LÊ THỊ THẢO TRANG
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Thể thơ của văn bản: Tự do.
Câu 2. Trong bài thơ, nhân vật người ông bàn giao cho cháu những thứ sau: gió heo may; góc phố có mùi ngô nướng bay; tháng giêng hương bưởi - cỏ mùa xuân xanh dưới chân giày; những mặt người đẫm nắng - đẫm yêu thương trên trái đất này; một chút buồn; ngậm ngùi một chút, chút cô đơn; câu thơ vững gót làm người.
Câu 3. Người ông chẳng bàn giao cho cháu những tháng ngày vất vả, chiến tranh vì:
- Những thứ đó là những dấu hiệu của sự lam lũ, vất vả, cực nhọc trong cuộc sống.
- Vì ông rất yêu thương cháu, mong cháu và thế hệ của cháu được sống cuộc sống hoà bình, ấm no, hạnh phúc.
Câu 4.
- Biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong bài thơ: bàn giao.
- Tác dụng:
+ Tạo liên kết, tạo nhịp điệu cho bài thơ; giúp cho sự diễn đạt trở nên sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn.
+ Nhấn mạnh những điều mà người ông muốn và không muốn bàn giao, trao gửi lại cho người cháu.
+ Qua đó, thể hiện tình cảm yêu thương, mong muốn tốt đẹp mà người ông - cũng là thế hệ đi trước dành cho người cháu - thế hệ sau.
Câu 5. HS viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ của bản thân, có thể theo hướng: Chúng ta cần có thái độ trước những điều thiêng liêng, quý giá mà cha ông ta bàn giao như sau:
- Biết ơn những gì thế hệ cha ông đã để lại cho mình.
- Trân trọng, tự hào về những điều đó.
- Có ý thức gìn giữ, bảo vệ những thứ đã được nhận bàn giao từ thế hệ trước.
- Cần cố gắng phát huy những gì đã được tiếp nhận để tiếp tục bàn giao cho những thế hệ mai sau.
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về vẻ đẹp của bức tranh quê trong đoạn thơ thuộc bài thơ Trăng hè. | 2.0 | |
| a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn: Đoạn văn 200 chữ. HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. | 0.25 |
| b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Cảm nhận về vẻ đẹp của bức tranh quê trong đoạn thơ thuộc bài thơ Trăng hè. | 0.25 |
| c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: - Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: * Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận. * Thân đoạn: Triển khai thành các luận điểm để phân tích, đánh giá: - Phông nền của bức tranh quê: Một đêm trăng nơi miền quê đồng bằng Bắc bộ (đêm vắng, ánh trăng ngân). - Vẻ đẹp của bức tranh quê: Hình ảnh thiên nhiên hòa quyện với hình ảnh con người (màu sắc lấp lánh của ánh trăng ngân, âm thanh tiếng võng kẽo kẹt,...). - Vẻ đẹp của bức tranh quê thanh tĩnh, bình dị, an lành, thân quen. - Vẻ đẹp của bức tranh quê đầy thơ mộng, gợi cảm (bóng cây lả lơi bên hàng dậu, tàu cau lấp lánh ánh trăng,...). * Kết đoạn: - Khẳng định vẻ đẹp của bức tranh quê: Bình dị, gần gũi; cảm nhận của nhà thơ tinh tế; tình cảm yêu thương, gắn bó; ngôn từ, hình ảnh, biện pháp tu từ đặc sắc... - Từ đó, bức tranh quê gợi lên trong lòng người đọc sự trân quý, có những phát hiện về vẻ đẹp của quê hương. |
1 | Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường. | |
| a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn: Đoạn văn 200 chữ. HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. | |
| b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường. | . |
| c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: - Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + Sức khỏe, chất lượng đời sống của con người được đảm bảo. + Hệ sinh thái được bảo vệ, cân bằng. + Góp phần giúp xã hội phát triển tốt đẹp. - Sắp xếp được hệ thống ý theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn. | 0.5 |
| d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Lựa chọn các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. | 0.5 |
| đ. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. | |
| e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
Câu 1
Trong cuộc sống, con người không chỉ tồn tại giữa đồng loại mà còn gắn bó mật thiết với muôn loài và thiên nhiên xung quanh. Vì vậy, việc biết yêu thương vạn vật là một phẩm chất cần thiết và đáng quý. Yêu thương vạn vật trước hết là thái độ trân trọng sự sống, từ cây cỏ, động vật đến môi trường tự nhiên. Khi con người biết yêu thương, chúng ta sẽ có ý thức bảo vệ thiên nhiên, không tàn phá môi trường và đối xử nhân ái với các loài vật. Điều đó không chỉ góp phần giữ gìn sự cân bằng sinh thái mà còn làm cho cuộc sống trở nên hài hòa, bền vững hơn. Hơn nữa, tình yêu thương vạn vật còn giúp nuôi dưỡng tâm hồn con người, khiến ta trở nên bao dung, nhân hậu và sống có trách nhiệm hơn. Ngược lại, nếu con người thờ ơ, tàn nhẫn với thiên nhiên và muôn loài, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng như ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và sự suy giảm đa dạng sinh học. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện ý thức yêu thương, bảo vệ vạn vật từ những hành động nhỏ nhất như chăm sóc cây xanh, bảo vệ động vật và sống thân thiện với môi trường. Đó cũng chính là cách để bảo vệ chính cuộc sống của chúng ta.
