VŨ NGỌC DIỆP

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của VŨ NGỌC DIỆP
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 (2 điểm) – Phân tích nhân vật Sherlock Holmes

Trong đoạn trích, Sherlock Holmes hiện lên là một nhân vật trinh thám tài ba, sắc sảo và có phương pháp suy luận khoa học. Ông tiếp cận vụ án với tinh thần khách quan, không mang định kiến, rồi từ những chi tiết nhỏ như vết bánh xe, dấu chân, mùi vị trên môi nạn nhân… đã đưa ra những giả thuyết hợp lý. Holmes sử dụng phương pháp lập luận ngược chiềuloại trừ để tìm ra nguyên nhân cái chết, xác định hung thủ. Điều này cho thấy ông có khả năng quan sát tỉ mỉ, tư duy logic chặt chẽ và trí tuệ vượt trội. Không chỉ vậy, Holmes còn kiên nhẫn, cẩn trọng, biết cách kết nối các chi tiết tưởng chừng rời rạc thành một chuỗi logic hoàn chỉnh. Qua đó, nhân vật Sherlock Holmes được khắc họa như biểu tượng của trí tuệ, sự mưu trí và bản lĩnh trong việc phá giải những vụ án hóc búa, góp phần làm nổi bật sức hấp dẫn của thể loại truyện trinh thám.


Câu 2 (4 điểm) – Bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ)

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước trở nên vô cùng quan trọng và cấp thiết. Hội nhập mở ra nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đặt ra không ít thách thức, đòi hỏi thế hệ trẻ phải có ý thức trách nhiệm để vừa khẳng định bản thân, vừa góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trước hết, thế hệ trẻ cần có trách nhiệm học tập, rèn luyện tri thức và kỹ năng để đáp ứng yêu cầu của thời đại. Tri thức chính là nền tảng để đất nước phát triển, còn kỹ năng là công cụ để thích ứng với môi trường toàn cầu hóa. Một thế hệ trẻ giỏi chuyên môn, thành thạo ngoại ngữ, công nghệ sẽ giúp Việt Nam nâng cao vị thế trên trường quốc tế.

Bên cạnh đó, trách nhiệm của thế hệ trẻ còn thể hiện ở việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Hội nhập quốc tế đồng nghĩa với sự giao thoa văn hóa, nếu không có ý thức bảo vệ, những giá trị truyền thống dễ bị mai một. Thế hệ trẻ cần biết tự hào, trân trọng văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa nhân loại một cách chọn lọc để làm giàu thêm bản sắc Việt Nam.

Hơn nữa, thế hệ trẻ phải có trách nhiệm xây dựng lối sống lành mạnh, ý thức công dân và tinh thần trách nhiệm xã hội. Trong thời đại mới, mỗi cá nhân không chỉ sống cho riêng mình mà còn phải biết cống hiến cho cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường, đấu tranh chống lại những tiêu cực.

Cuối cùng, trách nhiệm lớn lao nhất của thế hệ trẻ là giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Dù không trực tiếp cầm súng như cha ông, nhưng thế hệ trẻ hôm nay có thể bảo vệ đất nước bằng tri thức, bằng công nghệ, bằng sự sáng tạo và bản lĩnh trong mọi lĩnh vực.

Tóm lại, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước là học tập, rèn luyện, giữ gìn văn hóa, sống có trách nhiệm và góp phần bảo vệ Tổ quốc. Thế hệ trẻ chính là lực lượng nòng cốt quyết định tương lai của dân tộc, vì vậy mỗi người cần ý thức rõ vai trò của mình để cùng chung tay xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, văn minh và hội nhập thành công.

Câu 1. Thể loại của văn bản

Văn bản thuộc thể loại truyện trinh thám (tiểu thuyết trinh thám), cụ thể là đoạn trích từ tác phẩm Sherlock Holmes của Arthur Conan Doyle.

Câu 2. Ngôi kể được sử dụng

Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất, qua lời kể của nhân vật bác sĩ Watson – người bạn đồng hành của Sherlock Holmes.

Câu 3. Phân tích câu ghép

Câu: “Tôi bắt đầu xem xét đoạn đường dẫn đến ngôi nhà, và ở đó, tôi thấy rõ những vệt bánh xe, loại xe nhỏ hai chỗ chở thuê, và qua một vài câu hỏi, tôi biết chắc là xe này đã đậu ở đấy đêm trước.”

