NGUYỄN MINH QUANG

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của NGUYỄN MINH QUANG
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Bài thơ "Mùa thu cho con" của Hạ Thu Sương đã gợi lên cho bao người từng đoạn ký ức và hoài mong thời niên thiếu tươi đẹp. Đoạn thơ gợi lên không khí mùa thu và ngày tựu trường đầy tươi vui, rộn rã. Hình ảnh "Nắng mùa thu như ươm vàng rót mật", "Tiếng trống trường rộn rã bước chân vui" đã tái hiện một khung cảnh ấm áp, trong trẻo. Qua đó, tác giả thể hiện niềm hân hoan, háo hức của tuổi học trò khi bước vào năm học mới. Đoạn thơ còn gửi gắm những lời nhắn nhủ, kì vọng đối với thế hệ trẻ. Những dòng thơ "Con hãy đi bằng đôi chân kiêu hãnh", "Con hãy cháy hết mình cho hoài bão" thể hiện niềm tin, sự động viên để mỗi người trẻ sống tự tin, bản lĩnh và theo đuổi ước mơ đồng thời thể hiện khí phách thời niên thiếu là thứ không thể tái hiện. Đoạn thơ mang đến cho em những cảm xúc trong trẻo và tích cực, gợi nhắc về những ngày tựu trường đầy kỉ niệm, từ đó gửi gắm lời nhắc nhở dịu dàng mà sâu sắc về trách nhiệm của tuổi trẻ: Sống có ước mơ, có lí tưởng và dám nỗ lực hết mình. Qua đoạn trích, em cảm thấy thêm trân trọng quãng đời học sinh tươi đẹp và tự nhủ phải học tập, rèn luyện thật tốt để không phụ niềm tin yêu, kì vọng của gia đình và thầy cô.

Câu 2:

"Dù trong tro tàn, hoa vẫn sẽ nở" của doanh nhân Elsu mang ý nghĩa sâu sắc về sự kiên trì và vững chắc trước nghịch cảnh của mỗi con người. Câu nói ấy âm thầm nhắc nhở rằng chúng ta phải kiên trì mới thấy được cánh cửa dẫn đến thành công đồng thời khẳng định kiên trì là phẩm chất quan trọng giúp con người vượt qua thử thách. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số bạn trẻ dễ nản chí, bỏ cuộc khi gặp khó khăn. Do đó việc rèn luyện tính kiên trì trở nên vô cùng cần thiết, vậy nên chũng ta cần có những biện pháp thiết thực để rèn luyện kiên trì trong cuộc sống, đặc biệt là các bạn trẻ.

Trước hết, ta cần hiểu rằng kiên trì là sự bền bỉ, không bỏ cuộc trước khó khăn, thử thách, luôn cố gắng đến tận cùng cực để đạt được mục tiêu, là khi cơ thể đã mệt nhoài nhưng vẫn gắng gượng mà tiếp bước, là khoảng khắc trong đầu bạn chỉ còn hai chữ kiên trì khi thấy khó khăn. Đây là phẩm chất cần thiết cả trong học tập và trong cuộc sống để có thể thực hiện mong ước của bản thân.

Lòng kiên trì có thể thể hiện ở nhiều mặt trong cuộc sống. Trong học tập, một học sinh có lòng kiên trì sẽ không dễ dàng từ bỏ mà luôn cố gắng tìm cách giải quyết dù phải thử cả trăm lần. Lòng kiên trì còn thể hiện trong các lĩnh vực thể thao, nghệ thuật, nơi mà thành công không đến ngay lập tức mà đòi hỏi người ta phải luyện tập, kiên trì trong suốt một thời gian dài. Có thể thấy qua học sinh Đinh Nhật Huy, một người có biểu hiện quả kiên trì, dám đối mặt với những thách thức khó khăn để đạt được nhiều thành tựu trong học tập để giờ có suất tuyển thẳng vào trường Hoàng Quốc Việt.