Câu 2
Đoạn thơ trong bài *Bên kia sông Đuống* của Hoàng Cầm đã khắc họa sâu sắc sự biến đổi đau thương của quê hương trước và sau chiến tranh. Qua đó, nhà thơ không chỉ bộc lộ tình yêu quê hương tha thiết mà còn thể hiện nỗi xót xa trước những mất mát mà chiến tranh gây ra.
Trước hết, quê hương hiện lên trong những dòng thơ đầu với vẻ đẹp thanh bình, giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Hình ảnh “lúa nếp thơm nồng” gợi nên một vùng quê trù phú, yên ả, nơi con người sống hòa hợp với thiên nhiên. Không chỉ có vẻ đẹp của đời sống lao động, quê hương còn hiện lên qua nét đẹp văn hóa truyền thống với “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”. Những bức tranh dân gian với màu sắc “sáng bừng trên giấy điệp” không chỉ là sản phẩm nghệ thuật mà còn là biểu tượng cho tâm hồn, bản sắc dân tộc Việt Nam. Tất cả tạo nên một bức tranh quê hương vừa bình dị, vừa tươi sáng, tràn đầy sức sống.
Thế nhưng, chiến tranh đã làm thay đổi tất cả. Chỉ với cụm từ “từ ngày khủng khiếp”, nhà thơ đã mở ra một hiện thực đầy đau thương và tàn khốc. Hình ảnh “giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn” gợi lên sự dữ dội của chiến tranh, khi kẻ thù tràn đến mang theo lửa đạn và sự hủy diệt. Những câu thơ ngắn, dồn dập như “ruộng ta khô / nhà ta cháy” đã khắc họa rõ nét cảnh tượng tan hoang của quê hương. Từng mái nhà, thửa ruộng – những gì gắn bó với đời sống người dân – đều bị phá hủy. Không chỉ dừng lại ở đó, hình ảnh “chó ngộ một đàn / lưỡi dài lê sắc máu” mang tính biểu tượng, gợi sự hung ác, tàn bạo của quân xâm lược.
Đặc biệt, sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại càng được thể hiện rõ nét qua hình ảnh những bức tranh Đông Hồ. Nếu trước đây là “gà lợn nét tươi trong”, “màu dân tộc sáng bừng” thì nay lại là cảnh “mẹ con đàn lợn âm dương / chia lìa trăm ngả”. Những hình ảnh vốn mang ý nghĩa sum vầy, hạnh phúc nay bị chia cắt, tan tác, như chính số phận của con người trong chiến tranh. Câu hỏi tu từ “bây giờ tan tác về đâu?” vang lên đầy xót xa, thể hiện nỗi đau mất mát và sự bế tắc trước hiện thực.
