chấm điểm bài này theo barem thi THPT hoặc viết lại theo văn phong học sinh giỏi (9–10 điểm) nhé 👍
số 2
Bài GV giao
Bài 1
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
CON YÊU CON GHÉT
Lược phần đầu: Bớt và Nở đều là con gái bà Ngải nhưng lại nhận sự đối xử phân biệt yêu ghét trái ngược từ mẹ đến mức Bớt từng phải ấm ức khóc ầm ĩ: "Bu đừng có con yêu con ghét! Được, đã thế xem sau này bu già, một mình cái Nở có nuôi bu không, hay lúc ấy lại phải gọi đến tôi?". Sau này hai cô con gái đi lấy chồng, bà vẫn đối xử kiểu phân biệt, có gì cũng bù trì cho Nở, tiền nong gửi cả Nở nhưng rồi lại bị chính Nở dáo dở lấy hết tiền gom góp dành dụm của bà. Bà giận, khóa cửa, xuống cuối làng ở với mẹ con Bớt.
[...] Thấy mẹ đem quần áo nồi niêu đến ở chung, Bớt rất mừng. Nhưng chị cố gặng mẹ cho hết lẽ:
- Bu nghĩ kĩ đi. Chẳng sau này lại phiền bu ra, như chị Nở thì con không muốn...
Nghe con nhắc đến thế thì cụ lại ngượng. Bà cụ gượng cười:
- Mày khác, nó khác. Với cái gì mà phải nghĩ hở con? Đây này, bu cứ tính thế này: Bao giờ đánh xong thằng Mỹ, bố con Hiên với cậu Tấn nó về, lúc bấy giờ ở đâu rồi hãy hay. Còn bây giờ bu cứ ở đây với mẹ con mày, chứ bu ở trên ấy một mình, vong vóng cũng buồn, mà mẹ con mày dưới này thì bấn quá. Mày thì đã lắm thứ công tác. Lại còn lo làm điểm lấy thóc nuôi con...
Từ ngày bà đến ở chung, Bớt như người được cất đi một gánh nặng trên vai. Giờ Bớt chỉ lo công tác với ra đồng làm, giá có phải đi họp hay đi học dăm bảy ngày liền như lớp học chống sâu bệnh cho lúa vừa rồi, là Bớt có thể yên trí đùm gạo đi được, không phải như cái đận ngày xưa vừa họp đấy, mà bụng thì nôn lên với mấy đứa con còn vất vạ ra ở nhà, gửi liều cho hàng xóm. Mấy đứa trẻ được bà trông, chỉ vài tháng đã lớn, béo ra trông thấy. [...]
[...] Bớt kéo con vào lòng, vạch tóc con ra và chỉ vào cái sẹo to bằng cái trôn bát ở gần đỉnh đầu, vô tình kể với bà:
- Còn bố nó ở nhà, bố nó thương con này nhất, bố nó cứ bảo: Tội! Con gái xấu xí.
Bà cụ thở dài và buột miệng cái điều mà bà vẫn lấy làm ân hận:
- Ừ, đáng ra là thế, con nào chả là con. Có mẹ cổ nhân cổ sơ, ngày xưa mẹ mới dọa ra thế chứ!
Bớt vội buông bé Hiên, ôm lấy mẹ:
- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?
1966 - 1974
(Vũ Thị Thường, Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1945 - 2005, NXB Công an Nhân dân, 2005, tr.20 - 23)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn)
Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện.
Câu 2. Chỉ ra một số chi tiết về cách ứng xử của chị Bớt Dương trong văn bản cho thấy chị không giận mẹ dù trước đó từng bị mẹ phân biệt đối xử.
Câu 3. Qua đoạn trích, anh/chị thấy nhân vật Bớt là người như thế nào?
Câu 4. Hành động ôm lấy vai mẹ và câu nói của chị Bớt: "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?" có ý nghĩa gì?
Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống hôm nay và lí giải tại sao.
Dưới đây là bài giải ngắn gọn, đúng trọng tâm cho “Bài GV giao – số 2”:
Bài 1. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1.
Người kể chuyện sử dụng ngôi thứ ba.
Câu 2.
Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ:
- Khi mẹ đến ở cùng, chị rất mừng
- Chị chỉ nhẹ nhàng nhắc mẹ: “Bu nghĩ kĩ đi…” (không trách móc)
- Chị chăm sóc, đón nhận mẹ về ở chung
- Khi mẹ ân hận, chị ôm mẹ và an ủi, không nhắc lại chuyện cũ
Câu 3.
Nhân vật Bớt là người:
- Hiếu thảo, giàu tình cảm
- Bao dung, vị tha (không oán trách mẹ)
- Chịu thương chịu khó, đảm đang
- Có trách nhiệm với gia đình
Câu 4.
