NGUYỄN ĐỨC ANH
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Trong đoạn trích, diễn biến tâm lý của nhân vật Chi-hon được thể hiện tinh tế, có sự vận động rõ rệt theo chiều sâu cảm xúc. Ban đầu, Chi-hon xuất hiện với tâm trạng khá thờ ơ, khép kín, mang trong mình những tổn thương và khoảng trống nội tâm. Nhân vật dường như sống trong trạng thái lặng lẽ, ít bộc lộ cảm xúc, né tránh sự gắn bó với thế giới xung quanh. Tuy nhiên, trước những tác động từ hoàn cảnh và con người trong đoạn trích, tâm lý Chi-hon dần có sự thay đổi. Những ký ức, suy nghĩ và cảm xúc bị kìm nén bấy lâu bắt đầu trỗi dậy, khiến nhân vật rung động, suy ngẫm về bản thân và mối quan hệ với người khác. Đến cuối đoạn trích, Chi-hon không còn hoàn toàn dửng dưng mà đã có sự thức tỉnh trong tâm hồn: biết trân trọng tình cảm, biết hướng về những giá trị ấm áp của con người. Qua diễn biến tâm lý ấy, tác giả cho thấy hành trình внутрен nội tâm của con người: từ cô đơn, khép kín đến sự mở lòng, đồng cảm và nhân ái.
Câu 2
Trong cuộc đời mỗi con người, ký ức về những người thân yêu luôn giữ một vị trí đặc biệt và có ý nghĩa sâu sắc. Đó không chỉ là những kỷ niệm đã qua, mà còn là nguồn sức mạnh tinh thần nâng đỡ con người trên hành trình sống. Ký ức về những người thân yêu giúp chúng ta hiểu rõ hơn về chính mình, về nguồn cội và những giá trị bền vững của tình cảm con người.
Trước hết, ký ức về người thân là nơi lưu giữ yêu thương. Những hình ảnh về cha mẹ tảo tần, ông bà hiền hậu, hay những khoảnh khắc giản dị bên gia đình trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc mỗi khi con người đối diện với khó khăn. Trong những lúc mệt mỏi, thất bại hay cô đơn, chính những ký ức ấy giúp ta có thêm niềm tin để bước tiếp. Chỉ cần nhớ lại một ánh mắt lo lắng, một lời dặn dò quen thuộc, con người đã cảm thấy được an ủi và tiếp thêm nghị lực.
Bên cạnh đó, ký ức về người thân yêu còn giúp con người sống nhân ái và có trách nhiệm hơn. Khi nhớ về những hy sinh thầm lặng của người đi trước, ta biết trân trọng hiện tại và ý thức hơn về cách sống của mình. Những ký ức ấy nhắc nhở mỗi người không được sống vô tâm, ích kỷ, mà phải biết yêu thương, sẻ chia và giữ gìn các mối quan hệ gia đình. Đó cũng là nền tảng để con người hình thành nhân cách tốt đẹp.
Không chỉ vậy, ký ức còn giúp con người vượt qua mất mát. Khi những người thân yêu không còn bên cạnh, ký ức trở thành sợi dây gắn kết giữa quá khứ và hiện tại. Dù thời gian trôi qua, những kỷ niệm vẫn sống mãi trong tâm trí, giúp con người học cách chấp nhận, yêu thương và tiếp tục sống ý nghĩa hơn. Ký ức khi ấy không làm con người yếu đuối, mà khiến ta mạnh mẽ hơn bởi ta hiểu rằng tình yêu thương chưa bao giờ mất đi.
Tuy nhiên, con người cũng cần biết trân trọng hiện tại, tạo nên những ký ức đẹp khi còn có thể. Đừng để đến lúc mất đi mới nhận ra giá trị của những người thân yêu bên cạnh mình. Hãy yêu thương bằng hành động, quan tâm từ những điều nhỏ nhất, bởi chính hiện tại sẽ trở thành ký ức của ngày mai.
Tóm lại, ký ức về những người thân yêu có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc đời mỗi con người. Đó là nơi lưu giữ yêu thương, nuôi dưỡng tâm hồn và giúp con người sống tốt đẹp, nhân văn hơn. Ai biết trân trọng ký ức cũng chính là người biết trân trọng cuộc sống.
Câu 1:
Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba.
Người kể chuyện ẩn mình, gọi tên các nhân vật là "cô", "bố", "mẹ", "anh cả"... Tuy nhiên, điểm nhìn trần thuật chủ yếu đặt vào nhân vật "cô" (Chi-hon) để dẫn dắt cảm xúc và hồi ức.