Nghệ thuật của đoạn thơ cũng góp phần làm nổi bật sự biến đổi ấy. Nhà thơ sử dụng nhiều hình ảnh đối lập, giọng điệu chuyển biến từ êm đềm sang đau thương, cùng với nhịp thơ dồn dập, gấp gáp ở phần sau đã tạo nên ấn tượng mạnh mẽ. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi, kết hợp với những hình ảnh mang tính biểu tượng, đã giúp người đọc cảm nhận sâu sắc nỗi đau của quê hương trong chiến tranh.
Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm không chỉ tái hiện một giai đoạn lịch sử đau thương mà còn thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng. Đồng thời, tác phẩm cũng là lời tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã tàn phá cuộc sống con người và những giá trị văn hóa tốt đẹp. Từ đó, đoạn thơ khơi dậy trong lòng người đọc ý thức trân trọng hòa bình và trách nhiệm bảo vệ quê hương, đất nước.
Tóm lại, bằng những hình ảnh giàu sức gợi và cảm xúc chân thành, đoạn thơ đã làm nổi bật sự biến đổi sâu sắc của quê hương trước và sau chiến tranh, qua đó thể hiện nỗi đau và tình yêu quê hương tha thiết của nhà thơ.
Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Nghị luận.
Câu 2 (0.5 điểm):
Nội dung chính: Con người vô tình trước những tổn thương do chính mình tạo ra cho thiên nhiên và người khác, nên đôi khi cũng cần phải đối diện với những tổn thương.
Câu 3 (1.0 điểm):
*Biện pháp tu từ có trong đoạn (7) là điệp cấu trúc: “Những...quen...”.
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh sự bao dung của thiên nhiên với con người.
+ Tạo nhịp điệu và tăng tính liên kết cho đoạn văn.
*Biện pháp tu từ có trong đoạn (7) là nhân hóa: mặt đất tha thứ, đại dương độ lượng, cánh rừng trầm mặc...
- Tác dụng:
+ Làm câu văn trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.
+ Cho thấy sự bao dung của vạn vật đối với con người.
Câu 4 (1.0 điểm):
Con người quá vô tư trước những tổn thương mà mình gây ra cho người khác, vậy nên bản thân chúng ta cũng cần phải bị thương để hiểu được làm đau người khác là làm đau chính mình. Lúc ấy, ta sẽ biết yêu thương, sẻ chia, hoà vào thế giới này bằng trái tim độ lượng.
Câu 5 (1.0 điểm):
- Bài học: Cần cẩn thận trong cách cư xử với người khác để tránh làm họ tổn thương.
- Ý nghĩa: Để làm được thế, cần chú tâm với những điều đang xảy ra trong cuộc sống, biết đặt mình vào vị trí của người khác.
Câu 1
Bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh thể hiện tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm cao và lối sống giản dị của người chiến sĩ cách mạng. Qua nhan đề “tự miễn”, tác giả đã bộc lộ thái độ chủ động từ chối những đặc quyền, ưu đãi dành cho bản thân. Điều đó không chỉ thể hiện đức tính khiêm nhường mà còn cho thấy sự nghiêm khắc với chính mình. Trong hoàn cảnh hoạt động cách mạng đầy khó khăn, việc “tự miễn” không phải là sự né tránh trách nhiệm mà ngược lại, là cách để giữ gìn phẩm chất trong sạch, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân. Giọng thơ ngắn gọn, súc tích nhưng giàu ý nghĩa, mang đậm phong cách Hồ Chí Minh: giản dị mà sâu sắc. Bài thơ gửi gắm thông điệp rằng mỗi người cần biết tự rèn luyện, tự kiểm điểm và không ngừng hoàn thiện bản thân. Qua đó, hình ảnh người lãnh tụ hiện lên không chỉ vĩ đại trong tư tưởng mà còn gần gũi, mẫu mực trong lối sống, trở thành tấm gương sáng cho mọi người noi theo.
Câu 2
Cuộc sống không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng, mà luôn đan xen những khó khăn và thử thách. Chính những thử thách ấy lại đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển con người. Vì vậy, hiểu đúng ý nghĩa của thử thách sẽ giúp chúng ta có thái độ tích cực hơn trước những biến cố của cuộc đời.