👉 Hành động và lời nói của Bớt có ý nghĩa:
- Thể hiện tình yêu thương, sự cảm thông sâu sắc với mẹ
- Giúp mẹ giải tỏa mặc cảm, ân hận
- Cho thấy tấm lòng bao dung, không chấp nhặt quá khứ
- Làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách của Bớt
Câu 5.
Thông điệp:
Con người cần biết yêu thương, bao dung và tha thứ trong gia đình.
Lí giải:
Trong cuộc sống, không ai tránh khỏi sai lầm, kể cả những người thân yêu nhất. Sự bao dung giúp hàn gắn những rạn nứt và giữ gìn tình cảm gia đình bền chặt. Nếu mỗi người đều biết thấu hiểu và tha thứ, gia đình sẽ trở thành chỗ dựa vững chắc cho mỗi cá nhân. Đây là giá trị rất cần thiết trong xã hội hiện đại.
Nếu bạn muốn, mình có thể viết luôn phần II (viết đoạn/bài văn) cho đề số 2 hoặc nâng cấp câu trả lời lên mức 9–10 điểm nhé 👍
số 2
Bài GV giao
Bài 1
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
CON YÊU CON GHÉT
Lược phần đầu: Bớt và Nở đều là con gái bà Ngải nhưng lại nhận sự đối xử phân biệt yêu ghét trái ngược từ mẹ đến mức Bớt từng phải ấm ức khóc ầm ĩ: "Bu đừng có con yêu con ghét! Được, đã thế xem sau này bu già, một mình cái Nở có nuôi bu không, hay lúc ấy lại phải gọi đến tôi?". Sau này hai cô con gái đi lấy chồng, bà vẫn đối xử kiểu phân biệt, có gì cũng bù trì cho Nở, tiền nong gửi cả Nở nhưng rồi lại bị chính Nở dáo dở lấy hết tiền gom góp dành dụm của bà. Bà giận, khóa cửa, xuống cuối làng ở với mẹ con Bớt.
[...] Thấy mẹ đem quần áo nồi niêu đến ở chung, Bớt rất mừng. Nhưng chị cố gặng mẹ cho hết lẽ:
- Bu nghĩ kĩ đi. Chẳng sau này lại phiền bu ra, như chị Nở thì con không muốn...
Nghe con nhắc đến thế thì cụ lại ngượng. Bà cụ gượng cười:
- Mày khác, nó khác. Với cái gì mà phải nghĩ hở con? Đây này, bu cứ tính thế này: Bao giờ đánh xong thằng Mỹ, bố con Hiên với cậu Tấn nó về, lúc bấy giờ ở đâu rồi hãy hay. Còn bây giờ bu cứ ở đây với mẹ con mày, chứ bu ở trên ấy một mình, vong vóng cũng buồn, mà mẹ con mày dưới này thì bấn quá. Mày thì đã lắm thứ công tác. Lại còn lo làm điểm lấy thóc nuôi con...
Từ ngày bà đến ở chung, Bớt như người được cất đi một gánh nặng trên vai. Giờ Bớt chỉ lo công tác với ra đồng làm, giá có phải đi họp hay đi học dăm bảy ngày liền như lớp học chống sâu bệnh cho lúa vừa rồi, là Bớt có thể yên trí đùm gạo đi được, không phải như cái đận ngày xưa vừa họp đấy, mà bụng thì nôn lên với mấy đứa con còn vất vạ ra ở nhà, gửi liều cho hàng xóm. Mấy đứa trẻ được bà trông, chỉ vài tháng đã lớn, béo ra trông thấy. [...]
[...] Bớt kéo con vào lòng, vạch tóc con ra và chỉ vào cái sẹo to bằng cái trôn bát ở gần đỉnh đầu, vô tình kể với bà:
- Còn bố nó ở nhà, bố nó thương con này nhất, bố nó cứ bảo: Tội! Con gái xấu xí.
Bà cụ thở dài và buột miệng cái điều mà bà vẫn lấy làm ân hận:
- Ừ, đáng ra là thế, con nào chả là con. Có mẹ cổ nhân cổ sơ, ngày xưa mẹ mới dọa ra thế chứ!
Bớt vội buông bé Hiên, ôm lấy mẹ:
- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?
1966 - 1974
(Vũ Thị Thường, Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1945 - 2005, NXB Công an Nhân dân, 2005, tr.20 - 23)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn)
Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện.
Câu 2. Chỉ ra một số chi tiết về cách ứng xử của chị Bớt Dương trong văn bản cho thấy chị không giận mẹ dù trước đó từng bị mẹ phân biệt đối xử.
Câu 3. Qua đoạn trích, anh/chị thấy nhân vật Bớt là người như thế nào?
Câu 4. Hành động ôm lấy vai mẹ và câu nói của chị Bớt: "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?" có ý nghĩa gì?
Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống hôm nay và lí giải tại sao.
Guide icon
Hướng dẫn giải
book-open
Bài làm của tôi
Sửa
Dưới đây là bài giải ngắn gọn, đúng trọng tâm cho “Bài GV giao – số 2”:
Bài 1. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1.