Câu 2:
Điểm nhìn trần thuật chủ yếu là điểm nhìn của nhân vật Chi-hon (người con gái thứ ba).
Tác dụng: Giúp người đọc đi sâu vào thế giới nội tâm, những dòng hồi tưởng đầy ân hận và xót xa của người con khi mẹ bị lạc.
Câu 3:
- Biện pháp: Đối lập (tương phản).
- Chi tiết: Trong khi người mẹ bị lạc, bơ vơ tại ga tàu điện ngầm Seoul thì người con gái lại đang ở Bắc Kinh (Trung Quốc) tham dự triển lãm sách, tay cầm bản dịch cuốn sách của chính mình.
- Tác dụng: Nhấn mạnh sự vô tâm vô thức của những người con. Nó làm nổi bật sự xa cách về không gian và hoàn cảnh giữa sự thành đạt của con cái với sự khắc khổ, lạc lõng của người mẹ, từ đó khơi gợi nỗi đau xót và sự hối hận muộn màng.
Câu 4:
- Phẩm chất: Sự hy sinh thầm lặng, lòng vị tha và tình yêu thương con vô điều kiện (luôn dành những thứ tốt đẹp nhất cho con mà quên đi bản thân).
- Câu văn thể hiện: "Nếu là con thì mẹ đã thử cái váy này," mẹ cô lầm bầm. hoặc chi tiết mẹ chọn chiếc váy đẹp cho con dù bản thân vẫn đội chiếc khăn cũ kỹ lem nhem.
Câu 5:
- Sự hối tiếc của Chi-hon: Cô hối tiếc vì đã không hiểu mẹ, không dành thời gian quan tâm đến những mong ước nhỏ bé của mẹ, và nhất là sự vô tâm khi để mẹ già yếu tự xoay xở ở nơi đông đúc dẫn đến việc bị lạc.
- Đoạn văn:
Trong cuộc sống hối hả, đôi khi chúng ta vô tình để lại những vết thương lòng sâu sắc cho người thân bởi những hành động vô tâm. Sự thờ ơ, thiếu lắng nghe hay coi sự chăm sóc của cha mẹ là điều hiển nhiên chính là "nhát dao" làm tổn thương những người yêu thương ta nhất. Khi chúng ta mải mê theo đuổi những giá trị xa xôi bên ngoài, ta dễ dàng quên mất rằng thời gian của cha mẹ là hữu hạn. Đừng để đến khi "mẹ bị lạc" hay không còn bên cạnh mới bắt đầu hối tiếc về những lời quan tâm chưa nói. Hãy học cách trân trọng và chăm sóc người thân ngay từ những điều nhỏ bé nhất khi còn có.
Câu 1
Hình tượng đất nước trong văn bản Đất nước của Bằng Việt hiện lên vừa gần gũi, vừa thiêng liêng. Đó không phải là khái niệm trừu tượng mà là đất nước của đời sống con người, của những con đường, nhịp cầu, ngôi nhà đang dựng, của em bé đến lớp, cô gái may áo cưới. Đất nước còn được cảm nhận qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt, nơi nhân dân phải sống trong bom đạn, mất mát và hy sinh. Chính từ đau thương ấy, đất nước vẫn vươn lên với sức sống bền bỉ, mạnh mẽ. Đặc biệt, đất nước mang chiều sâu lịch sử, được làm nên bởi biết bao thế hệ đã ngã xuống để gìn giữ độc lập, tự do. “Vị ngọt” của hôm nay là kết tinh từ mồ hôi, nước mắt và máu xương của cha ông. Qua hình tượng đất nước, tác giả bày tỏ lòng yêu nước sâu sắc, niềm tự hào dân tộc và nhắc nhở thế hệ hôm nay phải biết trân trọng quá khứ, sống có trách nhiệm với hiện tại và tương lai của Tổ quốc.
Câu 2
Lịch sử không chỉ là những con số khô khan hay những bài giảng dài trong sách vở. Lịch sử thực sự trở nên sống động và lay động lòng người khi ta nhận ra phía sau mỗi trang sử là những con người bằng xương bằng thịt. Bởi vậy, ý kiến: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử” là một nhận định sâu sắc và đầy nhân văn.