Trước hết, thử thách là cơ hội để con người rèn luyện bản lĩnh và ý chí. Khi đối mặt với khó khăn, con người buộc phải nỗ lực, kiên trì và tìm cách vượt qua. Chính quá trình ấy giúp ta trở nên mạnh mẽ, trưởng thành hơn. Nếu cuộc sống quá dễ dàng, con người dễ trở nên thụ động, yếu đuối và thiếu khả năng thích nghi. Như vậy, thử thách không phải là rào cản mà là “phép thử” để mỗi người khám phá giới hạn của bản thân.
Bên cạnh đó, thử thách còn giúp con người nhận ra giá trị của thành công. Những gì đạt được sau nhiều nỗ lực thường đáng trân trọng hơn rất nhiều so với thành công dễ dàng. Khi vượt qua khó khăn, ta không chỉ đạt được mục tiêu mà còn tích lũy được kinh nghiệm quý báu cho tương lai. Chính những lần vấp ngã và đứng dậy sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân, từ đó hoàn thiện mình từng ngày.
Không chỉ vậy, thử thách còn là động lực thúc đẩy sự sáng tạo và phát triển. Trong hoàn cảnh khó khăn, con người thường phải tìm ra những cách giải quyết mới mẻ, linh hoạt hơn. Nhiều phát minh, sáng kiến lớn trong lịch sử đã ra đời từ chính những hoàn cảnh đầy thử thách. Điều đó cho thấy thử thách không chỉ giúp cá nhân tiến bộ mà còn góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thái độ đúng đắn trước thử thách. Một số người dễ nản lòng, bỏ cuộc khi gặp khó khăn, từ đó đánh mất cơ hội phát triển bản thân. Ngược lại, cũng có người biết đối diện, chấp nhận và biến thử thách thành động lực vươn lên. Sự khác biệt này chính là yếu tố quyết định thành công hay thất bại của mỗi người.
Vì vậy, mỗi chúng ta cần rèn luyện cho mình tinh thần kiên trì, lạc quan và dũng cảm trước những thử thách. Thay vì sợ hãi hay né tránh, hãy coi đó là cơ hội để học hỏi và trưởng thành. Đồng thời, cần biết rút ra bài học từ những thất bại để không ngừng hoàn thiện bản thân.
Là học sinh, chúng ta thường gặp những thử thách trong học tập và cuộc sống như áp lực thi cử, khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức hay những vấn đề trong các mối quan hệ. Nếu biết vượt qua, đó sẽ là hành trang quý giá giúp chúng ta tự tin hơn trong tương lai.
Tóm lại, thử thách là một phần tất yếu của cuộc sống và mang ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển của con người. Chính nhờ những thử thách mà ta trở nên mạnh mẽ, trưởng thành và biết trân trọng những giá trị đạt được. Vì vậy, hãy đón nhận thử thách với tinh thần tích cực để biến chúng thành bước đệm cho thành công. chữ):
Cuộc sống không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng, mà luôn đan xen những khó khăn và thử thách. Chính những thử thách ấy lại đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển con người. Vì vậy, hiểu đúng ý nghĩa của thử thách sẽ giúp chúng ta có thái độ tích cực hơn trước những biến cố của cuộc đời.
Trước hết, thử thách là cơ hội để con người rèn luyện bản lĩnh và ý chí. Khi đối mặt với khó khăn, con người buộc phải nỗ lực, kiên trì và tìm cách vượt qua. Chính quá trình ấy giúp ta trở nên mạnh mẽ, trưởng thành hơn. Nếu cuộc sống quá dễ dàng, con người dễ trở nên thụ động, yếu đuối và thiếu khả năng thích nghi. Như vậy, thử thách không phải là rào cản mà là “phép thử” để mỗi người khám phá giới hạn của bản thân.
Bên cạnh đó, thử thách còn giúp con người nhận ra giá trị của thành công. Những gì đạt được sau nhiều nỗ lực thường đáng trân trọng hơn rất nhiều so với thành công dễ dàng. Khi vượt qua khó khăn, ta không chỉ đạt được mục tiêu mà còn tích lũy được kinh nghiệm quý báu cho tương lai. Chính những lần vấp ngã và đứng dậy sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân, từ đó hoàn thiện mình từng ngày.
