TRẦN TRANG NHUNG

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của TRẦN TRANG NHUNG
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

a,

Có Việc anh K mở công ty tại tỉnh E là thực hiện quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực kinh tế.

Vì:

Quyền tự do kinh doanh: Anh K có quyền tự lựa chọn loại hình doanh nghiệp, ngành nghề và địa điểm (tỉnh E) phù hợp với khả năng của mình. Tự chủ huy động vốn: Việc anh K tìm kiếm nhà đầu tư nước ngoài là quyền chủ động khai thác nguồn lực hợp pháp để phát triển kinh tế. Cạnh tranh lành mạnh: Việc anh K có lợi thế về vốn và công nghệ không vi phạm sự bình đẳng. Bình đẳng ở đây là mọi công dân đều có cơ hội ngang nhau trước pháp luật để khởi nghiệp, không phân biệt người mới hay doanh nghiệp lâu năm.

a,

Vi phạm: Quyền tự do ngôn luận của công dân. Vì sao: Vì anh K đang thực hiện quyền phát biểu ý kiến, đóng góp giải pháp xây dựng cho địa phương tại cuộc đối thoại, nhưng ông N lại dùng quyền hạn của mình để ngăn cản, bắt anh K phải im lặng.

b, Các việc anh K nên làm:

Trực tiếp: Lịch sự đề nghị ông N giải thích lý do và khẳng định quyền được đóng góp ý kiến vì lợi ích chung. Gián tiếp: Chuyển các kiến nghị, giải pháp của mình thành văn bản (đơn/thư góp ý) gửi tới văn phòng UBND tỉnh để đảm bảo ý kiến được ghi nhận. Báo cáo: Thông tin sự việc với tổ chức xã hội nơi mình công tác để có sự can thiệp, bảo vệ quyền lợi hợp pháp.

Việc chị T mở quán cà phê kết hợp không gian làm việc (co-working space) là một biểu hiện rõ nét của việc thực hiện quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực kinh tế. Vì:

Chị T đang thực hiện đúng quyền bình đẳng của mình là: Tự do lựa chọn ngành, nghề, hình thức kinh doanh và chủ động tìm kiếm cơ hội kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Câu 1: Thể thơ 7 chữ

Câu 2: Bài thơ viết về đề tài chia li, ly biệt (cụ thể là những cuộc chia tay diễn ra tại sân ga), và qua đó thể hiện nỗi buồn, sự cô đơn, cùng tình cảm lưu luyến, xót xa của con người trước những cảnh chia phôi.

Câu 3: Biện pháp tu từ đc sử dụng suốt bài thơ là: điệp ngữ

- "Có lần tôi thấy..." (được lặp lại năm lần): Tạo ra một điệp khúc buồn, nhấn mạnh sự quan sát, chứng kiến của nhân vật trữ tình về nhiều cảnh chia ly khác nhau, làm nổi bật sự lặp đi lặp lại của những nỗi buồn ly biệt trên sân ga, tạo cảm giác nhân vật trữ tình đồng cảm và bị ám ảnh bởi những cảnh chia li ấy. - "Những..." ở khổ cuối: Những chiếc khăn màu thổn thức bay / Những bàn tay vẫy những bàn tay / Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt. Tạo nên sự liệt kê, nhấn mạnh những cử chỉ, hình ảnh cuối cùng, chất chứa nỗi buồn và sự lưu luyến tột cùng của những người phải chia xa.

Câu 4: Vần: Câu (1) và câu (2) gieo vần chân ở chữ "bay" và "tay" Câu (2) và câu (4) gieo vần lưng/vần thông ở chữ "tay" và "này" Kiểu vần: Vần liền (hoặc vần hai câu liên tiếp: bay - tay) và vần thông (hoặc vần cách) giữa các câu trong khổ.

Câu 5:

- Chủ đề: Bài thơ khắc họa nỗi buồn ly biệt của nhiều cảnh ngộ khác nhau trên sân ga, từ đó gửi gắm niềm xót xa, thương cảm của nhà thơ trước những mảnh đời nhỏ bé, cô đơn, phải chịu sự chia cắt. Sân ga trở thành biểu tượng của những cuộc chia ly và nỗi sầu biệt ly trong đời sống con người.

Mạch cảm xúc: Mạch cảm xúc là dòng cảm xúc trầm buồn, xót xa, tiếc nuối tuôn chảy qua những lần quan sát và hồi tưởng của nhân vật trữ tình ("Có lần tôi thấy..."). Cảm xúc bắt đầu bằng sự buồn chung của chia ly ("Những cuộc chia lìa khởi từ đây") rồi được liệt kê, đẩy lên cao trào qua từng cảnh ngộ cụ thể (hai cô bé, đôi lứa yêu nhau, vợ chồng, mẹ già tiễn con, người đi một mình), và kết thúc bằng sự khái quát hóa nỗi buồn ấy thành một câu hỏi tu từ đầy day dứt.

