Nguyễn Quang Hưng
Giới thiệu về bản thân
Truyền thống “Lá lành đùm lá rách” là nét đẹp văn hóa, thể hiện tinh thần đoàn kết, sẻ chia của dân tộc Việt Nam. Câu tục ngữ ví người đủ đầy như lá lành, luôn che chở cho người khó khăn – lá rách. Gìn giữ truyền thống này là điều cần thiết để xây dựng một xã hội nhân ái, bền vững.
Trước hết, “Lá lành đùm lá rách” thể hiện lòng nhân ái, phẩm chất cao quý của con người Việt Nam. Từ xưa, trong hoạn nạn như thiên tai, chiến tranh, người dân đã đùm bọc, chia sẻ miếng cơm manh áo. Duy trì truyền thống này giúp nuôi dưỡng tình yêu thương, tạo nên cộng đồng ấm no, hạnh phúc.
Thứ hai, truyền thống này củng cố tinh thần đoàn kết. Trong xã hội, sự chênh lệch về hoàn cảnh là khó tránh. Sẻ chia với người yếu thế xóa nhòa khoảng cách, tăng sự gắn kết, giúp cộng đồng vững mạnh trước thử thách.
Ngoài ra, trong thời đại toàn cầu hóa, giữ gìn “Lá lành đùm lá rách” là cách bảo tồn bản sắc dân tộc. Lòng nhân ái, sự sẻ chia là tài sản tinh thần quý báu, khiến Việt Nam được bạn bè quốc tế yêu mến. Những phong trào thiện nguyện hay tấm gương hy sinh vì cộng đồng là minh chứng sống động cho giá trị này.
Cuối cùng, giúp đỡ người khác không chỉ mang lại niềm vui cho họ mà còn làm giàu tâm hồn người cho đi. Đó là động lực để mỗi người sống tốt hơn, lan tỏa điều tích cực.
Tóm lại, “Lá lành đùm lá rách” là linh hồn của dân tộc. Gìn giữ truyền thống này giúp bảo vệ lòng nhân ái, đoàn kết và bản sắc, đồng thời thắp sáng niềm tin vào một tương lai tươi đẹp.
câu 1: biểu cảm, tự sự, nghị luận, miêu tả
câu 2: Ca ngợi món phở một món ăn bình dân nhưng giàu giá trị văn hoá, thể hiện tinh thần, phong cách và tâm hồn của con người Việt Nam.
câu 3: Phép liên kết: phép lặp:
-Từ được lặp lại: "thịt chín", "miếng thịt chín"
câu 4
Cái tôi của tác giả trong đoạn văn trên được thể hiện khá rõ nét, mang những đặc điểm tiêu biểu của phong cách tùy bút: tự do, phóng khoáng, gần gũi .
câu 5 :
câu 6 : với em, tuổi thơ là những ngày hè rong chơi với các bạn quanh xóm, là những trò chơi như nhảy dây, trốn tìm, đá bóng. Những trò chơi bình dị và thân thuộc đó đã mang lại cho em niềm vui, sự hạnh phúc và ko phải lo nghĩ bất cứ điều gì. Dù thời gian có trôi đi, những kỷ niệm ấy vẫn luôn ở lại trong em như một phần ký ức ngọt ngào và không thể thay thế
câu 1: biểu cảm, tự sự, nghị luận, miêu tả
câu 2: Ca ngợi món phở một món ăn bình dân nhưng giàu giá trị văn hoá, thể hiện tinh thần, phong cách và tâm hồn của con người Việt Nam.
câu 3: Phép liên kết: phép lặp:
-Từ được lặp lại: "thịt chín", "miếng thịt chín"
câu 4
Cái tôi của tác giả trong đoạn văn trên được thể hiện khá rõ nét, mang những đặc điểm tiêu biểu của phong cách tùy bút: tự do, phóng khoáng, gần gũi .
câu 5 :
câu 6 : với em, tuổi thơ là những ngày hè rong chơi với các bạn quanh xóm, là những trò chơi như nhảy dây, trốn tìm, đá bóng. Những trò chơi bình dị và thân thuộc đó đã mang lại cho em niềm vui, sự hạnh phúc và ko phải lo nghĩ bất cứ điều gì. Dù thời gian có trôi đi, những kỷ niệm ấy vẫn luôn ở lại trong em như một phần ký ức ngọt ngào và không thể thay thế
câu 1: biểu cảm, tự sự, nghị luận, miêu tả
câu 2: Ca ngợi món phở một món ăn bình dân nhưng giàu giá trị văn hoá, thể hiện tinh thần, phong cách và tâm hồn của con người Việt Nam.
câu 3: Phép liên kết: phép lặp:
-Từ được lặp lại: "thịt chín", "miếng thịt chín"
câu 4
Cái tôi của tác giả trong đoạn văn trên được thể hiện khá rõ nét, mang những đặc điểm tiêu biểu của phong cách tùy bút: tự do, phóng khoáng, gần gũi .