  • Đây là câu ghép đẳng lập (các vế ngang hàng, nối bằng quan hệ từ “và”).
  • Quan hệ ý nghĩa giữa các vế: quan hệ bổ sung, nối tiếp (các sự việc diễn ra liên tiếp, bổ sung thông tin cho nhau).

Câu 4. Vì sao vụ án nan giải, hóc búa?

  • Nạn nhân chết không có thương tích nhưng hiện trường lại có nhiều vết máu.
  • Xuất hiện những manh mối kỳ lạ: chiếc nhẫn cưới, chữ “Rache” viết bằng máu, dấu vết xe ngựa và giày.
  • Các chi tiết này mâu thuẫn, khó giải thích, khiến cảnh sát không xác định được nghi phạm và động cơ gây án.
    → Vì vậy, vụ án được coi là nan giải, hóc búa.

Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của Sherlock Holmes

  • Holmes sử dụng phương pháp lập luận ngược chiều: từ kết quả (cái chết, hiện trường) suy ra nguyên nhân và diễn biến.
  • Ông vận dụng quan sát tỉ mỉ, logic chặt chẽ, loại trừ giả thiết để tìm ra lời giải.
  • Cách lập luận thể hiện tư duy khoa học, sắc sảo, mạch lạc, không bỏ sót chi tiết.
    → Đây là phong cách đặc trưng của Holmes, giúp ông phá giải những vụ án tưởng chừng không thể.

a) \(\left(\right. m^{2} + \frac{1}{2} \left.\right) x - 1 \leq 0\)

Ta có: \(m^{2} + \frac{1}{2} > 0\) với mọi \(m\) nên \(m^{2} + \frac{1}{2} \neq 0\) với mọi \(m\).

b) \(- \left(\right. m^{2} + m + 2 \left.\right) x \leq - m + 2 024\)

Ta có: \(- \left(\right. m^{2} + m + 2 \left.\right) = - \left[\right. \left(\right. m + \frac{1}{2} \left.\right)^{2} + \frac{7}{4} \left]\right. < 0\) với mọi \(m\) nên \(- \left(\right. m^{2} + m + 2 \left.\right) \neq 0\) với mọi \(m\).

Cộng thêm \(1\) vào mỗi phân thức, ta có:

\(\frac{x + 2}{6} + 1 + \frac{x + 5}{3} + 1 > \frac{x + 3}{5} + 1 + \frac{x + 6}{2} + 1\)

\(\frac{x + 8}{6} + \frac{x + 8}{3} > \frac{x + 8}{5} + \frac{x + 8}{2}\)

\(\frac{x + 8}{6} + \frac{x + 8}{3} - \frac{x + 8}{5} - \frac{x + 8}{2} > 0\)

\(\left(\right. x + 8 \left.\right) \left(\right. \frac{1}{6} + \frac{1}{3} - \frac{1}{5} - \frac{1}{2} \left.\right) > 0\)

\(x + 8 < 0\) vì \(\frac{1}{6} + \frac{1}{3} - \frac{1}{5} - \frac{1}{2} < 0\)

\(x < - 8\)

Vậy nghiệm của bất phương trình đã cho là: \(x < - 8\)

b, \(\frac{x - 2}{1 007} + \frac{x - 1}{1 008} < \frac{2 x - 1}{2 017} + \frac{2 x - 3}{2 015}\)

Nhân thêm \(2\) cho cả tử và mẫu của mỗi phân thức vế trái

\(\frac{2 x - 4}{2 014} + \frac{2 x - 2}{2 016} < \frac{2 x - 1}{2 017} + \frac{2 x - 3}{2 015}\)

Cộng thêm \(- 1\) vào mỗi phân thức, ta được:

\(\frac{2 x - 4}{2 014} - 1 + \frac{2 x - 2}{2 016} - 1 < \frac{2 x - 1}{2 017} - 1 + \frac{2 x - 3}{2 015} - 1\)

\(\frac{2 x - 2 018}{2 014} + \frac{2 x - 2 018}{2 016} < \frac{2 x - 2 018}{2 017} + \frac{2 x - 2 018}{2 015}\)

\(\frac{2 x - 2 018}{2 014} + \frac{2 x - 2 018}{2 016} - \frac{2 x - 2 018}{2 017} - \frac{2 x - 2 018}{2 015} < 0\)

\(\left(\right. 2 x - 2 018 \left.\right) \left(\right. \frac{1}{2 014} + \frac{1}{2 016} - \frac{1}{2 017} - \frac{1}{2 015} \left.\right) < 0\).

