DƯƠNG NHƯ NGỌC

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của DƯƠNG NHƯ NGỌC
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

a. Việc anh H viết đơn kiến nghị được coi là thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội của công dân vì:


  • Anh H đã chủ động bày tỏ ý kiến và nguyện vọng của mình về một vấn đề chung của cộng đồng (tình trạng rác thải trong khu phố).
  • Anh gửi kiến nghị tới chính quyền địa phương, tức là cơ quan có trách nhiệm quản lý và giải quyết vấn đề xã hội.
  • Những đề xuất như xây thêm điểm thu gom rác và tuyên truyền ý thức cho người dân là góp ý vào việc xây dựng chính sách, biện pháp quản lý, giúp chính quyền cải thiện môi trường sống.
    → Vì vậy, hành động này thể hiện công dân tham gia vào việc quản lý các vấn đề chung của xã hội.



b. Để quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân được đảm bảo, chính quyền địa phương cần:

Tiếp nhận và xem xét nghiêm túc đơn kiến nghị của anh H.

Phản hồi kết quả giải quyết cho công dân biết

Khảo sát thực tế tình trạng rác thải tại khu phố.

Nếu kiến nghị hợp lý thì triển khai các biện pháp như xây dựng thêm điểm thu gom rác, tổ chức tuyên truyền bảo vệ môi trường.

Tạo điều kiện để người dân tiếp tục đóng góp ý kiến, tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường và quản lý địa phương.




Việc anh K mở công ty tại tỉnh E là thực hiện quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực kinh tế

Quyền tự do kinh doanh: Mọi công dân đều có quyền lựa chọn ngành nghề, hình thức và địa điểm kinh doanh phù hợp với năng lực và pháp luật.

Bình đẳng về cơ hội: Anh K và các chủ doanh nghiệp khác đều có cơ hội như nhau trong việc tìm kiếm đối tác và thu hút vốn. Việc anh K tận dụng được nguồn vốn nước ngoài là kết quả của năng lực cá nhân và sự chủ động, không phải là sự bất bình đẳng.

Cạnh tranh lành mạnh: Việc các doanh nghiệp cũ hoạt động theo lối mòn và cảm thấy "bất công" thực chất là sự tụt hậu về công nghệ trước sự đổi mới của anh K. Pháp luật bảo hộ quyền được phát triển dựa trên sự sáng tạo và nguồn lực hợp pháp.


a. Cơ năng của vật dao động điều hòa là: 

\(W = \frac{1}{2} m \omega^{2} A^{2} = \frac{1}{2} . 2. 5^{2} . 0 , 0 8^{2} = 0 , 16\) J

Khi vật có li độ \(x = 4\) cm hay \(x = \frac{A}{2}\) thì thế năng của vật là:

\(W_{t} = \frac{1}{2} m \omega^{2} x^{2} = \frac{1}{2} m \omega^{2} . \left(\left(\right. \frac{A}{2} \left.\right)\right)^{2} = \frac{1}{4} W = \frac{1}{4} . 0 , 16 = 0 , 04\) J

Động năng của vật là:

\(W_{đ} = W - W_{t} = 0 , 16 - 0 , 04 = 0 , 12\) J

b. Thế năng bằng động năng nên ta có:

\(W_{t} = \frac{W}{2} \Rightarrow \frac{1}{2} m \omega^{2} x^{2} = \frac{1}{2} . \frac{1}{2} m \omega^{2} A^{2}\)

\(\Rightarrow x = \pm \frac{A}{\sqrt{2}} .\)

a. Dựa vào đồ thị ta có:

Chu kì \(T = 2 s\), suy ra tần số góc \(\omega = \frac{2 \pi}{T} = \frac{2 \pi}{2} = \pi\) rad/s

Vận tốc cực đại của dao động: \(\text{v}_{m a x} = \omega A\)

\(\Rightarrow A = \frac{\text{v}_{m a x}}{\omega} = \frac{4}{\pi}\) cm

Thời điểm \(t = 0\), vật có \(\text{v} = \text{v}_{m a x}\), suy ra vật ở VTCB và \(\text{v} > 0\)

Khi đó: \(x = 0 \Rightarrow cos ⁡ \varphi = 0 \Rightarrow \varphi = - \frac{\pi}{2}\)

Phương trình của vận tốc có dạng: \(\text{v} = \omega A cos ⁡ \left(\right. \omega t + \varphi + \frac{\pi}{2} \left.\right)\)

\(\Rightarrow \text{v} = 4 cos ⁡ \left(\right. \pi t - \frac{\pi}{2} + \frac{\pi}{2} \left.\right) = 4 cos ⁡ \left(\right. \pi t \left.\right)\) (cm/s)

b. Phương trình dao động điều hòa có dạng: \(x = A cos ⁡ \left(\right. \omega t + \varphi \left.\right)\)

\(\Rightarrow x = \frac{4}{\pi} cos ⁡ \left(\right. \pi t - \frac{\pi}{2} \left.\right)\) (cm)