Thực tế cho thấy, nhiều người cảm thấy lịch sử khó nhớ, khô khan vì nó thường được trình bày bằng sự kiện, mốc thời gian. Tuy nhiên, khi lịch sử được kể qua số phận con người, qua những câu chuyện về sự hy sinh, lòng dũng cảm và khát vọng sống, nó trở nên gần gũi và chạm đến trái tim. Ta không chỉ nhớ một chiến thắng, mà nhớ những con người đã ngã xuống để làm nên chiến thắng ấy. Ta không chỉ nhớ ngày đất nước giành độc lập, mà còn xúc động trước hình ảnh những con người sẵn sàng hiến dâng cả tuổi trẻ và mạng sống cho Tổ quốc.
Những người làm nên lịch sử có thể là các anh hùng dân tộc, các chiến sĩ nơi chiến trường, cũng có thể là những bà mẹ tiễn con ra trận, những người dân âm thầm chịu đựng gian khổ trong bom đạn. Chính họ đã biến lịch sử từ trang sách thành cuộc sống. Sự xúc động của chúng ta xuất phát từ sự đồng cảm: đồng cảm với nỗi đau mất mát, với ý chí kiên cường và niềm tin vào ngày mai. Khi hiểu được con người trong lịch sử, ta mới thực sự hiểu giá trị của hòa bình, độc lập hôm nay.
Ý kiến trên cũng nhắc nhở mỗi chúng ta về cách học và nhìn nhận lịch sử. Học lịch sử không chỉ để ghi nhớ sự kiện mà để hiểu con người, hiểu những giá trị nhân văn mà lịch sử để lại. Từ đó, lịch sử không còn là quá khứ xa xôi mà trở thành bài học cho hiện tại và tương lai. Mỗi thế hệ hôm nay cần sống sao cho xứng đáng với những hy sinh của thế hệ đi trước.
Bản thân mỗi người trẻ cần biết trân trọng lịch sử bằng những hành động thiết thực: học tập tốt, sống có trách nhiệm, yêu nước từ những việc nhỏ nhất. Khi ta biết xúc động trước những con người làm nên lịch sử, ta cũng đang nuôi dưỡng trong mình lòng biết ơn và ý thức xây dựng đất nước. Lịch sử vì thế không chỉ được ghi nhớ, mà còn được tiếp nối bằng chính cuộc sống của chúng ta hôm nay.
Câu 1.
Dấu hiệu xác định thể thơ tự do:
- Số chữ trong mỗi dòng không đều.
- Không gò bó vần, nhịp linh hoạt.
- Câu thơ dài ngắn khác nhau, phù hợp diễn đạt cảm xúc, suy nghĩ.
Câu 2.
Đoạn thơ thể hiện cảm xúc yêu nước sâu nặng, tự hào, xúc động trước:
- Sự hy sinh, gian khổ của nhân dân trong chiến tranh.
- Sức sống bền bỉ, niềm tin vào tương lai hòa bình của đất nước.
Câu 3.
Biện pháp tu từ nổi bật: điệp từ “mỗi”, “đều”.
→ Tác dụng:
- Nhấn mạnh sự phổ biến, rộng khắp của chiến tranh và hậu quả bom đạn.
- Đồng thời làm nổi bật sức sống, sự trưởng thành, niềm vui hồi sinh của con người trong gian khổ, qua đó ca ngợi ý chí và tinh thần dân tộc.
Câu 4.
- “Vị ngọt” là hạnh phúc của hòa bình, độc lập, cuộc sống yên bình hôm nay.
- Vị ngọt ấy có được từ sự hy sinh, mất mát, đau thương của các thế hệ đi trước, đặc biệt từ Cách mạng Tháng Tám và những năm kháng chiến.
Câu 5.
Lòng yêu nước có ý nghĩa:
- Là sự biết ơn quá khứ, trân trọng những hy sinh của cha ông.
- Là ý thức giữ gìn, xây dựng đất nước trong hiện tại bằng học tập, lao động tốt.
- Là trách nhiệm của mỗi người để xứng đáng với những gì đất nước đã trải qua.
Câu 1:
- Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là nghị luận.
Câu 2:
- Đoạn (5) chủ yếu sử dụng thao tác lập luận phân tích (kết hợp so sánh – đối chiếu).
- Tác dụng: làm rõ sự thiếu hụt nghiêm trọng trong nhận thức và trách nhiệm của người lớn đối với đời sống tâm hồn trẻ em, từ đó gợi lên sự trăn trở, cảnh tỉnh người đọc.
Câu 3:
- Tác giả cho rằng “chúng ta thực sự là những kẻ nghèo đói” vì:
+ Con người đã lãng quên những giấc mơ của chính mình, đánh mất đời sống tinh thần phong phú.
+ Khi “xoè bàn tay tâm hồn”, không còn “hạt giống nào của giấc mơ”, tức là không còn lý tưởng, niềm tin, khát vọng.
