ĐINH PHƯƠNG ANH
Giới thiệu về bản thân
Từ thời vua Ra-ma IV, Xiêm đã chủ trương mở cửa buôn bán với bên ngoài, lợi dụng sự kiềm chế lẫn nhau giữa các nước tư bản để bảo vệ nền độc lập của đất nước. Đến thời vua Ra-ma V cũng đã tiếp nối chính sách này bằng cách khuyến khích tư nhân bỏ vốn ra kinh doanh công thương nghiệp, mở hiệu buôn bán và ngân hàng. Đồng thời thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo để gìn giữ độc lập trong bối cảnh các nước Đông Nam Á khác đã bị các nước thực dân phương Tây xâm lược và đô hộ.
1. Brunei: Tái thiết và phát triển: Sau khi giành độc lập từ Anh vào năm 1984, Brunei tập trung vào phát triển kinh tế dựa vào dầu mỏ và khí đốt. Quản lý tốt nguồn tài nguyên thiên nhiên giúp Brunei trở thành một trong những quốc gia giàu có nhất thế giới. Chính phủ Brunei duy trì sự ổn định chính trị và đầu tư mạnh mẽ vào các cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội. 2. Myanmar (Mi-an-ma): Tái thiết và phát triển: Sau khi giành độc lập từ Anh vào năm 1948, Mi-an-ma đối mặt với nhiều khó khăn do các cuộc xung đột nội bộ và quân sự. Năm 1962, quân đội đảo chính và thiết lập chế độ độc tài. Quá trình phát triển bị đình trệ và nền kinh tế gặp nhiều khó khăn. Mặc dù đã có những cải cách dân chủ vào cuối những năm 2000, nhưng Mi-an-ma vẫn phải đối mặt với các vấn đề chính trị và xung đột sắc tộc. 3. Timor-Leste (Đông Ti-mo): Tái thiết và phát triển: Sau khi giành độc lập từ Bồ Đào Nha vào năm 1975 và sau đó là sự chiếm đóng của Indonesia, Đông Ti-mo đã giành lại độc lập vào năm 2002. Tái thiết đất nước gặp rất nhiều khó khăn do chiến tranh kéo dài. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ quốc tế, đất nước đã tiến hành các cải cách và xây dựng lại nền kinh tế dựa vào dầu mỏ và khí đốt. Tình hình chính trị đã ổn định hơn nhưng vẫn cần tiếp tục phát triển cơ sở hạ tầng và cải thiện đời sống nhân dân.
Mặc dù có những tổn thất và hạn chế, song ý nghĩa của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân năm 1968 vẫn hết sức to lớn, đã làm lung lay ý chí xâm lược của quân Mĩ. Buộc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa” chiến tranh xâm lược (tức là thừa nhận thất bại của chiến lược Chiến tranh cục bộ, chấp dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấm nhận đến đàm phám ở Pari để bàn về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.
Một vài ví dụ về dấu ấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới:
+ Thủ đô Mát-xcơ-va, các thành phố U-li-a-nốp-xcơ, Xanh-Pê-téc-bua và nhiều nơi khác ở Liên bang Nga có quảng trường, tượng đài, nhà lưu niệm... mang tên Hồ Chí Minh;
+ Thành phố Quảng Châu (Trung Quốc) có Di tích lưu niệm Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh;
+ Thủ đô Mê-hi-cô (Mê-hi-cô) có tượng đài Hồ Chí Minh cùng dòng chữ “Tự do cho các dân tộc";
+ Thủ đô của các nước Cu-ba, Mô-dăm-bích, Ăng-gô-la và nhiều nơi khác có tượng đài hoặc đường phố mang tên Hồ Chí Minh,…
+ Tại một số quốc gia, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đến và hoạt động đều có những công trình di tích tưởng niệm như: Khách sạn Ca-tơn (Anh) - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc và hoạt động cuối năm 1913; Nhà số 9, Thủ đô Pa-ri (Pháp) - nơi Người ở và hoạt động cách mạng những năm 1921 - 1923; Nhà số 248 và 250 (trước là nhà số 13 và 13/1) đường Văn Minh, thành phố Quảng Châu (Trung Quốc) - nơi Hồ Chí Minh mở các lớp đào tạo cán bộ (1925 - 1927); Khu di tích Hồ Chí Minh tại Liễu Châu, Quảng Tây (Trung Quốc), ...
