VŨ HÀ TRANG
Giới thiệu về bản thân
ok
ok
ok
ok
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là nghị luận.
Câu 2.
Văn bản bàn về ý nghĩa và vai trò của lao động đối với con người và cuộc sống.
Câu 3.
Để làm rõ ý kiến: “Mọi động vật đều lao động, trước hết là để duy trì sự sống.”, tác giả đã đưa ra các bằng chứng:
- Chim yến khi lớn lên phải tự đi kiếm mồi.
- Hổ và sư tử cũng phải tự lao động để tồn tại.
Nhận xét:
- Những bằng chứng gần gũi, quen thuộc trong tự nhiên.
- Cụ thể, dễ hiểu, có tính thuyết phục cao.
- Giúp người đọc nhận ra lao động là quy luật tồn tại của mọi sinh vật.
Câu 4.
Câu nói trên giúp em hiểu rằng nếu con người biết tìm thấy niềm vui và ý nghĩa trong lao động thì cuộc sống sẽ trở nên tích cực, hạnh phúc hơn. Lao động không chỉ giúp con người tạo ra của cải vật chất mà còn giúp hoàn thiện bản thân, cảm thấy mình có ích cho gia đình và xã hội. Ngược lại, nếu làm việc trong sự chán nản, đối phó thì con người sẽ khó cảm nhận được giá trị thật sự của cuộc sống.
Câu 5.
Hiện nay, trong cuộc sống vẫn có những người nhận thức chưa đúng đắn về ý nghĩa của lao động, chẳng hạn như lười biếng, chỉ muốn hưởng thụ mà không muốn cố gắng làm việc hay học tập. Một số người còn mơ tưởng làm giàu nhanh chóng bằng những cách thiếu lành mạnh thay vì lao động chân chính. Điều đó cho thấy họ chưa hiểu được giá trị và ý nghĩa thực sự của lao động đối với cuộc sống con người.
Câu 1.
Trong đoạn trích Chén thuốc độc, Vũ Đình Long đã khắc họa rõ nét diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật Thông Thu. Ban đầu, Thông Thu rơi vào trạng thái bàng hoàng, đau đớn khi nhận ra gia sản lớn của cha để lại đã nhanh chóng tiêu tan bởi lối sống ăn chơi, hoang phí của bản thân. Nhân vật tự kiểm điểm lại những tháng ngày “ném tiền qua cửa sổ”, từ đó cảm thấy nhục nhã, xấu hổ vì đã sống vô ích, không làm được điều gì “ích quốc lợi dân”. Từ sự ân hận ấy, Thông Thu dần rơi vào tuyệt vọng khi đứng trước cảnh tiền bạc cạn kiệt, danh dự mất hết và nguy cơ phải vào tù. Nhân vật tìm đến cái chết như một cách giải thoát cho bản thân. Tuy nhiên, trong giây phút quyết định uống thuốc độc, Thông Thu liên tục do dự, giằng xé nội tâm. Nhân vật nghĩ đến mẹ, vợ, em trai và trách nhiệm của mình đối với gia đình. Chính sự day dứt ấy cho thấy bên trong con người sa ngã kia vẫn còn tình yêu thương và khát vọng sống. Qua diễn biến tâm lí của Thông Thu, tác giả thể hiện niềm cảm thông sâu sắc trước bi kịch của con người trong xã hội đương thời.
Câu 2.
Trong đoạn trích Chén thuốc độc, nhân vật Thông Thu từng đau đớn thừa nhận bản thân đã “ném tiền qua cửa sổ”, tiêu xài hoang phí để rồi rơi vào cảnh khánh kiệt, bế tắc. Từ câu chuyện ấy, có thể thấy thói quen tiêu xài thiếu kiểm soát đang trở thành một thực trạng đáng lo ngại ở một bộ phận giới trẻ hiện nay.
Tiêu xài thiếu kiểm soát là việc chi tiêu vượt quá khả năng tài chính của bản thân, mua sắm theo cảm xúc hoặc chạy theo những nhu cầu không thật sự cần thiết. Hiện nay, nhiều bạn trẻ dễ dàng bị cuốn vào lối sống hưởng thụ, thích thể hiện bản thân qua những món đồ đắt tiền, các xu hướng trên mạng xã hội hay những cuộc vui tốn kém. Chỉ cần vài cú nhấp điện thoại, người ta có thể mua hàng online liên tục mà không cân nhắc đến giá trị thực sự của món đồ hay khả năng chi trả của mình.
