Trần Đinh Khoa
Giới thiệu về bản thân
ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
Câu 1 Văn bản giới thiệu về: Văn bản giới thiệu về Quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận ngày 11/12/1993. Cụ thể gồm: Kinh thành Huế, Hoàng thành, Tử cấm thành, lăng tẩm các vua Nguyễn, đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, Hổ Quyền, Văn Miếu, Võ Miếu, điện Hòn Chén...
Câu 2 Phương thức biểu đạt được sử dụng: Văn bản sử dụng chủ yếu 2 phương thức:
Thuyết minh: Giới thiệu thông tin khách quan về vị trí, kiến trúc, lịch sử, giá trị của Quần thể di tích Cố đô Huế.
Biểu cảm: Thể hiện cảm xúc tự hào, ngợi ca vẻ đẹp và giá trị văn hóa của di sản qua các từ ngữ như “sừng sững”, “tiết tấu diệu kỳ”, “niềm tự hào của chúng ta”.
Câu 3 Vì sao đây là văn bản thông tin tổng hợp?
Văn bản được coi là văn bản thông tin tổng hợp vì:
Tổng hợp nhiều loại thông tin: Vừa cung cấp thông tin về lịch sử, kiến trúc, văn hóa, vừa nêu giá trị nghệ thuật, giá trị tinh thần và quá trình bảo tồn.
Đề cập nhiều đối tượng: Không chỉ nói về Kinh thành mà còn nói đến lăng tẩm, đàn tế, miếu, thắng cảnh tự nhiên liên quan.
Kết hợp dữ liệu cụ thể và đánh giá khái quát: Có số liệu “mỗi chiều xấp xỉ 600m”, mốc thời gian “11/12/1993”, đồng thời có nhận xét “mẫu mực của sự kết hợp hài hòa Đông - Tây”, “quốc hồn quốc túy của dân tộc”.
Câu 4Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ và tác dụng: Phương tiện: Hình ảnh minh họa “Ảnh: Cố đô Huế Hoàng thành”.
Tác dụng:
- Trực quan hóa nội dung, giúp người đọc hình dung rõ hơn vẻ đẹp kiến trúc của Hoàng thành Huế.
- Tăng tính sinh động, hấp dẫn cho văn bản thông tin vốn khô khan.
- Khơi gợi cảm xúc, niềm tự hào về di sản văn hóa dân tộc.
Câu 5 (2,0 điểm). Suy nghĩ, cảm nhận về Quần thể di tích Cố đô Huế:
Đọc văn bản, tôi cảm thấy vô cùng tự hào về Quần thể di tích Cố đô Huế - nơi kết tinh hoa văn hóa, lịch sử và tâm hồn Việt. Huế không chỉ đẹp bởi kiến trúc “kết hợp hài hòa Đông - Tây” mà còn đẹp bởi sự hòa quyện giữa công trình nhân tạo và thiên nhiên như núi Ngự, sông Hương. Mỗi lăng tẩm lại như một câu chuyện về tính cách, số phận của một vị vua, khiến di sản trở nên sống động, có hồn. Đặc biệt, việc Huế có cả di sản vật thể lẫn phi vật thể được UNESCO công nhận cho thấy giá trị vượt thời gian của mảnh đất này. Với tôi, Huế là minh chứng cho một dân tộc biết trân trọng quá khứ và nỗ lực bảo tồn cho tương lai. Là thế hệ trẻ, tôi thấy mình có trách nhiệm tìm hiểu, giữ gìn và quảng bá để “Huế sẽ mãi được giữ gìn” như lời văn bản khẳng định.
Bạn cần mình rút gọn câu 5 xuống đúng 150 chữ để nộp bài không?
Câu 1
Trong dòng chảy hội nhập và phát triển, việc bảo vệ và giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền thống của giới trẻ Việt Nam ngày càng trở thành vấn đề đáng quan tâm. Văn hóa truyền thống là hồn cốt dân tộc, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp mỗi người trẻ hiểu rõ cội nguồn và bản sắc của mình.