câu 5 :
câu 6 : với em, tuổi thơ là những ngày hè rong chơi với các bạn quanh xóm, là những trò chơi như nhảy dây, trốn tìm, đá bóng. Những trò chơi bình dị và thân thuộc đó đã mang lại cho em niềm vui, sự hạnh phúc và ko phải lo nghĩ bất cứ điều gì. Dù thời gian có trôi đi, những kỷ niệm ấy vẫn luôn ở lại trong em như một phần ký ức ngọt ngào và không thể thay thế
- Về bộ máy cai trị: + Chia thành các đơn vị hành chính như châu - quận, dưới đó là huyện + Chính quyền từ cấp huyện trở lên đề do người Hán nắm giữ. - Về kinh tế: + Chiếm ruộng đất để lập thành ấp, trại và bắt dân cày cấy. + Áp đặt tô thuế nặng nề. + Độc quyền buôn bán về sắt và muối. + Bắt dân ta cống nạp nhiều loại vải vóc, sản vật quý. - Về văn hóa xã hội: thực hiện chính sách đồng hóa dân tộc Việt và tìm cách xóa bỏ những tập quán lâu đời của người Việt. b. So sánh hoạt động kinh tế và tổ chức xã hội giữa vương quốc Phù Nam và vương quốc Chăm-pa: - Điểm giống: + Hoạt động kinh tế chủ yếu tương đồng nhau: trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm; sản xuất hàng thủ công; khai thác các nguồn lợi tự nhiên của rừng và biển; buôn bán bằng đường biển phát triển. + Tổ chức xã hội: Xã hội phân chia thành các tầng lớp chính như: tăng lữ, quý tộc, dân tự do (thương nhân, thợ thủ công). - Điểm khác: + Tổ chức xã hội: Ở Chăm-pa, có một bộ phận nhỏ là nô lệ (phục vụ trong các gia đình quý tộc). Ở Phù Nam không có bộ phận nô lệ.
- Về bộ máy cai trị: + Chia thành các đơn vị hành chính như châu - quận, dưới đó là huyện + Chính quyền từ cấp huyện trở lên đề do người Hán nắm giữ. - Về kinh tế: + Chiếm ruộng đất để lập thành ấp, trại và bắt dân cày cấy. + Áp đặt tô thuế nặng nề. + Độc quyền buôn bán về sắt và muối. + Bắt dân ta cống nạp nhiều loại vải vóc, sản vật quý. - Về văn hóa xã hội: thực hiện chính sách đồng hóa dân tộc Việt và tìm cách xóa bỏ những tập quán lâu đời của người Việt. b. So sánh hoạt động kinh tế và tổ chức xã hội giữa vương quốc Phù Nam và vương quốc Chăm-pa: - Điểm giống: + Hoạt động kinh tế chủ yếu tương đồng nhau: trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm; sản xuất hàng thủ công; khai thác các nguồn lợi tự nhiên của rừng và biển; buôn bán bằng đường biển phát triển. + Tổ chức xã hội: Xã hội phân chia thành các tầng lớp chính như: tăng lữ, quý tộc, dân tự do (thương nhân, thợ thủ công). - Điểm khác: + Tổ chức xã hội: Ở Chăm-pa, có một bộ phận nhỏ là nô lệ (phục vụ trong các gia đình quý tộc). Ở Phù Nam không có bộ phận nô lệ.
câu 1:
Môi trường là không gian sống thiết yếu của con người và mọi sinh vật trên Trái đất, vì vậy việc bảo vệ môi trường đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển bền vững của xã hội. Khi môi trường bị tàn phá, không chỉ hệ sinh thái bị đe dọa mà sức khỏe thể chất lẫn tinh thần của con người cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Như trong bài viết về “tiếc thương sinh thái”, chúng ta thấy rõ biến đổi khí hậu không chỉ gây thiệt hại vật chất mà còn gieo rắc nỗi đau tâm lý cho nhiều cộng đồng gắn bó lâu dài với thiên nhiên. Sự mất mát rừng, băng, động vật... không chỉ là mất đi cảnh quan mà còn là mất đi văn hóa, bản sắc và niềm tin vào tương lai. Bảo vệ môi trường không chỉ là hành động chống lại ô nhiễm hay biến đổi khí hậu, mà còn là cách con người giữ gìn chính tâm hồn và bản sắc của mình. Mỗi người, từ những việc nhỏ nhất như tiết kiệm điện, không xả rác bừa bãi, trồng cây xanh... đều có thể góp phần vào công cuộc lớn lao ấy. Bởi chỉ khi môi trường còn trong lành, con người mới thật sự sống hạnh phúc và bền vững.
câu 2:
Trong kho tàng thi ca trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ – những bậc trí giả chọn sống xa rời chốn quan trường, gắn bó với thiên nhiên để giữ gìn phẩm giá và sự thanh cao – luôn là một hình tượng đẹp. Qua hai bài thơ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình ảnh người ẩn sĩ hiện lên với những vẻ đẹp riêng nhưng đều cho thấy khát vọng sống thanh đạm, hòa mình với thiên nhiên và giữ trọn cốt cách thanh cao.