Thực trạng ấy xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trước hết, sự phát triển của mạng xã hội và quảng cáo khiến giới trẻ dễ bị ảnh hưởng bởi tâm lí “đua theo xu hướng”. Nhiều người muốn khẳng định bản thân bằng vẻ ngoài hào nhoáng, quần áo hàng hiệu, điện thoại mới hay những buổi check-in sang chảnh. Bên cạnh đó, việc thanh toán online, trả góp hay “mua trước trả sau” cũng khiến việc tiêu tiền trở nên dễ dàng hơn, làm nhiều người mất kiểm soát trong chi tiêu. Ngoài ra, không ít bạn trẻ còn thiếu kĩ năng quản lí tài chính cá nhân, chưa hiểu được giá trị của đồng tiền và công sức làm ra nó.
Tiêu xài thiếu kiểm soát để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng. Trước hết, nó khiến nhiều người rơi vào tình trạng nợ nần, áp lực tài chính và phụ thuộc vào gia đình. Có những bạn trẻ dù còn là học sinh, sinh viên nhưng đã vay tiền để mua đồ hiệu hoặc phục vụ nhu cầu giải trí. Không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế, lối sống này còn khiến con người trở nên thực dụng, chạy theo vật chất và đánh mất những giá trị tốt đẹp khác trong cuộc sống. Về lâu dài, nếu không thay đổi, người trẻ rất dễ hình thành thói quen sống thiếu trách nhiệm với bản thân và tương lai.
Tuy nhiên, tiết kiệm không có nghĩa là sống quá khắt khe hay từ bỏ mọi nhu cầu cá nhân. Điều quan trọng là mỗi người cần biết chi tiêu hợp lí, cân bằng giữa nhu cầu và khả năng tài chính. Giới trẻ nên học cách lập kế hoạch chi tiêu, ưu tiên những điều cần thiết và tránh mua sắm theo cảm xúc nhất thời. Đồng thời, gia đình và nhà trường cũng cần giáo dục cho người trẻ ý thức về giá trị lao động và kĩ năng quản lí tài chính cá nhân.
Là học sinh, chúng ta cần tập cho mình thói quen sử dụng tiền hợp lí, biết quý trọng công sức của cha mẹ và sống có trách nhiệm với tương lai của bản thân. Đồng tiền nếu được sử dụng đúng cách sẽ mang lại giá trị tích cực, nhưng nếu tiêu xài thiếu kiểm soát, nó có thể đẩy con người vào những bi kịch như Thông Thu trong Chén thuốc độc.
Câu 1.
Thể loại của văn bản Chén thuốc độc là kịch nói.
Câu 2.
Đoạn trích chủ yếu được triển khai bằng hình thức độc thoại của nhân vật thầy Thông Thu.
Câu 3.
Một số lời chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:
- “(Bóp trán nghĩ ngợi)”
- “(Một mình, thở dài)”
- “(Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ…)”
- “(Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.)”
Vai trò:
- Giúp người đọc hình dung hành động, tâm trạng, cử chỉ của nhân vật.
- Làm nổi bật sự đau khổ, day dứt và giằng xé nội tâm của thầy Thông Thu.
- Tăng tính kịch và giúp diễn viên thể hiện nhân vật rõ hơn trên sân khấu.
Câu 4.
Trong hồi thứ Hai, thầy Thông Thu rơi vào trạng thái ân hận, đau đớn khi nhận ra mình đã ăn chơi hoang phí làm tiêu tan gia sản của gia đình. Nhân vật tự trách bản thân, cảm thấy xấu hổ vì không làm được điều gì có ích mà còn trở thành gánh nặng.
Sang hồi thứ Ba, tâm lí nhân vật trở nên tuyệt vọng hơn khi tiền bạc cạn kiệt, danh dự mất hết và đứng trước nguy cơ vào tù. Thầy Thông Thu muốn tìm đến cái chết để giải thoát. Tuy nhiên, trong lúc chuẩn bị uống thuốc độc, nhân vật nhiều lần do dự, suy nghĩ về mẹ, vợ, em trai. Điều đó cho thấy bên trong con người ấy vẫn còn tình thương gia đình và sự giằng xé giữa khát vọng sống với nỗi bế tắc.