Câu 1 : * Thành tựu về thiết chế chính trị :
- Các vương triều Đinh - Tiền Lê đã tiếp thu mô hình thiết chế chính trị quân chủ trung ương tập quyền của phong kiến Trung Quốc. Thiết chế đó ngày càng được hoàn thiện qua các triều đại Lý - Trần và đạt đến đỉnh cao dưới triều Lê sơ.
+ Hoàng đế đứng đầu chính quyền trung ương, có quyền quyết định mọi công việc+ Giúp việc cho hoàng đế có các cơ quan và hệ thống quan lại.
+ Chính quyền địa phương được chia thành các cấp quản lí, mỗi cấp đều sắp đặt các chức quan cai quản.
- Trong tiến trình phát triển, các triều đại quần chủ có đặt ra yêu cầu cải cách. Tiêu biểu là cải cách Hồ Quý Ly (cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XV), cải cách Lê Thánh Tông (cuối thế kỉ XV), cải cách Minh Mạng (đầu thế kỉ XIX).
* Thành tựu về pháp luật
- Các vương triều Đại Việt chú trọng xây dựng luật pháp.
- Các bộ luật như:
+ Hình thư thời Lý
+ Hình luật thời Trần
+ Quốc triều hình luật thời Lê
+ Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn.
Câu 2 : - Nông nghiệp là ngành kinh tế giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Sự phát triển của nông nghiệp góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các nghề thủ công nghiệp và thương nghiệp
- Nông nghiệp phát triển, đời sống nhân dân ấm no, sung túc sẽ góp phần ổn định an ninh, trật tự xã hội (thực tế lịch sử cho thấy, thường vào cuối thời kì cai trị của các vương triều phong kiến, nhà nước không quan tâm đến phát triển nông nghiệp khiến sản xuất sụt giảm, mất mùa, nạn đói diễn ra. Đời sống cực khổ, đã khiến nông dân nổi dậy đấu tranh).
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng là một trong những nhân tố có ảnh hưởng sâu đập đến đời sống văn hóa của cư dân Đại Việt (ví dụ: người dân sáng tác ra nhiều câu ca dao, dân ca về lao động sản xuất…)
Câu 1: - Về hệ thống giáo dục:
+ Năm 1070, nhà Lý cho dựng Văn Miếu, tạc tượng Chu Công, Khổng Tử. Năm 1075, triều đình mở khoa thi đầu tiên để tuyển chọn nhân tài, Năm 1076, vua Lý cho mở Quốc Tử Giám để dạy học cho hoàng tử, công chúa.
+ Từ thời Trần, triều đình lập Quốc học viện cho con em quan lại học tập. Các lớp học tư nhân ở các làng xã cũng được mở ra.
+ Từ thời Lê sơ, hệ thống trường học mở rộng trên cả nước; nhà nước tăng cường khuyến khích nhân dân học tập, tiêu biểu như việc ban Chiểu khuyến học thời Tây Sơn.
- Về phương thức thi cử, tuyển chọn quan lại:
+ Nhà nước chính quy hoá việc thi cử để tuyển chọn người tài
+ Thể lệ thi cử được quy định chặt chẽ, các kì thi được tổ chức chính quy, hệ thống (thi Hương, thi Hội, thi Đình),
Câu 2 :Văn Miếu là nơi thờ Khổng Tử. Quốc Tử Giám được coi là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam; nơi đầy đã đạo tạo nên nhiều nhân tài cho quốc gia Đại Việt.