Người kể chuyện sử dụng ngôi thứ ba.
Câu 2.
Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ:
Khi mẹ đến ở cùng, chị rất mừng
Chị chỉ nhẹ nhàng nhắc mẹ: “Bu nghĩ kĩ đi…” (không trách móc)
Chị chăm sóc, đón nhận mẹ về ở chung
Khi mẹ ân hận, chị ôm mẹ và an ủi, không nhắc lại chuyện cũ
Câu 3.
Nhân vật Bớt là người:
Hiếu thảo, giàu tình cảm
Bao dung, vị tha (không oán trách mẹ)
Chịu thương chịu khó, đảm đang
Có trách nhiệm với gia đình
Câu 4.
👉 Hành động và lời nói của Bớt có ý nghĩa:
Thể hiện tình yêu thương, sự cảm thông sâu sắc với mẹ
Giúp mẹ giải tỏa mặc cảm, ân hận
Cho thấy tấm lòng bao dung, không chấp nhặt quá khứ
Làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách của Bớt
Câu 5.
Thông điệp:
Con người cần biết yêu thương, bao dung và tha thứ trong gia đình.
Lí giải:
Trong cuộc sống, không ai tránh khỏi sai lầm, kể cả những người thân yêu nhất. Sự bao dung giúp hàn gắn những rạn nứt và giữ gìn tình cảm gia đình bền chặt. Nếu mỗi người đều biết thấu hiểu và tha thứ, gia đình sẽ trở thành chỗ dựa vững chắc cho mỗi cá nhân. Đây là giá trị rất cần thiết trong xã hội hiện đại.
Nếu bạn muốn, mình có thể viết luôn phần II (viết đoạn/bài văn) cho đề số 2 hoặc nâng cấp câu trả lời lên mức 9–10 điểm nhé 👍
Bài 2
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1 (2.0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của bức tranh quê trong đoạn thơ sau:
Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đưa,
Đầu thềm con chó ngủ lơ mơ,
Bóng cây lơi lả bên hàng dậu,
Đêm vắng, người im, cảnh lặng tờ.
Ông lão nằm chơi ở giữa sân,
Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân.
Thằng cu đứng vịn bên thành chõng,
Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân.
(Trích Trăng hè, Đoàn Văn Cừ, Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân, NXB Văn học, 2005, tr.190 - 191)
Câu 2 (4.0 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ hiện nay.
Dưới đây là phần II – bài làm hoàn chỉnh, dễ đạt 8–9+ điểm:
Bài 2. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Đoạn văn khoảng 200 chữ:
Đoạn thơ trong bài “Trăng hè” của Đoàn Văn Cừ đã vẽ nên một bức tranh làng quê thanh bình, yên ả và đậm chất trữ tình. Trước hết, không gian hiện lên thật tĩnh lặng với âm thanh quen thuộc “tiếng võng kẽo kẹt”, hình ảnh “con chó ngủ lơ mơ”, “bóng cây lơi lả” gợi cảm giác thư thái, nhẹ nhàng. Cảnh đêm vắng càng làm nổi bật sự yên bình của cuộc sống thôn quê. Không chỉ có cảnh, bức tranh còn có sự xuất hiện của con người: ông lão nằm nghỉ, đứa trẻ ngây thơ, con mèo quấn quýt. Những hình ảnh giản dị ấy tạo nên một bức tranh sinh hoạt ấm áp, gần gũi. Ánh trăng “lấp loáng” càng làm cho cảnh vật trở nên thơ mộng, huyền ảo. Với ngôn ngữ mộc mạc, giàu sức gợi, tác giả đã khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu quê hương sâu sắc. Đoạn thơ là lời nhắc nhở mỗi người hãy trân trọng những khoảnh khắc bình yên trong cuộc sống.
Câu 2 (4,0 điểm)
Bài văn khoảng 600 chữ:
Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất của đời người, là lúc con người có nhiều khát vọng, ước mơ và hoài bão. Tuy nhiên, để biến những ước mơ ấy thành hiện thực, tuổi trẻ cần có sự nỗ lực hết mình.
Nỗ lực là sự cố gắng không ngừng nghỉ để đạt được mục tiêu đã đặt ra. Đó không chỉ là làm việc chăm chỉ mà còn là sự kiên trì, ý chí vượt qua khó khăn, thử thách. Với tuổi trẻ, nỗ lực chính là chìa khóa mở ra cánh cửa tương lai.
Trước hết, nỗ lực giúp người trẻ hoàn thiện bản thân. Trong quá trình học tập và rèn luyện, không ai có thể đạt được thành công nếu thiếu sự cố gắng. Những kiến thức, kỹ năng đều cần được tích lũy qua thời gian. Khi nỗ lực, con người sẽ dần trưởng thành, trở nên bản lĩnh và tự tin hơn. Đồng thời, nỗ lực cũng giúp ta khám phá giới hạn của bản thân, từ đó phát huy những tiềm năng vốn có.
