Lê Huyền Diệu Diệu
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 (Đoạn văn khoảng 200 chữ) Đoạn trích Chén thuốc độc của Vũ Đình Long đã khắc họa sâu sắc bi kịch tinh thần của nhân vật thầy Thông Thu – một trí thức sa ngã vì lối sống hưởng lạc. Khi gia sản tiêu tan và đứng trước nguy cơ tù tội, nhân vật bắt đầu tỉnh ngộ, nhìn lại những tháng ngày “ném tiền qua cửa sổ” của mình với sự ân hận và tự trách. Những lời độc thoại dồn dập cùng các chỉ dẫn sân khấu như “thở dài”, “nâng cốc rồi đặt xuống” đã diễn tả rõ sự giằng xé dữ dội trong tâm hồn nhân vật. Thầy Thông Thu rơi vào trạng thái tuyệt vọng, coi cái chết như lối thoát cuối cùng. Tuy nhiên, khi nghĩ đến mẹ, vợ và em, nhân vật lại chần chừ, cho thấy phần lương tri và tình thân vẫn còn tồn tại. Qua bi kịch của Thông Thu, tác giả phê phán lối sống ăn chơi, thiếu trách nhiệm của một bộ phận trí thức đương thời, đồng thời gửi gắm thông điệp sâu sắc: con người phải biết làm chủ bản thân, sống có trách nhiệm với gia đình và xã hội. Đoạn trích vừa mang tính hiện thực vừa giàu giá trị nhân văn. Câu 2 (Bài văn nghị luận khoảng 600 chữ) Trong vở kịch Chén thuốc độc, nhân vật thầy Thông Thu vì thói quen “tiêu hoang ném tiền qua cửa sổ” đã nhanh chóng rơi vào cảnh khánh kiệt và bế tắc. Tình huống ấy không chỉ phản ánh một bi kịch cá nhân mà còn gợi ra vấn đề đáng suy nghĩ trong xã hội hôm nay: thói quen tiêu xài thiếu kiểm soát của một bộ phận giới trẻ. Tiêu xài thiếu kiểm soát là việc chi tiêu vượt quá khả năng tài chính, mua sắm theo cảm xúc, chạy theo xu hướng mà không cân nhắc nhu cầu thực tế. Trong thời đại mạng xã hội phát triển, hiện tượng này ngày càng phổ biến. Nhiều bạn trẻ sẵn sàng bỏ số tiền lớn để mua điện thoại mới, quần áo hàng hiệu, đồ công nghệ hay ăn uống sang trọng chỉ để thể hiện bản thân. Không ít người còn phụ thuộc vào tiền gia đình hoặc vay mượn, sử dụng thẻ tín dụng khi chưa có khả năng chi trả. Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ nhiều phía. Trước hết là tâm lí thích thể hiện, muốn khẳng định giá trị bản thân qua vật chất. Bên cạnh đó, sự tác động của quảng cáo, mạng xã hội và lối sống tiêu dùng hiện đại khiến nhiều người trẻ dễ chạy theo hình thức. Một số bạn thiếu kĩ năng quản lí tài chính cá nhân, chưa nhận thức rõ giá trị của lao động và đồng tiền nên chi tiêu tùy hứng. Hậu quả của việc tiêu xài thiếu kiểm soát là vô cùng lớn. Trước hết, nó khiến người trẻ rơi vào áp lực tài chính, nợ nần, phụ thuộc vào gia đình. Về lâu dài, thói quen này hình thành lối sống hưởng thụ, thiếu trách nhiệm, làm suy giảm ý chí phấn đấu. Nhiều người vì muốn duy trì cuộc sống xa hoa đã sa vào hành vi tiêu cực hoặc đánh mất phương hướng tương lai. Bi kịch của thầy Thông Thu chính là bài học cảnh tỉnh sâu sắc: khi con người không làm chủ bản thân, vật chất sẽ trở thành “chén thuốc độc” hủy hoại cuộc đời. Tuy nhiên, vẫn có nhiều bạn trẻ sống tích cực, biết tiết kiệm, lập kế hoạch tài chính và tiêu dùng thông minh. Họ hiểu rằng giá trị con người không nằm ở những thứ mình sở hữu mà ở tri thức, nhân cách và sự nỗ lực lao động. Để khắc phục tình trạng tiêu xài thiếu kiểm soát, mỗi người trẻ cần học cách quản lí chi tiêu hợp lí, phân biệt giữa nhu cầu và mong muốn, biết tiết kiệm và trân trọng công sức lao động. Gia đình và nhà trường cũng cần giáo dục kĩ năng tài chính, giúp học sinh hiểu giá trị của đồng tiền và trách nhiệm cá nhân. Tóm lại, tiêu dùng hợp lí là biểu hiện của lối sống trưởng thành và có trách nhiệm. Bài học từ nhân vật Thông Thu nhắc nhở mỗi người trẻ hôm nay phải biết kiểm soát ham muốn vật chất, sống cân bằng và hướng tới những giá trị bền vững của cuộc đời.