\(2 x - 2 018 < 0\) vì \(\frac{1}{2 014} + \frac{1}{2 016} - \frac{1}{2 017} - \frac{1}{2 015} > 0\)

\(x < 1 009\)

Vậy nghiệm của bất phương trình đã cho là: \(x < 1 009\).

a, 32+0,4(x−45)=44+0,25x

32+0,4x−18=44+0,25x

\(14 + 0 , 4 x = 44 + 0 , 25 x\)

\(0 , 4 x - 0 , 25 x = 44 - 14\)

\(0 , 15 x = 30\)

x=200

b, Với \(x = 180\)

\(C_{A} = 32 + 0 , 4 \left(\right. 180 - 45 \left.\right)\)

\(= 32 + 0 , 4 \cdot 135\)

\(= 32 + 54\)

\(= 86\)

\(C_{B} = 44 + 0 , 25 \cdot 180\)

\(= 44 + 45\)

\(= 89\)

\(86 < 89\)

Chọn gói A.


Với \(x = 500\)

\(C_{A} = 32 + 0 , 4 \left(\right. 500 - 45 \left.\right)\)

\(= 32 + 0 , 4 \cdot 455\)

\(= 32 + 182\)

\(= 214\)

\(C_{B} = 44 + 0 , 25 \cdot 500\)

\(= 44 + 125\)

\(= 169\)

\(214 > 169\)

Chọn gói B.

\(\)

viết

1.Trong đoạn trích “Chinh phụ ngâm”, hình ảnh người chinh phụ hiện lên đầy đau thương và cô đơn. Nàng sống trong cảnh biệt ly, ngày ngày mong ngóng tin chồng nơi biên ải xa xôi. Những hành động như “gieo bói tiền”, “dạo hiên vắng”, “ngồi rèm thưa” thể hiện sự khắc khoải, bất an và nỗi nhớ thương da diết. Nỗi buồn của nàng không chỉ là nỗi buồn của một người vợ xa chồng, mà còn là tiếng lòng của bao người phụ nữ trong thời chiến, phải chịu cảnh chia ly, mất mát. Qua hình ảnh người chinh phụ, tác giả đã khắc họa sâu sắc bi kịch của con người trong chiến tranh, đặc biệt là những người ở hậu phương. Nhân vật người chinh phụ không chỉ là biểu tượng của tình yêu thủy chung mà còn là lời tố cáo chiến tranh phi nghĩa, đồng thời thể hiện khát vọng hòa bình và đoàn tụ của con người.

2.

Chiến tranh – hai tiếng ngắn gọn nhưng chất chứa biết bao đau thương, mất mát. Trong “Chinh phụ ngâm”, hình ảnh người chinh phụ cô đơn, mòn mỏi chờ tin chồng nơi biên ải đã khắc họa rõ nét hậu quả tàn khốc của chiến tranh không chỉ nơi chiến trường mà còn trong lòng người ở hậu phương. Nỗi cô đơn, sự tuyệt vọng, những giọt nước mắt thầm lặng của người vợ ấy là minh chứng cho những tổn thương tinh thần mà chiến tranh gây ra.

Chiến tranh cướp đi sinh mạng, chia lìa gia đình, làm tan vỡ hạnh phúc. Nó để lại những vết sẹo không thể xóa nhòa trong lòng dân tộc và từng con người. Những người lính hy sinh nơi chiến trận, những người mẹ mất con, những người vợ mất chồng – tất cả đều là nạn nhân của chiến tranh. Không chỉ thế, chiến tranh còn kìm hãm sự phát triển, đẩy xã hội vào cảnh đói nghèo, lạc hậu.