Bên cạnh đó, nỗ lực còn là yếu tố quyết định thành công. Thực tế cho thấy, rất nhiều người thành đạt không phải nhờ tài năng bẩm sinh mà chính nhờ sự kiên trì và cố gắng bền bỉ. Không có con đường nào dẫn đến thành công mà không trải qua gian nan. Những khó khăn, thất bại trong quá trình nỗ lực chính là bài học quý giá giúp con người tiến bộ hơn.
Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay, vẫn có một bộ phận người trẻ sống thiếu ý chí, ngại khó, ngại khổ. Họ dễ dàng bỏ cuộc khi gặp thất bại hoặc chỉ muốn hưởng thụ mà không chịu cố gắng. Điều này không chỉ khiến bản thân họ tụt lại phía sau mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của xã hội. Vì vậy, mỗi người trẻ cần nhận thức rõ vai trò của nỗ lực trong cuộc sống.
Để nỗ lực có hiệu quả, tuổi trẻ cần xác định mục tiêu rõ ràng và phù hợp với khả năng của bản thân. Đồng thời, cần có kế hoạch cụ thể và kiên trì thực hiện. Bên cạnh đó, mỗi người cũng cần học cách vượt qua thất bại, coi đó là cơ hội để trưởng thành. Sự nỗ lực cũng cần đi đôi với tinh thần sáng tạo và thái độ tích cực.
Tóm lại, nỗ lực là yếu tố không thể thiếu đối với tuổi trẻ trên con đường chinh phục ước mơ. Mỗi người hãy sống hết mình, dám nghĩ, dám làm và không ngừng cố gắng. Bởi chính những nỗ lực hôm nay sẽ tạo nên thành công của ngày mai.
Dưới đây là bài giải ngắn gọn, đúng trọng tâm cho “Bài GV giao – số 2”:
Bài 1. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1.
Người kể chuyện sử dụng ngôi thứ ba.
Câu 2.
Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ:
- Khi mẹ đến ở cùng, chị rất mừng
- Chị chỉ nhẹ nhàng nhắc mẹ: “Bu nghĩ kĩ đi…” (không trách móc)
- Chị chăm sóc, đón nhận mẹ về ở chung
- Khi mẹ ân hận, chị ôm mẹ và an ủi, không nhắc lại chuyện cũ
Câu 3.
Nhân vật Bớt là người:
- Hiếu thảo, giàu tình cảm
- Bao dung, vị tha (không oán trách mẹ)
- Chịu thương chịu khó, đảm đang
- Có trách nhiệm với gia đình
Câu 4.
👉 Hành động và lời nói của Bớt có ý nghĩa:
- Thể hiện tình yêu thương, sự cảm thông sâu sắc với mẹ
- Giúp mẹ giải tỏa mặc cảm, ân hận
- Cho thấy tấm lòng bao dung, không chấp nhặt quá khứ
- Làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách của Bớt
Câu 5.
Thông điệp:
Con người cần biết yêu thương, bao dung và tha thứ trong gia đình.
Lí giải:
Trong cuộc sống, không ai tránh khỏi sai lầm, kể cả những người thân yêu nhất. Sự bao dung giúp hàn gắn những rạn nứt và giữ gìn tình cảm gia đình bền chặt. Nếu mỗi người đều biết thấu hiểu và tha thứ, gia đình sẽ trở thành chỗ dựa vững chắc cho mỗi cá nhân. Đây là giá trị rất cần thiết trong xã hội hiện đại.
Nếu bạn muốn, mình có thể viết luôn phần II (viết đoạn/bài văn) cho đề số 2 hoặc nâng cấp câu trả lời lên mức 9–10 điểm nhé 👍
Dưới đây là bài giải ngắn gọn, đúng trọng tâm cho “Bài GV giao – số 2”:
Bài 1. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1.
Người kể chuyện sử dụng ngôi thứ ba.
Câu 2.
Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ:
- Khi mẹ đến ở cùng, chị rất mừng
- Chị chỉ nhẹ nhàng nhắc mẹ: “Bu nghĩ kĩ đi…” (không trách móc)
- Chị chăm sóc, đón nhận mẹ về ở chung
- Khi mẹ ân hận, chị ôm mẹ và an ủi, không nhắc lại chuyện cũ
Câu 3.
Nhân vật Bớt là người:
- Hiếu thảo, giàu tình cảm
- Bao dung, vị tha (không oán trách mẹ)
- Chịu thương chịu khó, đảm đang
- Có trách nhiệm với gia đình
Câu 4.
👉 Hành động và lời nói của Bớt có ý nghĩa:
- Thể hiện tình yêu thương, sự cảm thông sâu sắc với mẹ
- Giúp mẹ giải tỏa mặc cảm, ân hận
- Cho thấy tấm lòng bao dung, không chấp nhặt quá khứ
- Làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách của Bớt
Câu 5.
Thông điệp:
Con người cần biết yêu thương, bao dung và tha thứ trong gia đình.