Lòng kiên trì không chỉ giúp chúng ta đạt được thành công trong công việc và cuộc sống, mà còn giúp chúng ta trưởng thành hơn, vượt qua những thử thách, khó khăn trong cuộc sống và trở nên mạnh mẽ hơn. Nếu chúng ta không có lòng kiên trì, thì sẽ rất dễ dàng bị sống nhấp nhổm, lúng túng, dễ bị ảnh hưởng bởi những ý kiến, suy nghĩ của người khác và không thể đạt được điều mình mong muốn. Lòng kiên trì còn giúp chúng ta rèn luyện được tính cẩn trọng, bởi vì khi chúng ta kiên trì với một mục tiêu, chúng ta cần phải suy nghĩ và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định. Điều này giúp chúng ta tránh được những sai lầm không đáng có và trở nên thông minh hơn.

​Tuy nhiên, vẫn có một số ý kiến cho rằng:" khi chúng ta kiên trì một cách mù quáng sẽ dẫn đến dẫn đến bảo thủ, cố chấp". Ý kiến đấy đúng nhưng chỉ xảy ra trong trường hợp tu duy không linh hoạt, nếu con người kiên trì nhưng vẫn dừng lại để suy nghĩ và tìm ra đường đi hợp lý thì sự kiên trì đó sẽ đáp lại chúng ta bằng những thành công. Vậy nên kiên trì đôi khi cũng cần một tư duy linh hoạt mới có thể giúp mỗi người chúng ta tìm ra con đường đi đúng hướng.

Để xây dựng và rèn luyện lòng kiên trì, việc đầu tiên mà mỗi người cần phải làm là nhận thức được tầm quan trọng của sự kiên trì trong cuộc sống. Lòng kiên trì cần phải rèn luyện từ những việc làm rất nhỏ trong cuộc sống đời thường. Trong môi trường học tập, ta phải tự giác trong việc học hành, đối với những môn bị điểm kém bản thân ta phải tự rút kinh nghiệm và chịu khó nghe giảng trên lớp hơn, tích cực làm bài ở nhà và học tập thêm ở bạn bè. Sự nỗ lực không ngừng trong học tập sẽ giúp mỗi người chúng ta đạt kết quả cao và có một tương lai sáng ngời. Gia đình cũng cần có những biện pháp hợp lý và động viên để con có thêm động lực cho sự kiên trì theo đuổi giấc mơ. Nhà trường có thể lồng ghép các bài học về sự kiên trì vào các buổi ngoại khóa để giúp các em hiểu hơn về ý nghĩa kiên trì trong cuộc sống. Có thể thấy qua nhân vật Phương Nguyên trong cổ chân nhân, anh ấy đã kiên trì mọi lúc khi thấy khó khăn và không bao giờ từ bỏ dù bị phản bội, câu chuyện ấy cũng đã nhắc nhở mỗi người về sự kiên trì và làm cho người đọc hiểu sâu sắc hai chữ 'kiên trì'.

Tóm lại, lòng kiên trì là một đức tính quý báu mà mỗi người cần phải rèn luyện. Với lòng kiên trì, chúng ta sẽ không bao giờ bỏ cuộc, mà sẽ luôn vững bước vượt qua mọi khó khăn để đạt được thành công. Lòng kiên trì không chỉ giúp chúng ta trong học tập mà còn trong mọi lĩnh vực khác, là yếu tố quan trọng giúp mỗi người trưởng thành và đạt được ước mơ của mình.





Câu 1

Ngày 5.6.1911, Nguyễn Tất Thành dưới tên gọi Văn Ba đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước.

Câu 2

Thông tin được trình bày theo trình tự thời gian.

Câu 3

– Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh "Bến Nhà Rồng ngày nay là nơi thu hút khách du lịch".

– Tác dụng:

+ Giúp hỗ trợ biểu đạt thông tin, giúp người đọc hình dung được vẻ đẹp, khung cảnh của Bến Nhà Rồng.

+ Giúp văn bản trở nên sinh động, hấp dẫn.