Ở bài "Nhàn", Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa người ẩn sĩ với cuộc sống đơn sơ mà an vui: “Một mai, một cuốc, một cần câu”. Câu thơ mở đầu đã gợi ra nhịp sống nhẹ nhàng, ung dung, gắn liền với lao động tự cung tự cấp và hòa hợp với thiên nhiên. Ẩn sĩ ở đây là người chủ động rời bỏ chốn “lao xao” của cuộc đời, chọn lấy chốn “vắng vẻ” để gìn giữ sự trong sạch tâm hồn. Sự nhàn tản ấy không chỉ là lối sống mà còn là thái độ triết lý: phú quý chỉ như giấc chiêm bao – phù du và hư ảo. Qua đó, ta thấy rõ sự tỉnh táo và bản lĩnh của một trí thức lớn – ẩn sĩ không phải vì bất lực, mà vì sáng suốt lựa chọn con đường phù hợp với lý tưởng nhân sinh.
Trong khi đó, bài thơ của Nguyễn Khuyến lại mang màu sắc thu buồn và gợi ra nét tĩnh lặng, sâu lắng của người ẩn sĩ. Cảnh thu hiện lên với “trời thu xanh ngắt”, “gió hắt hiu”, “nước biếc”, “trăng vào song thưa”… đều gợi ra một không gian thoáng đãng, yên bình, nhưng cũng man mác nỗi cô tịch. Người ẩn sĩ trong bài thơ này hiện lên như một thi sĩ trầm mặc, hòa tan cảm xúc vào cảnh vật, cảm nhận sự vận hành của thiên nhiên để rồi chợt “thẹn với ông Đào” – một bậc ẩn sĩ nổi tiếng của Trung Hoa. Từ đó, ta thấy được chiều sâu tâm hồn: vừa nhạy cảm với cảnh sắc, vừa khiêm nhường, tự soi lại mình.
Điểm giống nhau nổi bật trong hai bài thơ là hình ảnh người ẩn sĩ đều gắn bó mật thiết với thiên nhiên, sống giản dị, thanh bạch và xem thường danh lợi. Cả Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều lựa chọn lui về ở ẩn không phải vì chán đời mà là để giữ vững nhân cách, tránh xa vòng xoáy thị phi. Họ tìm thấy sự bình yên, sự tự tại trong chính thiên nhiên – nơi giúp con người thanh lọc tâm hồn và suy ngẫm về lẽ sống. Cả hai đều là biểu tượng cho cốt cách thanh cao của người trí thức xưa, dù ẩn dật nhưng vẫn sáng rực một tấm lòng yêu nước, thương dân.
Dù có sự khác biệt về giọng điệu – một bên là hào sảng, triết lý (Nguyễn Bỉnh Khiêm), một bên là trầm lắng, sâu kín (Nguyễn Khuyến) – nhưng cả hai bài thơ đều gặp nhau ở vẻ đẹp nhân cách của người ẩn sĩ: sống thuận theo lẽ tự nhiên, giữ mình thanh sạch, và không ngừng suy tư về thế sự.
Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên thật đẹp – không chỉ là những con người xa rời bụi trần, mà còn là những trí giả sáng suốt, sống thuận tự nhiên và giữ gìn nhân cách giữa cuộc đời đầy biến động. Đó là hình ảnh đáng trân trọng, vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại hôm nay – thời đại mà con người không ngừng đi tìm sự bình yên, trong trẻo giữa bao lo toan, xô bồ của cuộc sống hiện đại..
câu 1:
Môi trường là không gian sống thiết yếu của con người và mọi sinh vật trên Trái đất, vì vậy việc bảo vệ môi trường đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển bền vững của xã hội. Khi môi trường bị tàn phá, không chỉ hệ sinh thái bị đe dọa mà sức khỏe thể chất lẫn tinh thần của con người cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Như trong bài viết về “tiếc thương sinh thái”, chúng ta thấy rõ biến đổi khí hậu không chỉ gây thiệt hại vật chất mà còn gieo rắc nỗi đau tâm lý cho nhiều cộng đồng gắn bó lâu dài với thiên nhiên. Sự mất mát rừng, băng, động vật... không chỉ là mất đi cảnh quan mà còn là mất đi văn hóa, bản sắc và niềm tin vào tương lai. Bảo vệ môi trường không chỉ là hành động chống lại ô nhiễm hay biến đổi khí hậu, mà còn là cách con người giữ gìn chính tâm hồn và bản sắc của mình. Mỗi người, từ những việc nhỏ nhất như tiết kiệm điện, không xả rác bừa bãi, trồng cây xanh... đều có thể góp phần vào công cuộc lớn lao ấy. Bởi chỉ khi môi trường còn trong lành, con người mới thật sự sống hạnh phúc và bền vững.