Phương trình của gia tốc có dạng: \(a = \omega^{2} A cos ⁡ \left(\right. \omega t + \varphi + \pi \left.\right)\)

\(\Rightarrow a = \pi^{2} . \frac{4}{\pi} cos ⁡ \left(\right. \pi t - \frac{\pi}{2} + \pi \left.\right) = 4 \pi cos ⁡ \left(\right. \pi t + \frac{\pi}{2} \left.\right)\) (cm/s2)


Từ phương trình \(x = 5 sin ⁡ \left(\right. 2 \pi t + \frac{\pi}{6} \left.\right)\) (cm) 


\(\Rightarrow A = 5\) cm; \(\omega = 2 \pi\) rad/s

Ta có: \(\text{v} = x^{'} = \omega A cos ⁡ \left(\right. \omega t + \varphi \left.\right) = 2 \pi . 5. cos ⁡ \left(\right. 2 \pi t + \frac{\pi}{6} \left.\right) = 10 \pi cos ⁡ \left(\right. 2 \pi t + \frac{\pi}{6} \left.\right)\) cm/s

a. Ở thời điểm \(t = 5\) s

Ta có: \(x = 5 sin ⁡ \left(\right. 2 \pi . 5 + \frac{\pi}{6} \left.\right) = 2 , 5\) cm

\(\text{v} = 10 \pi cos ⁡ \left(\right. 2 \pi . 5 + \frac{\pi}{6} \left.\right) = 5 \sqrt{30}\) cm/s

\(a = - \omega^{2} x = - \left(\left(\right. 2 \pi \left.\right)\right)^{2} . 2 , 5 = - 100\) cm/s2

b. Khi pha dao động là 120o.

\(x = 5 sin ⁡ 12 0^{o} = 2 , 5 \sqrt{3}\) cm

\(v = 10 \pi cos ⁡ 12 0^{o} = - 5 \pi\) cm/s

\(a = - \omega^{2} x = - 4 \pi^{2} . 2 , 5 \sqrt{3} = - \sqrt{3}\)

Biên độ dao động: \(A = L : 2 = 12 : 2 = 6\) cm


Chu kì là thời gian vật thực hiện được 1 dao động toàn phần, ta có: \(T = \frac{t}{n} = \frac{62 , 8}{20} = 3 , 14\) s

Tần số góc của vật: \(\omega = \frac{2 \pi}{T} = \frac{2 \pi}{3 , 14} = 2\) rad/s

Ta có công thức: 

\(A^{2} = x^{2} + \frac{v^{2}}{\omega^{2}} \Rightarrow 6^{2} = \left(\left(\right. - 2 \left.\right)\right)^{2} + \frac{v^{2}}{2^{2}}\)

\(\Rightarrow v = \pm 8 \sqrt{2}\)

Mà khi đó vật có li độ \(x\) = -2 cm theo chiều hướng về vị trí cân bằng, tức vật đang chuyển động theo chiều dương \(\Rightarrow v = 8 \sqrt{2}\) cm/s.

Gia tốc của vật: \(a = - \omega^{2} x = - 2^{2} . \left(\right. - 2 \left.\right) = 8\) cm/s2

Chu kì dao động của vật \(T\) = 4s


 Vậy tần số góc của dao động là:

\(\omega = \frac{2 \pi}{T} = \frac{2 \pi}{4} = \frac{\pi}{2}\) rad/s

Trong 6 s vật đi được quãng đường 48 cm, ta có:

\(\frac{t}{T} = \frac{6}{4} = \frac{3}{2} \Rightarrow t = T + \frac{T}{2}\)

\(\Rightarrow S = 4 A + 2 A = 6 A = 48 c m \Rightarrow A = 8\) cm

Khi \(t\) = 0 vật đi qua vị trí cân bằng và \(v < 0\)

\(x = A cos ⁡ \varphi_{1} \Rightarrow cos ⁡ \varphi_{1} = 0 \Rightarrow \varphi_{1} = \pm \frac{\pi}{2}\)

\(v = - A s i n \varphi_{1} < 0 \Rightarrow \varphi_{1} = \frac{\pi}{2}\) 

Vậy phương trình dao động của vật là:

\(x = 8 cos ⁡ \left(\right. \frac{\pi}{2} t + \frac{\pi}{2} \left.\right)\) (cm).

Câu 1:


Sự kiên trì và nỗ lực sau mỗi lần vấp ngã chính là chìa khóa mở cánh cửa thành công. Trong hành trình của cuộc sống, không ai tránh khỏi những thất bại, tổn thương hay mất mát. Nhưng chính cách ta đối diện và vượt qua nghịch cảnh mới là điều quyết định giá trị con người. Mỗi lần vấp ngã không phải là dấu chấm hết, mà là cơ hội để nhìn lại, học hỏi và trưởng thành hơn. Người kiên trì là người không bỏ cuộc, dù bao lần gục ngã vẫn mạnh mẽ đứng lên, tiếp tục bước đi bằng tất cả ý chí và niềm tin. Thành công không dành cho kẻ dễ dàng buông xuôi, mà thuộc về những ai dám đi đến cùng con đường mình đã chọn. Như Thomas Edison từng nói: "Tôi không thất bại, tôi chỉ tìm ra 10.000 cách không hiệu quả." Những vĩ nhân, những người thành công đều từng trải qua vô số lần vấp ngã – và chính sự bền bỉ đã làm nên kỳ tích. Vì thế, mỗi chúng ta cần trân trọng thất bại, xem nó là bài học, là động lực để không ngừng nỗ lực và vươn lên.