Lí giải:
Trong cuộc sống, không ai tránh khỏi sai lầm, kể cả những người thân yêu nhất. Sự bao dung giúp hàn gắn những rạn nứt và giữ gìn tình cảm gia đình bền chặt. Nếu mỗi người đều biết thấu hiểu và tha thứ, gia đình sẽ trở thành chỗ dựa vững chắc cho mỗi cá nhân. Đây là giá trị rất cần thiết trong xã hội hiện đại.
Nếu bạn muốn, mình có thể viết luôn phần II (viết đoạn/bài văn) cho đề số 2 hoặc nâng cấp câu trả lời lên mức 9–10 điểm nhé 👍
Dưới đây là bài giải ngắn gọn, đúng trọng tâm cho “Bài GV giao – số 2”:
Bài 1. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1.
Người kể chuyện sử dụng ngôi thứ ba.
Câu 2.
Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ:
- Khi mẹ đến ở cùng, chị rất mừng
- Chị chỉ nhẹ nhàng nhắc mẹ: “Bu nghĩ kĩ đi…” (không trách móc)
- Chị chăm sóc, đón nhận mẹ về ở chung
- Khi mẹ ân hận, chị ôm mẹ và an ủi, không nhắc lại chuyện cũ
Câu 3.
Nhân vật Bớt là người:
- Hiếu thảo, giàu tình cảm
- Bao dung, vị tha (không oán trách mẹ)
- Chịu thương chịu khó, đảm đang
- Có trách nhiệm với gia đình
Câu 4.
👉 Hành động và lời nói của Bớt có ý nghĩa:
- Thể hiện tình yêu thương, sự cảm thông sâu sắc với mẹ
- Giúp mẹ giải tỏa mặc cảm, ân hận
- Cho thấy tấm lòng bao dung, không chấp nhặt quá khứ
- Làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách của Bớt
Câu 5.
Thông điệp:
Con người cần biết yêu thương, bao dung và tha thứ trong gia đình.
Lí giải:
Trong cuộc sống, không ai tránh khỏi sai lầm, kể cả những người thân yêu nhất. Sự bao dung giúp hàn gắn những rạn nứt và giữ gìn tình cảm gia đình bền chặt. Nếu mỗi người đều biết thấu hiểu và tha thứ, gia đình sẽ trở thành chỗ dựa vững chắc cho mỗi cá nhân. Đây là giá trị rất cần thiết trong xã hội hiện đại.
Nếu bạn muốn, mình có thể viết luôn phần II (viết đoạn/bài văn) cho đề số 2 hoặc nâng cấp câu trả lời lên mức 9–10 điểm nhé 👍
Dưới đây là gợi ý trả lời đầy đủ cho bài của bạn:
Câu 1.
Thể thơ của văn bản: Thơ tự do.
Câu 2.
Trong bài thơ, người ông sẽ bàn giao cho cháu những điều:
- Gió heo may, góc phố, mùi ngô nướng
- Tháng giêng hương bưởi, cỏ mùa xuân xanh
- Những con người “đẫm nắng”, “đẫm yêu thương”
- Một chút buồn, chút ngậm ngùi, cô đơn
- Những giá trị tinh thần, bài học làm người (qua câu thơ)
Câu 3.
Người ông không muốn bàn giao những tháng ngày vất vả, đau thương (sương muối lạnh, chiến tranh loạn lạc, mưa bụi, đèn mờ) vì ông mong cháu mình được sống trong bình yên, hạnh phúc. Đó là tình yêu thương sâu sắc của ông dành cho thế hệ sau, muốn giữ lại những đau khổ về mình và trao đi những điều tốt đẹp nhất.
Câu 4.
- Điệp ngữ được sử dụng: “bàn giao”, “ông sẽ bàn giao”, “ông chỉ bàn giao”.
- Tác dụng:
- Nhấn mạnh hành động trao truyền giữa các thế hệ
- Làm nổi bật nội dung chính của bài thơ: sự kế thừa những giá trị tốt đẹp
- Tạo nhịp điệu cho bài thơ, giúp cảm xúc trở nên sâu lắng, tha thiết hơn
Câu 5. (Đoạn văn 5–7 câu)
Chúng ta hôm nay đã nhận được rất nhiều giá trị quý báu từ thế hệ cha ông đi trước. Vì vậy, mỗi người cần có thái độ trân trọng, biết ơn và ý thức giữ gìn những thành quả ấy. Không chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận, chúng ta còn phải có trách nhiệm phát huy và làm cho những giá trị đó ngày càng tốt đẹp hơn. Bên cạnh đó, cần sống có lý tưởng, có trách nhiệm với bản thân và xã hội để xứng đáng với sự hi sinh của thế hệ trước. Đồng thời, mỗi người cũng cần rèn luyện đạo đức, ý chí để vượt qua khó khăn trong cuộc sống. Có như vậy, sự “bàn giao” giữa các thế hệ mới thật sự có ý nghĩa.