Câu 1. Văn bản Chén thuốc độc thuộc thể loại kịch (kịch nói). Câu 2. Đoạn trích chủ yếu được triển khai bằng ngôn ngữ đối thoại và độc thoại của nhân vật. Câu 3. Một số lời chỉ dẫn sân khấu: (Bóp trán nghĩ ngợi) (Một mình, thở dài) (Đứng dậy lấy chai dấm thanh…) (Cầm cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống) (Lấy dao mở hộp thuốc phiện…) - Vai trò: Giúp người đọc và người xem hình dung hành động, cử chỉ, trạng thái tâm lí của nhân vật. Làm nổi bật diễn biến nội tâm căng thẳng của thầy Thông Thu. Tăng tính kịch, góp phần thể hiện xung đột tâm lí và nội dung tư tưởng của tác phẩm. Câu 4. Diễn biến tâm lí của thầy Thông Thu: Ở hồi thứ Hai: Thầy Thông Thu tỉnh ngộ khi kiểm kê tài sản và nhận ra gia đình đã tiêu tan vì lối sống ăn chơi. Nhân vật day dứt, ân hận, tự trách bản thân, nhận ra lỗi lầm vì không nghe lời khuyên của bạn. Ý thức được sự sa ngã của mình làm mất danh dự và phá hoại gia sản cha để lại. Ở hồi thứ Ba: Tâm trạng chuyển sang tuyệt vọng, bế tắc trước nguy cơ tù tội và mất hết tương lai. Nảy sinh ý định tìm đến cái chết để giải thoát. Tuy nhiên, nội tâm giằng xé dữ dội: vừa muốn chết, vừa nghĩ đến mẹ, vợ và em. Điều đó cho thấy nhân vật vẫn còn lương tâm, tình cảm gia đình và sự thức tỉnh muộn màng. Tâm lí nhân vật vận động từ ăn năn → tuyệt vọng → giằng co giữa sống và chết. Câu 5. Em không đồng tình với quyết định tìm đến cái chết của thầy Thông Thu. Bởi cái chết không giải quyết được vấn đề mà chỉ là cách trốn tránh hậu quả do chính mình gây ra. Con người khi mắc sai lầm cần dũng cảm đối diện, sửa chữa lỗi lầm và làm lại cuộc đời. Hơn nữa, cái chết còn khiến người thân đau khổ và mất đi cơ hội chuộc lỗi. Vì vậy, sống có trách nhiệm mới là lựa chọn đúng đắn.
Câu 2 (4,0 điểm) Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) Trong nền thơ ca kháng chiến chống Pháp, thơ Nguyễn Đình Thi mang vẻ đẹp vừa lãng mạn vừa sâu lắng, giàu suy tư. Bài thơ Nhớ là một trong những thi phẩm tiêu biểu thể hiện tình yêu đôi lứa hòa quyện với tình yêu đất nước. Qua đó, tâm trạng của nhân vật trữ tình hiện lên tha thiết, nồng nàn nhưng cũng đầy lý tưởng và niềm tin chiến đấu. Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ được gửi gắm qua hình ảnh thiên nhiên giàu tính biểu tượng: “Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây” Nỗi nhớ không được nói trực tiếp mà hóa thân vào ngôi sao, ngọn lửa. Những hình ảnh thiên nhiên vừa thực vừa giàu ý nghĩa tượng trưng. Ngôi sao lấp lánh giữa đèo mây gợi ánh sáng dẫn đường cho người chiến sĩ trong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ. Ngọn lửa hồng sưởi ấm đêm lạnh không chỉ là hơi ấm vật chất mà còn là hơi ấm của tình yêu, của niềm tin. Qua đó, ta thấy tâm trạng nhân vật trữ tình là nỗi nhớ sâu nặng, luôn hướng về người mình yêu ngay giữa chiến trường khắc nghiệt. Đến khổ thơ thứ hai, nỗi nhớ trở nên trực tiếp và mãnh liệt hơn: “Anh yêu em như anh yêu đất nước Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần” Tình yêu đôi lứa được đặt ngang hàng với tình yêu Tổ quốc. Đây là nét đẹp rất riêng của thơ ca thời kháng chiến: tình yêu cá nhân không tách rời lý tưởng dân tộc. Nhân vật trữ tình yêu người con gái cũng như yêu đất nước — một tình yêu sâu sắc, bền bỉ, trải qua