+ Đó là sự nghèo đói về tinh thần, nguy hiểm và đáng lo hơn cả sự nghèo đói vật chất.
Câu 4:
- Một số cách khả thi để chữa chạy cho “những cơn đau ốm tâm hồn” là:
+ Quan tâm, lắng nghe và thấu hiểu cảm xúc, suy nghĩ của trẻ em và con người nói chung.
+ Nuôi dưỡng ước mơ, khát vọng sống, giúp mỗi người được quyền mơ ước và theo đuổi đam mê.
+ Giáo dục cảm xúc, nhân cách bên cạnh giáo dục tri thức.
+ Tạo môi trường sống yêu thương, an toàn, giàu sự sẻ chia trong gia đình và xã hội.
+ Khuyến khích con người sống chậm lại, kết nối với chính mình và với người khác.
Câu 1:
- Bài thơ viết theo thể thơ tự do
Câu 2:
- Bài thơ thể hiện nỗi lo âu, sợ hãi, bất an xen lẫn yêu thương tha thiết của nhân vật trữ tình trước sự mong manh của hạnh phúc và những đổi thay khó lường của thời gian, cuộc đời và tình yêu. Đó là nỗi sợ mất mát, sợ lời hứa phai mờ, sợ con người và cảm xúc không còn như thuở ban đầu.
Câu 3:
- Trong đoạn thơ, tác giả sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ qua hình ảnh “mưa”:
" Hạnh phúc con người mong manh mưa sa "
- Tác dụng:
+ Thể hiện những biến cố, thử thách, đổi thay của cuộc đời.
+ Gợi tả sâu sắc cảm giác bất an, lo sợ của con người trước những rạn vỡ có thể xảy đến bất cứ lúc nào.
+ Làm tăng chiều sâu triết lí và cảm xúc cho bài thơ.
Câu 4:
- Khi đối diện với một tương lai nhiều điều chưa biết, con người cần giữ cho mình niềm tin, sự bình tĩnh và bản lĩnh sống. Thay vì lo sợ hay bi quan, ta nên học cách trân trọng hiện tại, yêu thương chân thành và sống có trách nhiệm với những gì mình đang có. Đồng thời, con người cũng cần chuẩn bị tâm thế sẵn sàng thích nghi với những thay đổi, bởi chính thái độ sống tích cực sẽ giúp ta vượt qua bất trắc và gìn giữ những giá trị bền vững trong cuộc đời.
Câu 1: Văn bản được kể theo ngôi thứ ba
Câu 2:
- Điểm nhìn hạn tri
Tác dụng:
+ Giúp người đọc hiểu sâu sắc bi kịch tinh thần, sự day dứt, đau đớn trong tâm hồn Thứ.
+ Làm nổi bật tấm lòng nhân ái, ý thức trách nhiệm và nỗi bất lực của nhân vật trước cảnh nghèo đói.
+ Tăng tính chân thực, sức lay động và chiều sâu nhân đạo cho tác phẩm.
Câu 3:
- Nước mắt Thứ ứa ra vì:
+ Y thương xót sâu sắc cho bà già, cha mẹ, vợ con và các em đang đói khổ.
+ Y cảm thấy day dứt, xấu hổ và đau đớn khi mình là người được ăn, trong khi những người thân yêu nhất lại phải nhịn đói.
+ Y muốn nhường phần ăn của mình cho người khác nhưng không thể làm được, rơi vào bi kịch tinh thần, khiến miếng cơm trở nên nghẹn ngào, tủi cực.
Câu 4:
- Thông qua nhân vật ông giáo Thứ, Nam Cao đã:
+ Phản ánh cuộc sống nghèo đói, bế tắc của tầng lớp trí thức tiểu tư sản trong xã hội cũ.
+ Thể hiện bi kịch tinh thần của con người lương thiện: giàu lòng yêu thương, có ý thức đạo đức nhưng bất lực trước hoàn cảnh khắc nghiệt.
+ Gửi gắm giá trị nhân đạo sâu sắc, cảm thương cho số phận con người bị cái nghèo làm cho “sống mòn”, bào mòn cả thể xác lẫn tinh thần.
a) Cường độ dòng điện là đại lượng đặc trưng cho tác dụng mạnh, yếu của dòng điện.
- Công thức: I = ∆q : ∆t
∆q = I.∆t = 3.2 = 6 ( C )
b) Cường độ dòng điện được dùng để đánh giá mức độ mạnh yếu của dòng điện trong mạch vì nó thể hiện lượng điện tích chuyển qua tiết diện của dây dẫn trong một đơn vị thời gian.