số 3
Bài GV giao
Bài 1
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
BÀN GIAO
Rồi ông sẽ bàn giao cho cháu
Bàn giao gió heo may
Bàn giao góc phố
Có mùi ngô nướng bay
Ông sẽ chẳng bàn giao những tháng ngày vất vả
Sương muối đêm bay lạnh mặt người
Đất rung chuyển, xóm làng loạn lạc
Ngọn đèn mờ, mưa bụi rơi
Ông bàn giao tháng giêng hương bưởi
Cỏ mùa xuân xanh dưới chân giày
Bàn giao những mặt người đẫm nắng
Đẫm yêu thương trên trái đất này
Ông chỉ bàn giao một chút buồn
Ngậm ngùi một chút, chút cô đơn
Câu thơ vững gót làm người ấy*
Ông cũng bàn giao cho cháu luôn.
(Theo Vũ Quần Phương, Văn nghệ quân đội, Xuân Giáp Ngọ 2014, tr.86)
Chú thích:
* Câu thơ Cắn răng mà chịu thiệt, vững gót để làm người.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2. Trong bài thơ, nhân vật người ông sẽ bàn giao cho cháu những thứ gì?
Câu 3. Ở khổ thơ thứ hai, có những thứ mà người ông chẳng bàn giao cho cháu. Theo anh/chị, vì sao người ông lại không muốn bàn giao cho cháu những thứ đó?
Câu 4. Chỉ ra và phân tích biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong bài thơ.
Câu 5. Chúng ta hôm nay đã nhận bàn giao từ thế hệ cha ông đi trước rất nhiều điều quý giá, thiêng liêng. Theo anh/chị, chúng ta cần có thái độ gì trước những điều được bàn giao ấy? (Bày tỏ bằng đoạn văn 5 - 7 câu)
Guide icon
Hướng dẫn giải
Trả lời
Bài 2
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về bài thơ ở phần đọc hiểu.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn (khoảng 600 chữ) nêu suy nghĩ về vấn đề tuổi trẻ và sự trải nghiệm.
Dưới đây là bài giải đầy đủ – rõ ràng – đúng hướng dẫn cho “Bài GV giao – số 3”:
Bài 1. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
Trong bài thơ, người ông sẽ bàn giao cho cháu những điều:
- Gió heo may
- Góc phố có mùi ngô nướng
- Tháng giêng hương bưởi
- Cỏ mùa xuân xanh
- Những con người đẫm nắng, đẫm yêu thương
- Một chút buồn, chút ngậm ngùi, cô đơn
- Bài học làm người (qua câu thơ)
Câu 3.
Người ông không muốn bàn giao những tháng ngày vất vả, đau thương như:
- Sương muối lạnh lẽo
- Đất rung chuyển, loạn lạc
- Cuộc sống gian khổ, u ám
👉 Lý do:
- Ông muốn cháu được sống trong những điều tốt đẹp, bình yên.
- Những đau khổ, mất mát thuộc về quá khứ, ông muốn giữ lại cho riêng mình.
- Thể hiện tình yêu thương sâu sắc, mong cháu có một tuổi thơ trong sáng, hạnh phúc.
Câu 4.
👉 Biện pháp điệp ngữ: “bàn giao”, “ông sẽ”, “ông bàn giao”
Tác dụng:
- Nhấn mạnh hành động trao truyền giữa các thế hệ
- Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, tha thiết
- Làm nổi bật ý nghĩa: sự tiếp nối, kế thừa giá trị sống
- Thể hiện tình cảm yêu thương và trách nhiệm của người ông
Câu 5. (Đoạn văn 5–7 câu)
Chúng ta cần trân trọng những giá trị mà thế hệ cha ông đã bàn giao. Đó không chỉ là những điều tốt đẹp trong cuộc sống mà còn là truyền thống, tình yêu thương và bài học làm người. Mỗi người cần có ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị ấy trong cuộc sống hiện đại. Đồng thời, chúng ta cũng cần sống có trách nhiệm, không ngừng học hỏi và rèn luyện để xứng đáng với sự hy sinh của thế hệ đi trước. Việc tiếp nối và phát triển những điều tốt đẹp chính là cách để tri ân quá khứ. Nhờ đó, xã hội sẽ ngày càng tốt đẹp hơn.
Bài 2. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Đoạn văn khoảng 200 chữ:
Bài thơ “Bàn giao” của Vũ Quần Phương là lời tâm sự đầy xúc động của người ông dành cho cháu về sự tiếp nối giữa các thế hệ. Qua hình ảnh “bàn giao”, tác giả đã khắc họa những điều tốt đẹp mà ông muốn trao lại như thiên nhiên trong trẻo, tình người ấm áp và những ký ức bình yên. Đặc biệt, ông không bàn giao những đau thương, mất mát của quá khứ, thể hiện mong muốn cháu được sống trong một thế giới tốt đẹp hơn. Điều đó cho thấy tình yêu thương sâu sắc và sự hy sinh thầm lặng của thế hệ đi trước. Bài thơ còn gửi gắm bài học về cách làm người, nhắc nhở con cháu phải sống vững vàng, có trách nhiệm. Với giọng điệu nhẹ nhàng, giàu cảm xúc và hình ảnh gần gũi, bài thơ đã để lại nhiều suy ngẫm sâu sắc về truyền thống và sự kế thừa trong cuộc sống.