Trong bối cảnh đất nước hòa bình hôm nay, thế hệ trẻ chúng ta cần nhận thức rõ giá trị của cuộc sống hiện tại. Hòa bình không tự nhiên mà có, đó là thành quả của biết bao hy sinh, máu và nước mắt. Vì vậy, trách nhiệm của thế hệ trẻ là phải trân trọng, giữ gìn và phát huy những giá trị ấy. Chúng ta cần sống có lý tưởng, học tập tốt, rèn luyện đạo đức, tích cực đóng góp cho xã hội. Đồng thời, cần lên tiếng phản đối chiến tranh, bảo vệ công lý và nhân quyền.

Hòa bình là nền tảng của hạnh phúc. Mỗi người trẻ hôm nay hãy là một hạt giống của yêu thương, một ngọn lửa của khát vọng sống đẹp, sống có ích – để thế giới mãi mãi không còn những người chinh phụ ngóng trông trong tuyệt vọng.

1.Văn bản được viết theo thể thơ song thất lục bát, một thể thơ truyền thống gồm hai câu 7 chữ tiếp theo là một cặp lục bát (6 chữ - 8 chữ).

2.“Trải mấy xuân tin đi tin lại, / Tới xuân này tin hãy vắng không.”

3.Người chinh phụ:

  • Sắm áo bông để phòng lạnh cho chồng
  • Gieo quẻ bói để tìm tin tức
  • Dạo bước hiên vắng, ngồi bên rèm thưa, thẫn thờ, ngẩn ngơ

--> Những hành động ấy thể hiện nỗi nhớ thương sâu sắc, sự cô đơn và tâm trạng bất an của người vợ. Đó là biểu hiện của tình yêu thủy chung và nỗi đau của người phụ nữ trong thời chiến.

4.Bptt Nhân hóa : “Đèn có biết dường bằng chẳng biết”

+) tạo ra hình ảnh gợi hình , gợi cảm , sinh động , hấp dẫn .

+) Gợi cảm giác cô đơn đến tột cùng, khi người chinh phụ chỉ còn biết trò chuyện với vật vô tri để giãi bày nỗi lòng, từ đó nhấn mạnh tâm trạng bi thiết và sự khao khát được sẻ chia.

5.Tâm trạng người chinh phụ ; Cô đơn, buồn tủi, nhớ thương, lo lắng, bi thiết vì không có tin tức từ chồng nơi chiến trận.

em có suy nghĩ là chiến tranh không chỉ gây đau thương nơi chiến trường mà còn để lại nỗi mất mát trong lòng người ở hậu phương. Cuộc sống hòa bình hôm nay là thành quả quý giá, thế hệ trẻ cần trân trọng, giữ gìn và sống có trách nhiệm để không lặp lại những bi kịch của quá khứ.

1 Mở bài

Truyện ngắn Bát phở của Phong Điệp là một tác phẩm giản dị nhưng sâu sắc, khắc họa tình cảm gia đình, đặc biệt là tình phụ tử. Qua hình ảnh hai người cha nghèo đưa con lên Hà Nội thi đại học, tác giả đã thể hiện sự hy sinh thầm lặng của cha mẹ dành cho con cái.

2. Thân bài

a. Chủ đề của tác phẩm

  • Truyện ngắn xoay quanh tình phụ tử thiêng liêng, sự hy sinh của cha mẹ dành cho con cái.
  • Hai người cha dù nghèo khó nhưng vẫn cố gắng dành những điều tốt nhất cho con, thể hiện qua việc nhường phần ăn, lo lắng về chi phí, tính toán từng đồng tiền.
  • Những người con thấu hiểu sự hy sinh của cha, nhưng cũng mang trong lòng nỗi âu lo về tương lai.

b. Đặc sắc nghệ thuật

  • Tình huống truyện giản dị nhưng giàu ý nghĩa: Một bữa ăn sáng tại quán phở nhưng chứa đựng cả một câu chuyện về tình cha con.
  • Ngôn ngữ mộc mạc, chân thực: Lời thoại của nhân vật gần gũi, thể hiện rõ tâm lý của người cha và người con.
  • Hình ảnh giàu sức gợi: Chi tiết chiếc ví vải bông chần màu lam, những đồng tiền lẻ, hai bát phở giúp người đọc cảm nhận được sự vất vả và tình yêu thương.
  • Ngôi kể thứ nhất: Giúp câu chuyện trở nên chân thực, gần gũi, tạo sự đồng cảm sâu sắc với người đọc.