Câu 1: thể thơ tự do

Câu 2: PTBĐ chính: biểu cảm

Câu 3:

“Chùm phượng hồng yêu dấu ấy rơi tơi tả” “Con ve tiên tri vỡ tan đầu bờ trước” “Sách lớp học bàng hoàng mưa giăng kín” “Có một nàng Bạch Tuyết các bạn ơi / Với lại bảy chú lùn rất quấy!” “Những chuyện năm nao, những chuyện năm nào” Những kỉ niệm ấy rất đặc biệt vì gợi lại hình ảnh trong trẻo, hồn nhiên, tinh nghịch và đầy cảm xúc của tuổi học trò. Đó là những khoảnh khắc trong sáng, khó quên, gắn bó với một thời thanh xuân đẹp đẽ trước khi bước vào những biến động lớn của cuộc đời.

Câu 4:

Dòng thơ sử dụng biện pháp ẩn dụ kết hợp nhân hóa. Hình ảnh “tiếng ve xé đôi hồ nước” khiến âm thanh của ve như có sức mạnh chia cắt không gian yên tĩnh, tạo ấn tượng mạnh về sự rạo rực, náo nức của mùa hè. Biện pháp này giúp làm nổi bật sự chuyển mùa, gợi cảm xúc bồi hồi, xao xuyến của thời khắc chia xa tuổi học trò.

Câu 5:

Em ấn tượng với hình ảnh: “Anh nhổ cọc, nhổ cỏ ngoảnh lại / Hoa sấu rơi, trắng sân trường chiếc lá buổi đầu tiên”. Bởi hình ảnh này vừa gợi nên sự chia xa, vừa chan chứa cảm xúc lưu luyến, tiếc nuối. “Chiếc lá buổi đầu tiên” là biểu tượng của sự khởi đầu, của tình yêu đầu đời, nhưng đồng thời cũng là khoảnh khắc chia tay với một thời tuổi trẻ đẹp đẽ. Nó đọng lại trong tâm trí người đọc như một nét ký ức dịu dàng, khó quên.

Câu 1:

Bài thơ “Chiếc lá đầu tiên” của Hoàng Nhuận Cầm là một bản tình ca nhẹ nhàng, sâu lắng về những rung cảm đầu đời – thứ tình yêu trong trẻo, ngọt ngào nhưng cũng đầy xao xuyến và mong manh. Hình ảnh “chiếc lá đầu tiên” không chỉ gợi lên vẻ đẹp tinh khôi của thiên nhiên, mà còn là biểu tượng giàu sức gợi về mối tình đầu – một tình yêu vừa chớm nở đã chất chứa bao khát khao, lo âu và cả nỗi sợ mất mát. Tình yêu ấy, dù còn non trẻ, nhưng đã đủ làm trái tim thi sĩ rung động, đủ để tạo nên những vần thơ tràn đầy cảm xúc. Về nghệ thuật, bài thơ nổi bật với giọng điệu trữ tình, sâu lắng, ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh và nhạc điệu. Việc sử dụng nhiều biện pháp tu từ như ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ đã góp phần tạo nên chiều sâu cảm xúc và vẻ đẹp lãng mạn cho bài thơ. Những câu thơ như ngân nga, chảy trôi theo mạch cảm xúc, khiến người đọc như được đồng cảm, sẻ chia với trái tim yêu đầy khát khao và yếu đuối của người thi sĩ.

Câu 2:

Câu nói trong tiểu thuyết “Sáu người đi khắp thế gian” của James Michener: “Mặc dù bọn trẻ ném đá vào lũ ếch để đùa vui, nhưng lũ ếch không chết đùa mà chết thật” là một hình ảnh ẩn dụ sâu sắc, nhắc nhở con người về trách nhiệm trong từng hành động, dù là nhỏ nhất. Những đứa trẻ trong câu văn có thể vô tư, hồn nhiên, hành động chỉ vì trò đùa vui vẻ. Nhưng điều mà chúng không nhận ra là hậu quả mà chúng gây ra lại vô cùng thật – những sinh vật nhỏ bé, yếu đuối đã bị tổn thương, thậm chí mất mạng. Điều này cũng phản ánh một hiện thực trong cuộc sống: có những lời nói, hành động mà ta cho là vô hại, là bông đùa, nhưng lại có thể để lại nỗi đau, tổn thương sâu sắc cho người khác. Sự vô tâm, thiếu suy nghĩ có thể khiến những hành vi tưởng chừng vô ý lại trở thành những vết cứa không thể lành trong lòng người. Câu nói của Michener không chỉ là một lời cảnh tỉnh, mà còn là một bài học nhân văn sâu sắc về sự thấu cảm và trách nhiệm. Sống giữa cộng đồng, con người cần học cách suy nghĩ cho người khác, biết đặt mình vào vị trí của họ để hiểu rằng những trò đùa vô thưởng vô phạt đôi khi có thể đánh đổi bằng nước mắt, nỗi đau, hay thậm chí là sinh mạng. Trong thế giới ngày nay, khi sự vô cảm và ích kỷ dễ dàng len lỏi vào từng hành vi nhỏ, thì thông điệp ấy lại càng trở nên cần thiết. Hãy sống chậm lại một chút, nghĩ xa hơn một chút để thấy rằng: sự tử tế không bao giờ là thừa, và mỗi hành động có ý thức chính là cách ta góp phần làm cho cuộc sống trở nên nhân văn, tốt đẹp hơn.