Câu 2 (4,0 điểm)
Bài văn khoảng 600 chữ:
Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất của cuộc đời, là lúc con người có nhiều ước mơ, hoài bão và khát khao khám phá thế giới. Tuy nhiên, để trưởng thành và hoàn thiện bản thân, tuổi trẻ không thể thiếu những trải nghiệm.
Trải nghiệm là quá trình con người trực tiếp tham gia, va chạm với thực tế cuộc sống để rút ra bài học cho mình. Đó có thể là những thành công, nhưng cũng có thể là thất bại, khó khăn. Chính những trải nghiệm ấy giúp con người hiểu rõ bản thân, tích lũy kinh nghiệm và trưởng thành hơn từng ngày.
Tuổi trẻ cần trải nghiệm bởi đó là cách tốt nhất để học hỏi. Những kiến thức trong sách vở chỉ là nền tảng, còn thực tế cuộc sống mới là “trường học lớn”. Khi dám thử sức, dám bước ra khỏi vùng an toàn, con người sẽ khám phá được khả năng tiềm ẩn của bản thân. Trải nghiệm cũng giúp ta rèn luyện bản lĩnh, sự tự tin và khả năng thích nghi với hoàn cảnh.
Bên cạnh đó, trải nghiệm còn giúp tuổi trẻ hiểu được giá trị của cuộc sống. Những khó khăn, thử thách sẽ dạy ta biết trân trọng những gì mình đang có. Những lần vấp ngã sẽ giúp ta mạnh mẽ hơn, biết đứng dậy và tiếp tục bước đi. Nếu không có trải nghiệm, tuổi trẻ sẽ trở nên nhạt nhòa, thiếu ý nghĩa và khó đạt được thành công trong tương lai.
Tuy nhiên, trải nghiệm không có nghĩa là hành động thiếu suy nghĩ hay chạy theo những điều mạo hiểm. Tuổi trẻ cần lựa chọn những trải nghiệm tích cực, phù hợp với bản thân và có ích cho xã hội. Đồng thời, cần biết rút ra bài học từ mỗi trải nghiệm để hoàn thiện mình.
Trong thực tế, nhiều người trẻ thành công chính là nhờ dám trải nghiệm. Họ không ngại khó khăn, luôn học hỏi và không ngừng nỗ lực. Ngược lại, những người sống thụ động, ngại thay đổi thường dễ bỏ lỡ cơ hội và khó phát triển.
Tóm lại, trải nghiệm là yếu tố quan trọng giúp tuổi trẻ trưởng thành và khẳng định bản thân. Mỗi người trẻ cần chủ động học hỏi, dám thử thách và sống hết mình để tuổi trẻ trở nên ý nghĩa. Bởi lẽ, chính những trải nghiệm hôm nay sẽ tạo nên con người của chúng ta trong tương lai.
Bài 2
Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn (~200 chữ)
Con người không chỉ sống giữa xã hội mà còn tồn tại trong một thế giới rộng lớn của thiên nhiên và vạn vật. Vì vậy, việc biết yêu thương vạn vật là một phẩm chất cần thiết. Yêu thương vạn vật trước hết là thái độ trân trọng sự sống xung quanh: từ cây cối, muông thú đến môi trường tự nhiên. Khi con người biết nâng niu thiên nhiên, chúng ta sẽ góp phần giữ gìn sự cân bằng của cuộc sống, bảo vệ môi trường sống của chính mình. Không chỉ vậy, tình yêu đối với vạn vật còn giúp tâm hồn con người trở nên tinh tế, nhân ái hơn. Một người biết xót xa trước một cành cây bị bẻ gãy hay một con vật bị tổn thương cũng sẽ dễ đồng cảm với nỗi đau của con người. Ngược lại, nếu sống thờ ơ, vô cảm với vạn vật, con người dễ trở nên ích kỉ, lạnh lùng. Trong bối cảnh hiện nay, khi môi trường đang bị tàn phá nghiêm trọng, việc yêu thương và bảo vệ vạn vật càng trở nên cấp thiết. Mỗi người có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ như không xả rác, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ động vật. Yêu thương vạn vật chính là cách con người sống hài hòa với tự nhiên và xây dựng một cuộc sống bền vững hơn.
Câu 2 (4,0 điểm): Bài văn (~600 chữ)
Đoạn thơ trong bài Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm đã khắc họa rõ nét sự biến đổi đau xót của quê hương trước và sau chiến tranh. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc cùng nỗi đau trước cảnh đất nước bị tàn phá.