3. Kết bài

Truyện ngắn Bát phở không chỉ là một câu chuyện về tình phụ tử, mà còn là lời nhắc nhở về giá trị của tình cảm gia đình. Với nghệ thuật kể chuyện tinh tế, tác phẩm đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc.

Câu 1 : Văn bản bàn về bức tranh mùa gặt ở nông thôn miền Bắc, thể hiện vẻ đẹp của đồng quê, sự vất vả của người nông dân và niềm vui khi thu hoạch lúa.

Câu 2: Câu văn nêu luận điểm trong đoạn (3) là: “Chưa hết, không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm.”

Câu 3: a. Thành phần biệt lập trong câu là thành phần tình thái: “hình như”.

b. Thành phần biệt lập trong câu là thành phần cảm thán: “người ơi”.

Câu 4:Đoạn (2) sử dụng cách trích dẫn bằng chứng từ hình ảnh thiên nhiên và biện pháp tu từ như nhân hóa, ẩn dụ. Tác dụng: Giúp người đọc hình dung rõ nét về không gian mùa gặt, tạo cảm giác sống động và gần gũi với đời sống nông thôn.

Câu 5: Các lý lẽ và bằng chứng trong đoạn (4) giúp thể hiện luận điểm về tình cảm lo xa của người nông dân. Chúng làm nổi bật sự trân trọng thành quả lao động, sự gắn bó giữa con người và cây lúa, đồng thời phản ánh tâm lý “cả nghĩ” của người nông dân.

Câu 6: Điều nghệ thuật nghị luận mà em thích nhất là cách sử dụng hình ảnh và ngôn ngữ giàu cảm xúc. Lý do: Giúp bài viết không chỉ mang tính phân tích mà còn truyền tải được tình cảm, sự chân thực và gần gũi với người đọc.

1. Chủ đề bài thơ

Bài thơ Bộ đội về làng của Hoàng Trung Thông là một tác phẩm tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam, được sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Chủ đề chính của bài thơ là niềm vui, sự hân hoan của nhân dân khi đón bộ đội trở về sau những năm tháng chiến đấu gian khổ. Qua đó, tác giả thể hiện tình cảm gắn bó sâu sắc giữa quân đội và nhân dân, cũng như sự đoàn kết, yêu thương trong thời kỳ chiến tranh.

Bài thơ khắc họa hình ảnh người lính Cụ Hồ giản dị, gần gũi, trở về quê hương trong sự chào đón nồng nhiệt của bà con. Không chỉ là niềm vui đoàn tụ, bài thơ còn phản ánh tình cảm yêu nước, sự gắn kết giữa nhân dân và bộ đội, thể hiện tinh thần lạc quan, niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước.

2. Đặc sắc nghệ thuật

Bài thơ Bộ đội về làng không chỉ có nội dung sâu sắc mà còn nổi bật với những đặc sắc nghệ thuật sau:

  • Thể thơ tự do, nhịp điệu linh hoạt: Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, giúp tác giả dễ dàng thể hiện cảm xúc một cách tự nhiên, chân thực. Nhịp điệu bài thơ nhanh, vui tươi, phù hợp với không khí náo nức của ngày bộ đội trở về.
  • Hình ảnh giản dị, gần gũi: Tác giả sử dụng những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam như mái lá nhà tre, bát nước chè xanh, nồi cơm nấu dở, tạo nên một không gian thân thuộc, ấm áp.
  • Ngôn ngữ mộc mạc, giàu cảm xúc: Lời thơ giản dị nhưng giàu sức gợi, giúp người đọc cảm nhận được niềm vui, sự xúc động của nhân dân khi đón bộ đội về làng.
  • Biện pháp tu từ: Bài thơ sử dụng nhiều biện pháp tu từ như điệp ngữ (Các anh về), nhân hóa (xóm nhỏ rộn ràng), giúp tăng cường tính biểu cảm và nhấn mạnh sự náo nức, vui mừng của nhân dân.
  • 3 kết luận
  • Bài thơ Bộ đội về làng không chỉ là một bức tranh sinh động về niềm vui đoàn tụ mà còn là một tác phẩm thể hiện tình cảm quân dân sâu sắc, tinh thần yêu nước và niềm tin vào tương lai. Với nghệ thuật thơ mộc mạc, giàu cảm xúc, bài thơ đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc, góp phần làm phong phú thêm nền thơ ca cách mạng Việt Nam.