câu 2:
Trong kho tàng thi ca trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ – những bậc trí giả chọn sống xa rời chốn quan trường, gắn bó với thiên nhiên để giữ gìn phẩm giá và sự thanh cao – luôn là một hình tượng đẹp. Qua hai bài thơ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình ảnh người ẩn sĩ hiện lên với những vẻ đẹp riêng nhưng đều cho thấy khát vọng sống thanh đạm, hòa mình với thiên nhiên và giữ trọn cốt cách thanh cao.
Ở bài "Nhàn", Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa người ẩn sĩ với cuộc sống đơn sơ mà an vui: “Một mai, một cuốc, một cần câu”. Câu thơ mở đầu đã gợi ra nhịp sống nhẹ nhàng, ung dung, gắn liền với lao động tự cung tự cấp và hòa hợp với thiên nhiên. Ẩn sĩ ở đây là người chủ động rời bỏ chốn “lao xao” của cuộc đời, chọn lấy chốn “vắng vẻ” để gìn giữ sự trong sạch tâm hồn. Sự nhàn tản ấy không chỉ là lối sống mà còn là thái độ triết lý: phú quý chỉ như giấc chiêm bao – phù du và hư ảo. Qua đó, ta thấy rõ sự tỉnh táo và bản lĩnh của một trí thức lớn – ẩn sĩ không phải vì bất lực, mà vì sáng suốt lựa chọn con đường phù hợp với lý tưởng nhân sinh.
Trong khi đó, bài thơ của Nguyễn Khuyến lại mang màu sắc thu buồn và gợi ra nét tĩnh lặng, sâu lắng của người ẩn sĩ. Cảnh thu hiện lên với “trời thu xanh ngắt”, “gió hắt hiu”, “nước biếc”, “trăng vào song thưa”… đều gợi ra một không gian thoáng đãng, yên bình, nhưng cũng man mác nỗi cô tịch. Người ẩn sĩ trong bài thơ này hiện lên như một thi sĩ trầm mặc, hòa tan cảm xúc vào cảnh vật, cảm nhận sự vận hành của thiên nhiên để rồi chợt “thẹn với ông Đào” – một bậc ẩn sĩ nổi tiếng của Trung Hoa. Từ đó, ta thấy được chiều sâu tâm hồn: vừa nhạy cảm với cảnh sắc, vừa khiêm nhường, tự soi lại mình.
Điểm giống nhau nổi bật trong hai bài thơ là hình ảnh người ẩn sĩ đều gắn bó mật thiết với thiên nhiên, sống giản dị, thanh bạch và xem thường danh lợi. Cả Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều lựa chọn lui về ở ẩn không phải vì chán đời mà là để giữ vững nhân cách, tránh xa vòng xoáy thị phi. Họ tìm thấy sự bình yên, sự tự tại trong chính thiên nhiên – nơi giúp con người thanh lọc tâm hồn và suy ngẫm về lẽ sống. Cả hai đều là biểu tượng cho cốt cách thanh cao của người trí thức xưa, dù ẩn dật nhưng vẫn sáng rực một tấm lòng yêu nước, thương dân.
Dù có sự khác biệt về giọng điệu – một bên là hào sảng, triết lý (Nguyễn Bỉnh Khiêm), một bên là trầm lắng, sâu kín (Nguyễn Khuyến) – nhưng cả hai bài thơ đều gặp nhau ở vẻ đẹp nhân cách của người ẩn sĩ: sống thuận theo lẽ tự nhiên, giữ mình thanh sạch, và không ngừng suy tư về thế sự.
Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên thật đẹp – không chỉ là những con người xa rời bụi trần, mà còn là những trí giả sáng suốt, sống thuận tự nhiên và giữ gìn nhân cách giữa cuộc đời đầy biến động. Đó là hình ảnh đáng trân trọng, vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại hôm nay – thời đại mà con người không ngừng đi tìm sự bình yên, trong trẻo giữa bao lo toan, xô bồ của cuộc sống hiện đại..
Khẩu phần ăn thiếu iodine có thể dẫn đến bệnh bướu cổ vì iodine là chất cần thiết để tuyến giáp sản xuất hormone T3, T4.
Khi không có đủ iodine, tuyến giáp sẽ làm việc nhiều hơn để tổng hợp đủ lượng hormone mà cơ thể cần, dẫn đến làm tăng thể tích tuyến giáp gây bệnh bướu cổ.