Câu 4

– Các thông tin trong văn bản triển khai cụ thể những dấu ấn ấy:

+ Bến Nhà Rồng gắn với sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.

+ Gắn với những mốc lịch sử quan trọng của dân tộc và Thành phố Hồ Chí Minh.

– Nhan đề định hướng nội dung, làm rõ các dấu ấn lịch sử của Bến Nhà Rồng qua các giai đoạn được thể hiện qua các thông tin cơ bản.

Câu 5


Qua văn bản, em nhận thấy rằng việc gìn giữ, bảo tồn các di tích lịch sử có ý nghĩa vô cùng quan trọng. vì di tích lịch sử là nơi lưu giữ dấu ấn của quá khứ, giúp các thế hệ sau hiểu hơn về lịch sử dân tộc ,giúp cho tinh thầm yêu nước truyền đời mãi đến tương lai. Di tích lịch sử còn là nơi giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào và biết ơn đối với những người đi trước để dạy bảo từng con người nhớ trọng đến những công lao của chiến sĩ không biết tên. Nếu không được bảo tồn, các di tích có thể bị mai một, xuống cấp theo thời gian, làm mất đi những dấu tích, "chứng nhân" lịch sử của dân tộc.

​11


1.

x=1/2

y=-1

2.

a, P= -1/(√x -2)

b,x = {1;9;25}

a) \(\Delta A I E \sim \Delta A C I\) (g.g) suy ra \(\frac{A I}{A C} = \frac{A E}{A I}\) hay \(A I^{2} = A E . A C\) (1)

Chứng minh tương tự:

\(\Delta A I K \sim \Delta A K B\) (g.g) suy ra \(\frac{A K}{A B} = \frac{A F}{A K}\) hay \(A K^{2} = A B . A F\) (2)

Mà \(\Delta A B E \sim \Delta A C F\) (g.g) suy ra \(\frac{A B}{A C} = \frac{A E}{A F}\) hay \(A B . A F = A C . A E\) (3)

Từ (1), (2) và (3) ta có \(A I^{2} = A K^{2}\) suy ra \(A I = A K\).

b) Vì \(\hat{A} = 60^{\circ}\) suy ra \(\hat{B_{1}} = 30^{\circ}\)

Trong tam giác \(A B E\) vuông tại \(E\) nên \(A E = \frac{1}{2} A B ,\)

Trong tam giác \(A F C\) vuông tại \(F\) có \(\hat{C_{1}} = 30^{\circ}\) suy ra \(A F = \frac{1}{2} A C\).

Do đó, \(\Delta A E F \sim \Delta A B C\) (c.g.c).

suy ra \(\frac{S_{A E F}}{S_{A B C}} = \left(\left(\right. \frac{A E}{A B} \left.\right)\right)^{2} = \frac{1}{4}\).

Vậy \(S_{A E F} = \frac{1}{4} . 120 = 30\) cm\(^{2}\).

Gọi \(B F\) cắt \(D C\) tại \(K\)\(B E\) cắt \(D C\) tại \(I\), và \(E F\) cắt \(A B\) tại \(G\).

\(\Delta F A B\) có \(D K\) // \(A B\) suy ra \(\frac{D K}{A B} = \frac{F D}{F A}\) (1)

\(\Delta F A G\) có \(D H\) // \(A G\) suy ra \(\frac{D H}{A G} = \frac{F D}{F A}\) (2)

Từ (1) và (2) suy ra \(\frac{D K}{A B} = \frac{D H}{A G}\) hay \(\frac{D K}{D H} = \frac{A B}{A G}\) (*)

Tương tự \(\Delta E I C\) có \(A B\) // \(I C\) suy ra \(\frac{I C}{A B} = \frac{E C}{E A}\) (3)

\(\Delta E H C\) có \(H C\) // \(A B\) suy ra \(\frac{H C}{A G} = \frac{E C}{E A}\) (4)

Từ (3) và (4) ta có \(\frac{I C}{A B} = \frac{H C}{A G}\) hay \(\frac{I C}{H C} = \frac{A B}{A G}\) (**)

Từ (*) và (**) ta có \(\frac{D K}{D H} = \frac{I C}{H C}\).

