LÊ NGỌC DIỆP
Giới thiệu về bản thân
- Thông điệp: Con người ta không thể cưỡng lại quy luật vô thường của thời gian và cuộc đời; chúng ta sống cần biết trân trọng hiện tại, giữ gìn những gì chúng ta đang có.
- Lí giải: Từ Thức từ bỏ chốn tiên để trở về trần vì nỗi nhớ quê hương, nhưng khi quay về thì mọi thứ đã thay đổi, không thể tìm lại được điều xưa cũ. Điều này nhắc nhở chúng ta không nên chạy theo nhữngkhát vọng xa vời, mà nên biết trân trọng thực tại, nơi mình đang sống và những người bên cạnh mình, vì một khi đã mất đi thì không thể quay trở lại.
- Thông điệp: Con người ta không thể cưỡng lại quy luật vô thường của thời gian và cuộc đời; chúng ta sống cần biết trân trọng hiện tại, giữ gìn những gì chúng ta đang có.
- Lí giải: Từ Thức từ bỏ chốn tiên để trở về trần vì nỗi nhớ quê hương, nhưng khi quay về thì mọi thứ đã thay đổi, không thể tìm lại được điều xưa cũ. Điều này nhắc nhở chúng ta không nên chạy theo nhữngkhát vọng xa vời, mà nên biết trân trọng thực tại, nơi mình đang sống và những người bên cạnh mình, vì một khi đã mất đi thì không thể quay trở lại.
Tác phẩm "Chinh phụ ngâm" của tác giả Đặng Trần Côn, ông sinh vào khoảng thế kỉ XVIII. Ông có một số tác phẩm nổi tiếng như: Trương Lương bố ý, Trương Hàn tư thuần lô, Tiêu Tương bát cảnh,...Bài thơ này được dịch ra bởi nhà thơ Đoàn Thị Điểm. Bài thơ này được viết nhằm thể hiện những tình cảm lưu luyến của người chinh phụ khi phải chia các người chinh phu.
Đoạn trích mở đầu bằng những hành động vô vọng, lặp đi lặp lại của người chinh phụ: "Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, / Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen". Những bước chân luẩn quẩn, những lần ngồi xuống rồi lại đứng lên không phải để làm việc gì mà cốt để giết thời gian, để xua đi sự cô quạnh đang bao trùm.
Nỗi cô đơn được đẩy lên thành sự bế tắc khi nàng cố gắng tìm kiếm sự chia sẻ, đồng cảm. Khao khát tin tức từ chồng được gói gọn trong hình ảnh ước lệ: "Ngoài rèm thước chẳng mách tin". Nàng chuyển sang vật vô tri bên mình là ngọn đèn: "Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?" Nhưng rồi, nàng lại tự nhận lấy sự cô độc: "Đèn có biết dường bằng chẳng biết, / Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi". Cụm từ "bi thiết" đã nhấn mạnh nỗi buồn đã trở thành nỗi đau đớn, thảm thương đến tận cùng. Hình ảnh đối lập giữa vật và người: "Hoa đèn kia với bóng người khá thương" càng làm nổi bật sự lẻ loi, tội nghiệp của người chinh phụ giữa đêm khuya.
Nghệ thuật của đoạn trích đạt đến đỉnh cao trong việc cảm nhận thời gian và không gian. Môi trường xung quanh càng tĩnh lặng, nỗi buồn tủi càng da diết. Âm thanh "Gà eo óc gáy sương năm trống" và hình ảnh "Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên" không làm thời gian trôi đi mà chỉ làm tăng thêm sự vắng vẻ, heo hút. Tâm trạng sầu khổ khiến người chinh phụ có sự cảm nhận bất thường về thời gian và không gian, được thể hiện qua câu so sánh: "Khắc giờ đằng đẳng như niên" nghĩa là một khắc dài bằng một năm, thời gian như không chỉ chậm lại mà còn bị kéo giãn đến vô tận, diễn tả sự chờ đợi mòn mỏi của người chinh phụ. Đoạn kết là sự gắng gượng tìm kiếm lối thoát khỏi nỗi buồn, nhưng cuối cùng lại càng nhấn mạnh sự bế tắc. Điệp từ "gượng" được lặp lại ba lần, trở thành điểm nhấn nghệ thuật: "Hương gượng đốt" nhưng hồn đã "mê mải". Thể thơ song thất lục bát giúp thổ lộ cảm xúc của con người, tạo ra âm hưởng buồn thương như dòng tâm trạng của người phụ nữ trong suốt cả đoạn trích. Thể thơ song thất lục bát trang trọng, uyển chuyển, cùng với việc sử dụng khéo léo các từ láy giàu sức gợi và phép so sánh độc đáo, đoạn trích đã lột tả thành công vẻ đẹp tâm hồn và bi kịch của người chinh phụ.
Qua bài thơ "Chinh phụ ngâm", nỗi sầu ly biệt được miêu tả không chỉ ở bề mặt mà còn đi sâu vào từng ngóc ngách tâm lý, biến tác phẩm không chỉ là lời than cá nhân mà còn là phản ánh những bi kịch chung của người phụ nữ trong chiến tranh phi nghĩa.