gian khổ mà vẫn tươi đẹp. Nỗi nhớ người yêu theo bước chân người chiến sĩ trong từng khoảnh khắc đời sống: mỗi bước đường hành quân, mỗi bữa ăn, mỗi giấc ngủ. Điều đó cho thấy tình yêu đã trở thành nguồn sức mạnh tinh thần nâng đỡ người lính vượt qua khó khăn. Khổ thơ cuối mở rộng cảm xúc từ nỗi nhớ riêng sang lý tưởng chung: “Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời” Ngôi sao và ngọn lửa tiếp tục xuất hiện như những biểu tượng của niềm tin bất diệt. Tình yêu ở đây không chỉ là tình cảm cá nhân mà còn là sức mạnh tinh thần gắn liền với nhiệm vụ chiến đấu. Nhân vật trữ tình mang tâm trạng lạc quan, tin tưởng vào tương lai. Tình yêu giúp con người “kiêu hãnh làm người”, sống có lý tưởng, có trách nhiệm với đất nước. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do, giọng điệu tha thiết, ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi. Các hình ảnh biểu tượng như ngôi sao, ngọn lửa vừa mang vẻ đẹp lãng mạn vừa thể hiện chiều sâu cảm xúc. Nguyễn Đình Thi đã kết hợp hài hòa giữa chất trữ tình và chất sử thi, làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn người chiến sĩ thời kháng chiến. Tóm lại, qua bài thơ Nhớ, tâm trạng nhân vật trữ tình hiện lên với nỗi nhớ da diết, tình yêu chân thành và lý tưởng sống cao đẹp. Tình yêu đôi lứa hòa quyện với tình yêu đất nước đã tạo nên vẻ đẹp riêng của thơ ca kháng chiến và góp phần khắc họa hình tượng người chiến sĩ vừa giàu tình cảm vừa giàu ý chí. Bài thơ không chỉ ca ngợi tình yêu mà còn khẳng định sức mạnh tinh thần giúp con người vượt qua chiến tranh để hướng tới tương lai tươi sáng.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: nghị luận. Câu 2. Văn bản bàn về ý nghĩa và vai trò của lao động đối với cuộc sống con người và xã hội. Câu 3. Để làm rõ ý kiến “Mọi động vật đều lao động, trước hết là để duy trì sự sống.”, tác giả đã đưa ra các bằng chứng: Chim yến khi còn nhỏ được bố mẹ mớm mồi, nhưng khi trưởng thành phải tự đi kiếm ăn. Hổ và sư tử cũng phải tự săn mồi để tồn tại. Nhận xét: Những bằng chứng này gần gũi, cụ thể, dễ hiểu, lấy từ tự nhiên nên có sức thuyết phục cao, giúp người đọc nhận ra lao động là quy luật chung của mọi sinh vật. Câu 4. Câu văn cho em suy nghĩ rằng: Niềm vui trong lao động có ý nghĩa rất quan trọng đối với hạnh phúc của con người. Khi con người yêu thích và tìm thấy giá trị trong công việc, họ sẽ cảm thấy cuộc sống ý nghĩa, tích cực và hạnh phúc hơn. Ngược lại, nếu coi lao động là gánh nặng thì con người dễ chán nản, mất động lực sống. Câu 5. Một biểu hiện cho thấy hiện nay vẫn có người nhận thức chưa đúng về ý nghĩa của lao động là: Một số bạn trẻ lười lao động, chỉ muốn hưởng thụ, ngại làm việc nhà hoặc việc tập thể, cho rằng lao động tay chân là vất vả và không cần thiết, chỉ chú trọng hưởng thụ mà không muốn đóng góp cho gia đình và xã hội.
yes
yes
Ông N đã vi phạm quyền tự do ngôn luận của công dân vì anh K đang tham gia cuộc đối thoại trực tiếp với lãnh đạo tỉnh để trình bày thực trạng và đề xuất cách phân bổ ngân sách hợp lý, đây là việc thực hiện quyền và trách nhiệm của công dân trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Việc ông N yêu cầu anh K dừng phát biểu và im lặng là hành động cản trở công dân thực hiện quyền cơ bản này.