Trước hết, quê hương hiện lên trong kí ức với vẻ đẹp thanh bình, giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Những hình ảnh “lúa nếp thơm nồng”, “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”, “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” gợi ra một không gian làng quê trù phú, ấm no và đậm đà truyền thống. Đó không chỉ là vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn là vẻ đẹp của đời sống văn hóa, tinh thần. Những bức tranh dân gian Đông Hồ với gam màu tươi sáng, đường nét giản dị đã trở thành biểu tượng cho hồn quê, cho bản sắc dân tộc Việt Nam. Giọng thơ ở đoạn này nhẹ nhàng, tha thiết, thể hiện niềm tự hào và tình yêu sâu nặng của tác giả đối với quê hương.
Thế nhưng, tất cả vẻ đẹp ấy đã bị chiến tranh tàn phá. Từ “từ ngày khủng khiếp” như một dấu mốc đau thương, mở ra một hiện thực đầy ám ảnh. Hình ảnh “giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn” cho thấy sự tàn bạo của kẻ thù. Những câu thơ ngắn, dồn dập: “Ruộng ta khô / Nhà ta cháy” đã khắc họa sự mất mát toàn diện, từ sản xuất đến đời sống. Không chỉ thiên nhiên, mà cả con người và văn hóa cũng bị hủy hoại. Hình ảnh “chó ngộ một đàn / lưỡi dài lê sắc máu” gợi lên sự hung dữ, tàn ác của quân xâm lược.
Đặc biệt, tác giả đã sử dụng hình ảnh tranh Đông Hồ để nói về sự chia lìa, tan tác. “Mẹ con đàn lợn âm dương / chia lìa trăm ngả” hay “đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã / bây giờ tan tác về đâu?” là những hình ảnh đầy ám ảnh. Nếu trước đây, tranh Đông Hồ tượng trưng cho cuộc sống yên vui, hạnh phúc thì nay lại trở thành biểu tượng của sự chia cắt, đau thương. Biện pháp đối lập giữa quá khứ tươi đẹp và hiện tại tan hoang đã làm nổi bật nỗi đau mất nước, mất quê hương.
Sự biến đổi của quê hương trong đoạn thơ không chỉ là sự thay đổi về cảnh vật mà còn là sự tổn thương sâu sắc về tinh thần. Từ một miền quê yên bình, giàu đẹp, quê hương đã trở thành nơi hoang tàn, đổ nát. Qua đó, tác giả bộc lộ niềm xót xa, căm phẫn trước tội ác của chiến tranh, đồng thời thể hiện tình yêu quê hương tha thiết.
Tóm lại, đoạn thơ đã khắc họa thành công sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh bằng những hình ảnh giàu sức gợi và cảm xúc chân thành. Qua đó, Hoàng Cầm không chỉ thể hiện nỗi đau mà còn khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu quê hương, ý thức bảo vệ đất nước trước mọi kẻ thù xâm lược.
Câu 1 (0,5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận (kết hợp với biểu cảm).
Câu 2 (0,5 điểm):
Nội dung văn bản:
→ Văn bản nhắc nhở con người về việc vô tình gây tổn thương cho thế giới xung quanh và cho nhau, từ đó kêu gọi mỗi người sống tinh tế, biết yêu thương, trân trọng và nâng niu mọi điều trong cuộc sống.
Câu 3 (1,0 điểm):
- Biện pháp tu từ: Nhân hoá (kết hợp với điệp cấu trúc).
- Phân tích:
- Các sự vật như “mặt đất”, “đại dương”, “cánh rừng”, “dòng sông”… được nhân hoá với những phẩm chất của con người như “tha thứ”, “độ lượng”, “nhẫn nhịn”, “bao dung”.
- Điệp cấu trúc “quen…” được lặp lại nhiều lần.
→ Tác dụng: làm nổi bật sự bao dung, nhẫn nại của thiên nhiên và cuộc đời, qua đó gián tiếp phê phán sự vô tâm của con người, đồng thời gợi nhắc con người cần sống có ý thức, trách nhiệm hơn.
Câu 4 (1,0 điểm):
Tác giả nói “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm” vì:
→ Đó là cách nói ẩn dụ nhằm nhấn mạnh rằng con người cần trải qua những “vết đau”, những va chạm trong cuộc sống để nhận ra giá trị của sự tổn thương. Khi biết đau, ta mới biết trân trọng, đồng cảm và không làm tổn thương người khác. Đây là lời cảnh tỉnh để con người sống chậm lại, tinh tế và có trách nhiệm hơn.
Câu 5 (1,0 điểm):
Bài học ý nghĩa nhất:
→ Mỗi người cần sống biết yêu thương, tinh tế và có ý thức, tránh gây tổn thương cho người khác và cho окружающий thế giới. Đồng thời, cần biết đồng cảm với nỗi đau của người khác để sống nhân ái và có trách nhiệm hơn.