Hiện nay, nhiều bạn trẻ đã thể hiện ý thức tích cực qua việc mặc áo dài vào dịp lễ, tìm hiểu và học chơi nhạc cụ dân tộc, tham gia các lễ hội truyền thống, lan tỏa giá trị văn hóa Việt trên mạng xã hội bằng những video ngắn sáng tạo. Điều đó cho thấy văn hóa truyền thống không hề cũ kỹ, mà có thể “trẻ hóa” nếu được tiếp cận đúng cách.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận giới trẻ thờ ơ, chạy theo văn hóa ngoại lai, thậm chí xem thường giá trị truyền thống. Nguyên nhân một phần do thiếu hiểu biết, thiếu môi trường trải nghiệm và định hướng từ gia đình, nhà trường.
Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần tự ý thức rằng giữ gìn văn hóa không phải là gánh nặng mà là niềm tự hào. Khi chúng ta biết trân trọng áo dài, bánh chưng, câu hò ví dặm, ta đang góp phần để bản sắc Việt Nam không bị hòa tan giữa thế giới rộng lớn. Chỉ khi gốc rễ vững bền, thế hệ trẻ mới đủ tự tin để vươn ra và tỏa sáng.
Câu 2
Trong dòng chảy của thơ ca viết về tình thân, có những bài thơ không cần những hình ảnh lớn lao, không cần ngôn từ đao to búa lớn, chỉ cần một vài khoảnh khắc đời thường cũng đủ làm người đọc xúc động. Bài thơ trên là một ví dụ như thế. Bằng giọng điệu thủ thỉ, chất liệu bình dị, tác giả đã vẽ nên bức tranh chiều tan học trên đường quê, qua đó ngợi ca tình bà cháu thiêng liêng và nhắc nhở mỗi người biết trân trọng những điều gần gũi nhất.
Mở đầu bài thơ là một hình ảnh vừa thực vừa mộng: “khói chiều cõng một hoàng hôn / bờ vai bà cõng tâm hồn cháu bay”. Động từ “cõng” được lặp lại hai lần, tạo nhịp nối liền giữa cảnh và người, giữa ngoại cảnh và tình cảm. Khói chiều cõng hoàng hôn là một liên tưởng đẹp, gợi sự dịu dàng, chậm rãi của buổi chiều quê. Nhưng hình ảnh trung tâm lại là “bờ vai bà cõng tâm hồn cháu bay”. Chỉ một chữ “cõng” thôi đã nói hết sự nhọc nhằn, tần tảo của bà, đồng thời cũng nói hết niềm tin cậy, chở che mà đứa cháu nhỏ đặt trọn vào bà. Bà không chỉ cõng cháu trên chiếc xe đạp cũ, bà còn cõng cả ước mơ, cả tuổi thơ của cháu trên hành trình trưởng thành.
Dòng cảm xúc của đứa trẻ hiện lên tự nhiên, hồn nhiên như chính tuổi thơ. Trên đường về, tâm trí cháu không ngừng hướng ra bên ngoài với những câu hỏi vụng dại: “có ai đốt rạ, khói lay cỏ đồng?”, “đám bạn có ra giỡn cười?”, “trông vườn trái đã mọng tươi chưa?”. Thế giới của trẻ thơ chỉ nhỏ bé vậy thôi, chỉ là khói rạ, là bạn bè, là vườn trái. Nhưng chính trong cái nhỏ bé ấy lại thấy được sự phong phú, sinh động của đời sống làng quê. Niềm vui của cháu cũng giản dị đến mức dễ thương: “sáng nay ông bảo điểm mười, ông cho / sáng nay bà nấu thịt kho / về nhà cháu sẽ ăn no bụng tròn”. Một điểm mười, một bữa thịt kho cũng đủ làm cả buổi chiều trở nên rạng rỡ. Chi tiết ấy cho thấy tuổi thơ không cần điều gì lớn lao, chỉ cần sự quan tâm, yêu thương từ ông bà là đã thấy đủ đầy.