Anh K có thể lựa chọn một trong các cách sau: Tiếp tục trình bày ngắn gọn, súc tích ý kiến của mình, nhấn mạnh tính cấp thiết và hợp lý của đề xuất, đồng thời giữ thái độ ôn hòa, tôn trọng. Chấp hành yêu cầu của ông N tại thời điểm đó để đảm bảo trật tự cuộc họp, nhưng sau đó có thể gửi đơn kiến nghị, phản ánh hoặc khiếu nại bằng văn bản lên cấp trên có thẩm quyền (ví dụ: Chủ tịch tỉnh, Thường trực Tỉnh ủy, hoặc các cơ quan thanh tra, kiểm tra) về hành vi cản trở quyền tự do ngôn luận của ông N và nội dung đề xuất của mình. Tìm kiếm sự hỗ trợ pháp lý hoặc thông qua tổ chức xã hội mình là thành viên để có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân vùng khó khăn.
Có, việc chị T mở quán cà phê kết hợp không gian làm việc là thực hiện quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực kinh tế.
câu 1:Trong đoạn trích từ tác phẩm "Sống mòn" của Nam Cao, nhân vật Thứ hiện lên như một hình mẫu điển hình của những con người tài năng nhưng lại phải sống trong cảnh bần cùng, nghèo khổ hay gọi là có tài nhưng không gặp thời. Thứ là một người thất nghiệp tuy vậy ẩn sâu trong con người anh là một người trí thức đầy khát vọng,luôn hoài niệm về những ước mơ cao đẹp từng nung nấu trong lòng. Thế nhưng nỗi chua xót trước thực tại tăm tối của cuộc sống khiến Thứ không thể không cảm nhận được sự tù túng ; gian khổ mà mình đang phải trải qua.Qua những dòng suy tư của Thứ , em thấy rõ sự trái ngược của hai khái niệm: khát vọng mong muốn và thực tại phũ phàng. Anh khao khát được sống một cuộc đời đáng giá, không bị bó hẹp bởi những lo toan nhàm chán nhưng thực tế lại buộc anh phải chăm chăm vào việc kiếm ăn, thiếu thốn . Tâm trạng bi thương của anh thể hiện tư tưởng triết lý sâu sắc của Nam Cao cái đói khổ, cái nghèo nàn, bi kịch trong đời sống con người, khi mà phải lo Cơm áo gạo tiền để rồi quên bẵng mất đi khát vọng muốn đạt được. Và đặc biệt câu hỏi của nhân vật Thứ "Sống làm gì cho cực?"đã nói lên nỗi hoài nghi về giá trị cuộc sống, nói lên tiếng lòng của bao phận người khác trong xã hội , nơi đất khách quê người.Nghệ thuật khắc họa tinh thần khi bị trói buộc bởi thực tại phũ phàng, Thứ đại diện cho nhiều con người khao khát vượt lên hoàn cảnh nhưng đã vô tình bị trói buộc bởi những xiềng xích của nghèo đói , cuộc sống.Từ đó khắc sâu trong lòng người đọc những suy ngẫm , suy tư về giá trị sống , khát vọng tự do trong cuộc đời.
câu 2:
Gabriel Garcia Marquez từng khẳng định "Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ." Câu nói này không chỉ phản ánh một thực tế đầy sâu sắc mà còn khẳng định tầm quan trọng của ước mơ trong cuộc sống, đặc biệt là trong độ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là giai đoạn tràn đầy nhiệt huyết, sức sống và những ước mơ, khát vọng lớn lao. Đây là thời điểm mà con người có thể biến những ước mơ thành hiện thực, và nếu không nắm bắt, sẽ đánh mất đi những cơ hội quý giá. Đầu tiên, ước mơ là động lực thúc đẩy tuổi trẻ. Mỗi người trẻ đều có những ước mơ riêng, từ việc trở thành bác sĩ, kỹ sư đến họa sĩ hay nhà lãnh đạo. Những ước mơ này không chỉ tạo ra mục tiêu cho bản thân, mà còn là nguồn động lực để họ phấn đấu vượt qua thử thách. Chúng ta thường nghe nhiều câu chuyện về những người trẻ tuổi đã dám theo đuổi ước mơ của mình, từ những hành trình khởi nghiệp cho đến những khám phá mới mẻ trong khoa học, nghệ thuật. Điều này cho thấy rằng, ước mơ không chỉ giúp họ trở thành những người thành công, mà còn là nhân tố quyết định cho sự phát triển của xã hội.