Mà \(D H = H C\) (gt) suy ra \(D K = I C\)

Mặt khác \(B D = B C\)  nên \(\Delta B D C\) cân

Suy ra \(\hat{B D K} = \hat{B C I}\)

Vậy \(\Delta B D K = \Delta B C I\) (c.g.c)

Suy ra \(\hat{D B K} = \hat{C B I}\).

a) \(\Delta A B E\) có \(A M\) // \(D G\) suy ra \(\frac{A E}{E G} = \frac{E B}{E D}\) (1)

\(\Delta A D E\) có \(A D\) // \(B K\) suy ra \(\frac{E B}{E D} = \frac{E K}{E A}\) (2)

Từ (1) và (2) ta có \(\frac{A E}{E G} = \frac{E K}{E A}\) nên \(A E^{2} = E K . E G\).

b) Từ \(\frac{1}{A E} = \frac{1}{A K} + \frac{1}{A G}\) suy ra \(\frac{A E}{A K} + \frac{A E}{A G} = 1\)

\(\Delta A D E\) có \(A D\) // \(B C\) suy ra \(\frac{A E}{E K} = \frac{E D}{E B}\)

     \(\frac{A E}{A E + E K} = \frac{E D}{E D + E B}\)

     \(\frac{A E}{A K} = \frac{E D}{D B}\) (3)

Tương tự \(\Delta A E B\) có \(A B\) // \(D G\) suy ra \(\frac{A E}{E G} = \frac{B E}{E D}\)

     \(\frac{A E}{A E + E G} = \frac{B E}{B E + E D}\)

     \(\frac{A E}{A G} = \frac{B E}{B D}\) (4)

Khi đó \(\frac{A E}{A K} + \frac{A E}{A G} = \frac{E D}{B D} + \frac{B E}{B D} = 1\).

c) Ta có \(\frac{B K}{K C} = \frac{A B}{C G}\) suy ra \(B K = \frac{K C . A B}{C G}\) và \(\frac{K C}{A D} = \frac{C G}{D G}\).

Suy ra \(D G = \frac{A D . C G}{K C}\)

Nhân theo vế ta được \(B K . D G = A B . A D\) không đổi

Qua \(A\) vẽ đường thẳng song song với \(B C\) cắt \(B B^{'}\) tại \(D\) và cắt \(C C^{'}\) tại \(E\).

Khi đó 

\(\Delta A M E\) có \(A E\) // \(A^{'} C\) suy ra \(\frac{A M}{A^{'} M} = \frac{A E}{A^{'} C}\) (1)

\(\Delta A M D\) có \(A D\) // \(A^{'} B\) suy ra \(\frac{A M}{A^{'} M} = \frac{A D}{A^{'} B}\) (2)

Từ (1) và (2) ta có \(\frac{A M}{A^{'} M} = \frac{A E}{A^{'} C} = \frac{A D}{A^{'} B} = \frac{A D + A E}{A^{'} C + A^{'} B} = \frac{D E}{B C}\) (*)

Chứng minh tương tự ta cũng có:

\(\Delta A B^{'} D\) có \(A D\) // \(B C\) suy ra \(\frac{A B^{'}}{B^{'} C} = \frac{A D}{B C}\) (3)

\(\Delta A C^{'} E\) có \(A E\) // \(B C\) suy ra \(\frac{A C^{'}}{C^{'} B} = \frac{A E}{B C}\) (4)

Từ (3) và (4) ta có \(\frac{A B^{'}}{B^{'} C} + \frac{A C^{'}}{B C^{'}} = \frac{A D}{B C} + \frac{A E}{B C} = \frac{D E}{B C}\) (**)

Từ (*) và (**) ta có \(\frac{A M}{A^{'} M} = \frac{D E}{B C} = \frac{A B^{'}}{B^{'} C} + \frac{A C^{'}}{B C^{'}}\) (đpcm).