Câu 2:

*Bảo kính cảnh giới (Bài 33)* của Nguyễn Trãi là một thi phẩm tiêu biểu thể hiện tư tưởng sống ẩn dật, thanh cao và nhân cách lớn của bậc đại nho giữa thời cuộc đầy biến động. Không chỉ là một bài thơ giàu chất triết lý, nó còn là tiếng lòng sâu lắng của một con người từng trải, từng làm quan lớn nhưng sau cùng lại chọn lối sống an nhàn, hòa mình vào thiên nhiên để giữ trọn đạo lý và khí tiết.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Trãi khẳng định sự thoát ly vòng danh lợi với hình ảnh “ngại vượt bể triều quan”. Chữ “ngại” ở đây không chỉ là tâm thế chối bỏ mà còn hàm ý phản tỉnh, thể hiện cái nhìn sâu sắc của ông về chốn quan trường nhiều thị phi, giả dối. Ông lựa chọn “miễn phận an” – tức sống thuận theo thời thế, giữ lòng thanh thản, không tranh đua. Cảnh sống ẩn dật được phác họa bằng những chi tiết tinh tế: “Hé cửa đêm chờ hương quế lọt / Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan” – vừa có vẻ đẹp của thiên nhiên, vừa gợi sự cô tịch, thanh nhàn, phản ánh một tâm hồn ung dung và tinh tế. Đây không chỉ là sự trốn tránh thời cuộc mà còn là lựa chọn sống có lý tưởng, có phẩm hạnh.

Bốn câu cuối khẳng định chí khí và tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi. Dù không được dùng như Y Doãn, Phó Duyệt – những hiền tài được trọng dụng – ông vẫn kiên định giữ vững đạo làm người theo gương Khổng Tử, Nhan Tử. Ông không hề bi quan, mà ngược lại, tự hào với lối sống riêng, lấy “nhàn” làm lý tưởng: “Ngâm câu: danh lợi bất như nhàn”. Đây là một tuyên ngôn sống của nhà nho ẩn sĩ, phản ánh nhân sinh quan sâu sắc và bản lĩnh kiên cường.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thất ngôn bát cú Đường luật, với ngôn ngữ giản dị, gần gũi, kết hợp hình ảnh thiên nhiên và triết lý nhân sinh. Lối đối ngẫu cân xứng, nhịp thơ chững chạc thể hiện sự hài hòa giữa cảnh và tình, giữa lý trí và cảm xúc. Cách nói giàu ẩn dụ và chiều sâu suy tưởng khiến bài thơ vượt lên trên khuôn khổ thông thường, trở thành một áng văn chương giàu giá trị tư tưởng.

Tóm lại, *Bảo kính cảnh giới (Bài 33)* không chỉ là lời tự sự của một trí sĩ lánh đời mà còn là biểu tượng của khí phách và nhân cách Nguyễn Trãi. Qua bài thơ, ta thêm trân trọng một con người “tâm lớn, chí cao”, dám sống đúng với lý tưởng và phẩm giá của mình giữa thời thế đảo điên. Đây là giá trị vượt thời gian khiến bài thơ sống mãi trong lòng người đọc hôm nay.

Câu 1: kiểu văn bản: văn bản thông tin

Câu 2: phương thức biểu đạt chính: thuyết minh

Câu3: - Đây là một nhan đề rõ ràng, ngắn gọn ,súc tích thể hiện trực tiếp thông tin trong văn bản nói về bốn hành tinh mới trong một hệ sau gần trái đất và khái quát được nội dung chính của văn bản

có tính hấp dẫn, khơi gợi sự tò mò của người đọc, thúc đẩy người đọc quan tâm, tìm hiểu về những phát hiện mới mẻ này.


Câu4 : -phương tiện phi ngôn ngữ: hình ảnh mô phỏng sao Barnard và các hành tinh của nó

tác dụng: giúp người đọc có cái nhìn rõ ràng, trực quan hơn về hệ sau barnard và những hành tinh mới được phát hiện, tăng tính hấp dẫn cho bài viết.

Câu5: văn bản có tính chính xác và khách quan cao, vì thông tin được trích dẫn từ các nguồn uy tín như chuyên san “ The Astrophysical Journal Letters”, Đài ABC News và đại học Chicago. Các báo cáo khoa học, tên công trình nghiên cứu và các cơ quan, cá nhân tham gia đều được đề cập rõ ràng.