Song song với dòng cảm xúc của cháu là hình ảnh người bà tần tảo, âm thầm. Bà không nói một lời, chỉ hiện ra qua “bánh xe bà đạp quay tròn”, qua câu hỏi “bao giờ đi hết đường mòn, bà ơi?” và qua sự nhọc nhằn của một buổi chiều “đồng xa đã lặn Mặt Trời”. Bà là điểm tựa, là bầu trời yên bình để cháu vô tư “mải chơi”. Và chính ở đây, bài thơ đạt đến độ sâu lắng với câu thơ kết: “mà quên ngắm một Mặt Trời cạnh bên”. “Mặt Trời” trong câu thơ không phải là vầng dương trên trời, mà chính là người bà đang âm thầm tỏa sáng vì cháu. Hình ảnh ẩn dụ này vừa bất ngờ, vừa hợp lý. Nó cho thấy sự vô tư của tuổi thơ đôi khi khiến ta lãng quên những điều thiêng liêng nhất đang ở ngay cạnh mình. Chỉ khi lớn lên, ngoảnh lại, ta mới nhận ra bà chính là “Mặt Trời” đã sưởi ấm cả tuổi thơ ta.
Về nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ giọng điệu thủ thỉ, như lời độc thoại của một đứa trẻ. Các câu thơ ngắt nhịp không đều, đôi chỗ như câu hỏi, câu cảm thán: “bà ơi?”, “đám bạn có ra giỡn cười?”. Giọng điệu ấy tạo cảm giác chân thực, gần gũi, khiến người đọc như đang nghe một đứa cháu kể chuyện cho bà nghe. Ngôn ngữ thơ cũng rất đời, gần với lời nói tự nhiên: “trông trông”, “giỡn cười”, “bụng tròn”. Sự mộc mạc ấy lại là điểm cộng, giúp bài thơ dễ đi vào lòng người.
Hình ảnh thơ giản dị nhưng giàu sức gợi. “Khói chiều”, “khói lay cỏ đồng”, “bánh xe bà đạp quay tròn”, “đồng xa đã lặn Mặt Trời” đều là những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam. Không cần tô vẽ cầu kỳ, chỉ cần gọi tên thôi cũng đủ gợi ra không gian chiều quê yên bình, có chút buồn nhưng ấm áp. Nghệ thuật ẩn dụ được sử dụng tinh tế, đặc biệt ở hình ảnh “Mặt Trời cạnh bên”, đã nâng tầm cảm xúc của bài thơ từ tình cảm đời thường lên thành một triết lý nhẹ nhàng về sự trân trọng.
Tóm lại, bài thơ là một khúc ca nhẹ nhàng về tình bà cháu và tuổi thơ làng quê. Về nội dung, tác phẩm ca ngợi tình cảm thiêng liêng giữa bà và cháu, đồng thời gợi nhắc mỗi người đừng để “quên ngắm Mặt Trời” ngay cạnh bên mình. Về nghệ thuật, tác giả đã thành công nhờ giọng điệu thủ thỉ, hình ảnh gần gũi và bút pháp ẩn dụ tinh tế. Đọc xong bài thơ, trong lòng mỗi người chắc hẳn sẽ hiện lên hình bóng một người bà, một chiếc xe đạp cũ và một buổi chiều tan học đã xa. Và hơn hết, ta chợt nhận ra rằng hạnh phúc đôi khi chỉ giản dị như thế, ngay trong vòng tay của những người thân yêu nhất.
câu 1: thất ngôn
câu 2: gieo vần chân
câu 3: ẩn dụ ,hoán dụ
câu 4: những cuộc chia tay,chủ đề bài thơ thể hiện nỗi buồn
câu 5:được thể hiện qua việc kể lại cảnh chia ly lỗi buồn của tác giả.Tác dụng tăng thêm tính chân thực và cảm xúc cho baif thơ