Không chỉ vậy, thử thách còn là động lực thúc đẩy sự sáng tạo và phát triển. Trong hoàn cảnh khó khăn, con người thường phải tìm ra những cách giải quyết mới mẻ, linh hoạt hơn. Nhiều phát minh, sáng kiến lớn trong lịch sử đã ra đời từ chính những hoàn cảnh đầy thử thách. Điều đó cho thấy thử thách không chỉ giúp cá nhân tiến bộ mà còn góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thái độ đúng đắn trước thử thách. Một số người dễ nản lòng, bỏ cuộc khi gặp khó khăn, từ đó đánh mất cơ hội phát triển bản thân. Ngược lại, cũng có người biết đối diện, chấp nhận và biến thử thách thành động lực vươn lên. Sự khác biệt này chính là yếu tố quyết định thành công hay thất bại của mỗi người.
Vì vậy, mỗi chúng ta cần rèn luyện cho mình tinh thần kiên trì, lạc quan và dũng cảm trước những thử thách. Thay vì sợ hãi hay né tránh, hãy coi đó là cơ hội để học hỏi và trưởng thành. Đồng thời, cần biết rút ra bài học từ những thất bại để không ngừng hoàn thiện bản thân.
Là học sinh, chúng ta thường gặp những thử thách trong học tập và cuộc sống như áp lực thi cử, khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức hay những vấn đề trong các mối quan hệ. Nếu biết vượt qua, đó sẽ là hành trang quý giá giúp chúng ta tự tin hơn trong tương lai.
Tóm lại, thử thách là một phần tất yếu của cuộc sống và mang ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển của con người. Chính nhờ những thử thách mà ta trở nên mạnh mẽ, trưởng thành và biết trân trọng những giá trị đạt được. Vì vậy, hãy đón nhận thử thách với tinh thần tích cực để biến chúng thành bước đệm cho thành công.
Câu 1
- Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Biểu cảm.
Câu 2
Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt.
Câu 3
- Biện pháp tu từ có trong đoạn thơ là ẩn dụ:
Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
- Tác dụng:
+ Làm câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.
+ Cảnh đông tàn ẩn dụ cho những khó khăn thử thách, còn cảnh huy hoàng ngày xuân đại diện cho những vinh quang, những thành công.
Câu 4
- Đối với nhân vật trữ tình, tai ương trong bài thơ này là những gian nan, thử thách, là những chướng ngại vật để vượt qua, đồng thời là một cách rèn luyện tinh thần.
Câu 5
- Bài học: Không nản chí trước những khó khăn, trở ngại mà cần giữ vững tinh thần lạc quan để vượt qua.
- Ý nghĩa: Luôn cố gắng bình tĩnh và nỗ lực để có thể tìm đến một ngày mai tươi sáng hơn.
Câu 1
Bài thơ Ca sợi chỉ của Hồ Chí Minh là một tác phẩm ngắn gọn nhưng hàm chứa ý nghĩa sâu sắc về tinh thần đoàn kết. Hình ảnh “sợi chỉ” tuy nhỏ bé, mỏng manh nhưng khi nhiều sợi kết lại sẽ tạo thành sợi dây bền chắc, gợi liên tưởng đến sức mạnh của tập thể. Qua đó, tác giả muốn khẳng định rằng mỗi cá nhân, dù bình thường, nếu biết gắn bó, chung sức thì sẽ tạo nên sức mạnh to lớn. Giọng thơ giản dị, gần gũi như lời trò chuyện, dễ đi vào lòng người, thể hiện phong cách nghệ thuật đặc trưng của Hồ Chí Minh: mộc mạc mà giàu tính triết lí. Bài thơ không chỉ dừng lại ở hình ảnh cụ thể mà còn mang ý nghĩa khái quát: trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt là trong sự nghiệp đấu tranh và xây dựng đất nước, đoàn kết là yếu tố quyết định thành công. Từ đó, tác phẩm trở thành lời nhắc nhở mỗi người cần biết gắn bó, tương trợ lẫn nhau trong cuộc sống.
Câu 2
Trong cuộc sống, không ai có thể tồn tại và phát triển một cách đơn độc. Chính vì vậy, sự đoàn kết từ lâu đã trở thành một giá trị cốt lõi, là sức mạnh giúp con người vượt qua khó khăn và đạt tới thành công. Đoàn kết không chỉ là sự gắn bó giữa các cá nhân mà còn là sự đồng lòng, chung chí hướng vì một mục tiêu chung.