Tuy nhiên, trong thực tế, không ít bạn trẻ phải đối diện với những khó khăn, áp lực từ gia đình và xã hội. Nhiều người bị cuốn vào guồng quay học hành, công việc mà quên đi ước mơ của mình. Họ có thể chọn những con đường an toàn hơn, những nghề nghiệp có thu nhập ổn định nhưng lại không đáp ứng được niềm đam mê. Điều này dẫn đến sự chán nản, mất phương hướng và dần dần, họ từ bỏ ước mơ. Thực trạng này rất đáng báo động, bởi việc từ bỏ ước mơ chính là một cách “già đi” trong tâm hồn, khiến cho tuổi trẻ không còn sức sống. Hơn nữa, việc theo đuổi ước mơ trong tuổi trẻ còn giúp hình thành tính cách và bản lĩnh của mỗi người. Những khó khăn, thử thách mà họ gặp phải trong hành trình theo đuổi ước mơ sẽ giúp họ trưởng thành hơn. Khi phải đối mặt với thách thức, họ sẽ học được cách kiên trì, kiên nhẫn và phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề. Điều này không chỉ giúp họ trong sự nghiệp mà còn trong cuộc sống hàng ngày.
Cuối cùng, ước mơ không chỉ là những điều lớn lao mà còn có thể là những điều nhỏ bé xung quanh. Đó có thể là ước mơ tạo ra một cuộc sống hạnh phúc, gia đình vững bền hay làm điều gì đó có ý nghĩa cho cộng đồng. Những ước mơ này, dù nhỏ bé, cũng cần được trân trọng và theo đuổi. Trong bối cảnh hiện đại, khi mà thế giới không ngừng phát triển và thay đổi, sự theo đuổi ước mơ càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Mỗi người trẻ cần ý thức rõ về ước mơ của mình và không ngừng nỗ lực để đạt được chúng. Đừng để những khó khăn cản trở, mà hãy tìm cách vượt qua và tiến về phía trước. Bởi chỉ khi theo đuổi ước mơ, tuổi trẻ mới thực sự có ý nghĩa và là khoảng thời gian tươi đẹp nhất trong cuộc đời.
câu 1:Điểm nhìn của người kể chuyện là điểm nhìn hạn trị, điểm nhìn bên trong – người kể chuyện ngôi thứ ba nương vào cảm nhận, suy nghĩ của nhân vật Thứ để kể.
câu 2:Ước mơ của Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là “đỗ thành chung”, “đỗ tủ tài”, “vào đại học đường”, “sang Tây”, rồi sẽ “thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình”
câu 3:Biện pháp điệp cấu trúc (Y sẽ.../ Đời y sẽ.../ ... sẽ khinh y/ ... chết mà chưa...): có tác dụng nhấn mạnh những nhận thức, hình dung về cuộc sống mòn mỏi, vô nghĩa của nhân vật Thứ về tương lai phía trước của mình; đồng thời tạo nên nhịp điệu gợi cảm cho câu văn; giúp người đọc có thể tưởng tượng được cuộc sống “mòn” đầy bi kịch của người trí thức trong xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng Tám, đồng thời hiểu, đồng cảm sâu sắc với tâm trạng đau khổ của nhân vật.
câu 4:Nhận xét về cuộc sống và con người của nhân vật Thứ được thể hiện trong đoạn trích: (1) Cuộc sống của nhân vật Thứ: Cuộc sống đầy bi kịch, ngày càng khó khăn, mòn mỏi trong việc kiếm kế sinh nhai để lo cho bản thân và gia đình, không thực hiện được những ước mơ của đời mình. (2) Con người nhân vật Thứ: là con người đầy hoài bão, khát vọng; con người có đời sống nội tâm phong phú, có khả năng nhận thức sâu sắc về cuộc sống và bản thân mình.
câu 5:Suy nghĩ về triết lí “sống là phải làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời mình”. Đây là một triết lí sâu sắc bởi lẽ: mỗi người là một bản thể duy nhất, mỗi người chỉ có cơ hội sống một lần. Cuộc sống là sự trải nghiệm của mỗi cá nhân. Không làm chủ bản thân, không làm chủ cuộc đời mình nghĩa là đã đánh mất cơ hội được trải nghiệm, được sống đúng nghĩa. Chỉ khi làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời thì mỗi người mới phát huy được hết tiềm năng của bản thân và trở thành người có ích cho xã hội.