Trước hết, đoàn kết tạo nên sức mạnh to lớn. Một cá nhân dù tài giỏi đến đâu cũng có những giới hạn nhất định, nhưng khi nhiều người cùng chung tay, sức mạnh ấy sẽ được nhân lên gấp bội. Trong lịch sử, dân tộc ta đã nhiều lần chiến thắng những kẻ thù mạnh hơn nhờ tinh thần đoàn kết toàn dân. Từ đó có thể thấy, đoàn kết chính là chìa khóa giúp tập thể vượt qua thử thách, biến điều tưởng chừng không thể thành có thể.
Bên cạnh đó, đoàn kết còn giúp con người gắn bó, yêu thương và hỗ trợ lẫn nhau. Trong học tập và công việc, sự hợp tác giúp mọi người chia sẻ kinh nghiệm, bổ sung điểm mạnh cho nhau, từ đó nâng cao hiệu quả chung. Một tập thể đoàn kết sẽ tạo ra môi trường tích cực, nơi mỗi cá nhân được tôn trọng và phát huy năng lực. Ngược lại, nếu thiếu đoàn kết, con người dễ rơi vào chia rẽ, mâu thuẫn, làm suy yếu sức mạnh chung và dẫn đến thất bại.
Không chỉ vậy, đoàn kết còn là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh và bền vững. Khi con người biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, xã hội sẽ trở nên hài hòa, ổn định hơn. Những hành động nhỏ như giúp đỡ người khó khăn, hợp tác trong công việc hay cùng nhau bảo vệ môi trường đều là biểu hiện của tinh thần đoàn kết.
Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn còn không ít người sống ích kỉ, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân m
Câu 1
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Biểu cảm.
Câu 2
Nhân vật “tôi” trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ: Cái bông.
Câu 3
*Biện pháp tu từ có trong đoạn thơ là nhân hóa, sợi chỉ cũng có ý thức, có bạn bè:
Nhờ tôi có nhiều đồng bang,
Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.
- Tác dụng:
+ Làm câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.
+ Thể hiện rằng khi hợp lại, những sợi chỉ có thể có sức mạnh phi thường.
=> Tình đoàn kết.
*Biện pháp tu từ có trong đoạn thơ là so sánh:
Dệt nên tấm vải mỹ miều,
Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.
- Tác dụng:
+ Làm câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.
+ Nhấn mạnh vẻ đẹp và sự vững bền của tình đoàn kết.
Câu 4
- Đặc tính của sợi chỉ: Mỏng manh nhưng dẻo dai, có thể hợp lại với các sợi chỉ khác để tạo nên cái đẹp và sự bền vững.
- Sức mạnh chủ yếu của sợi chỉ nằm ở việc có thể kết hợp với các sợi chỉ khác để tạo nên một mảnh vải đẹp, đó là sức mạnh của sự đoàn kết.
Câu 5
- Bài học: Sức mạnh của tình đoàn kết tạo ra những thắng lợi vẻ vang.
- Ý nghĩa: Phải biết yêu đồng bào, yêu dân tộc, biết nhường nhịn và cùng nỗ lực để đạt đến thành công.
1 Trong bài thơ "Đất nước" của Bằng Việt, hình tượng đất nước được thể hiện với ý nghĩa sâu sắc, giàu cảm xúc, gắn liền với những trải nghiệm đời thường và ký ức cá nhân. Đất nước không hiện lên bằng những hình ảnh lớn lao, hùng tráng mà được cảm nhận qua những điều gần gũi, thân thương: mái nhà, con đường, dòng sông, những kỉ niệm gắn với tuổi thơ và cuộc sống của mỗi con người. Qua đó, đất nước trở thành một phần máu thịt, tồn tại trong suy nghĩ, cảm xúc và tâm hồn con người. Hình tượng đất nước trong thơ Bằng Việt còn mang ý nghĩa của sự kế thừa và tiếp nối, được bồi đắp qua bao thế hệ bằng tình yêu, sự hi sinh thầm lặng của nhân dân. Đất nước không chỉ là không gian sinh tồn mà còn là nơi lưu giữ truyền thống, văn hóa và những giá trị tinh thần bền vững. Từ cách cảm nhận ấy, tác giả gửi gắm thông điệp rằng mỗi con người đều có trách nhiệm gìn giữ, nâng niu và góp phần làm giàu đẹp thêm cho đất nước. Hình tượng đất nước vì thế vừa gần gũi, sâu lắng, vừa khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu quê hương tha thiết.
2
Lịch sử dân tộc là dòng chảy kết tinh từ bao biến cố, chiến công và hi sinh của con người qua các thời đại. Tuy nhiên, có một thực tế đáng suy ngẫm: nhiều người không thật sự xúc động trước những bài giảng lịch sử khô khan, nhưng lại rung động sâu sắc khi được biết đến những con người đã làm nên lịch sử. Ý kiến: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử” đã gợi ra một cách nhìn đúng đắn và nhân văn về việc cảm nhận lịch sử.
Trước hết, lịch sử trong sách vở hay bài giảng thường được trình bày bằng những mốc thời gian, sự kiện, con số, khái niệm mang tính khái quát. Nếu thiếu sự dẫn dắt cảm xúc, những kiến thức ấy dễ trở nên khô cứng, khó đi vào lòng người. Người học có thể ghi nhớ sự kiện, nhưng khó cảm nhận được nỗi đau, sự hi sinh hay khát vọng ẩn sau từng trang sử. Chính vì vậy, lịch sử thuần túy dưới dạng bài giảng đôi khi không đủ sức lay động cảm xúc con người.
Ngược lại, những con người làm nên lịch sử lại mang đến cảm xúc chân thực và sâu sắc. Đó là những anh hùng dân tộc sẵn sàng hi sinh vì độc lập, tự do; là những người mẹ tiễn con ra trận với trái tim thắt lại; là những con người vô danh đã ngã xuống để bảo vệ quê hương. Khi lịch sử được kể thông qua số phận con người, ta không chỉ “biết” mà còn “cảm” được lịch sử. Ta xúc động trước lòng yêu nước nồng nàn, sự dũng cảm phi thường và cả những mất mát, đau thương mà họ phải gánh chịu. Chính con người, với cảm xúc và số phận cụ thể, đã thổi hồn vào lịch sử, khiến lịch sử trở nên sống động và gần gũi.
Từ đó, ý kiến trên còn cho thấy vai trò quan trọng của cách tiếp cận lịch sử. Để lịch sử không bị lãng quên hay trở nên xa lạ, cần đặt con người vào vị trí trung tâm của việc kể và học lịch sử. Khi người học được tiếp cận lịch sử qua câu chuyện đời người, qua những hành động, lựa chọn và hi sinh cụ thể, họ sẽ hình thành sự đồng cảm, trân trọng và tự hào. Lịch sử lúc ấy không còn là quá khứ xa xôi mà trở thành bài học sống động cho hiện tại và tương lai.
Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng bài giảng lịch sử không phải là vô nghĩa. Vấn đề không nằm ở bản thân lịch sử, mà ở cách truyền tải. Một bài giảng lịch sử giàu cảm xúc, biết khơi gợi hình ảnh con người phía sau sự kiện, vẫn có thể lay động lòng người. Do đó, việc đổi mới cách dạy và học lịch sử, kết hợp giữa kiến thức và cảm xúc, giữa sự kiện và con người, là điều vô cùng cần thiết.
Đối với mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, việc cảm nhận lịch sử qua những con người làm nên lịch sử sẽ giúp nuôi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và ý thức gìn giữ những giá trị mà cha ông đã đánh đổi bằng máu xương. Khi biết xúc động trước con người trong lịch sử, ta cũng học được cách sống nhân ái, biết trân trọng hòa bình và độc lập hôm nay.
Tóm lại, ý kiến “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử” đã khẳng định vai trò trung tâm của con người trong lịch sử và trong cảm nhận lịch sử. Lịch sử chỉ thực sự sống khi được nhìn qua số phận và trái tim của con người – những người đã viết nên trang sử bằng chính cuộc đời mình.