Câu 5.
Em không đồng tình với quyết định tìm đến cái chết của thầy Thông Thu. Dù nhân vật đang rơi vào hoàn cảnh khó khăn và tuyệt vọng, nhưng cái chết không phải là cách giải quyết đúng đắn. Con người cần dũng cảm đối diện với lỗi lầm của mình, cố gắng sửa sai và vượt qua khó khăn. Việc thầy Thông Thu nhiều lần do dự trước khi uống thuốc độc cũng cho thấy nhân vật vẫn còn tình yêu thương gia đình và mong muốn được tiếp tục sống.
Câu 1 (khoảng 200 chữ)
Ước mơ và lao động có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau trong cuộc sống con người. Ước mơ là những khát vọng, mục tiêu mà con người muốn hướng tới, còn lao động chính là con đường giúp biến những ước mơ ấy thành hiện thực. Nếu chỉ có ước mơ mà không chịu cố gắng, nỗ lực lao động thì mọi khát vọng cũng sẽ mãi chỉ là viển vông. Ngược lại, lao động không có mục tiêu, không có ước mơ dẫn đường thì con người dễ sống mờ nhạt, thiếu động lực để phát triển bản thân. Trong thực tế, những người thành công đều là những người biết nuôi dưỡng ước mơ và kiên trì lao động để đạt được điều mình mong muốn. Lao động giúp con người rèn luyện ý chí, tích lũy kiến thức và vượt qua khó khăn trên hành trình chạm tới ước mơ. Tuy nhiên, để mối quan hệ ấy trở nên ý nghĩa, mỗi người cần lựa chọn cho mình những ước mơ đúng đắn, phù hợp với khả năng và mang giá trị tích cực cho xã hội. Là học sinh, chúng ta cần chăm chỉ học tập, không ngại khó khăn để từng bước thực hiện những ước mơ của bản thân trong tương lai.
Câu 2 (khoảng 600 chữ)
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Đình Thi là một gương mặt tiêu biểu với hồn thơ vừa giàu cảm xúc vừa mang chiều sâu suy tư. Bài thơ Nhớ là một trong những bài thơ tình đặc sắc của ông, thể hiện vẻ đẹp của tình yêu đôi lứa hòa quyện với tình yêu đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh. Qua bài thơ, tác giả đã khắc họa thành công tâm trạng của nhân vật trữ tình – một người chiến sĩ đang sống trong nỗi nhớ da diết nhưng cũng đầy lạc quan, kiêu hãnh.
Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ được gửi gắm qua những hình ảnh thiên nhiên giàu chất thơ:
“Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh
Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây”
Nỗi nhớ ở đây được nhân hóa qua hình ảnh “ngôi sao”, “ngọn lửa”. Dường như thiên nhiên cũng mang tâm trạng của con người. Giữa núi rừng kháng chiến gian khổ, ánh sao và ngọn lửa trở thành nguồn sáng, nguồn hơi ấm đồng hành cùng người lính. Qua đó, người đọc cảm nhận được tâm trạng cô đơn nhưng tha thiết yêu thương của nhân vật trữ tình. Nỗi nhớ không chìm trong bi lụy mà được nâng đỡ bởi vẻ đẹp của thiên nhiên và lí tưởng chiến đấu.
Đến khổ thơ thứ hai, tình yêu đôi lứa được bộc lộ trực tiếp và chân thành:
“Anh yêu em như anh yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần”
Đây là câu thơ đẹp và giàu ý nghĩa. Tình yêu dành cho người con gái được đặt song hành với tình yêu đất nước. Đất nước hiện lên vừa “vất vả đau thương” bởi chiến tranh, vừa “tươi thắm vô ngần” bởi niềm tin vào tương lai. Qua cách so sánh ấy, tác giả đã khẳng định tình yêu đôi lứa không tách rời tình yêu quê hương, Tổ quốc. Nhân vật trữ tình nhớ người yêu trong từng khoảnh khắc đời sống:
“Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước
Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn”
Nỗi nhớ hiện diện thường trực, theo người lính trong mọi sinh hoạt thường ngày. Điệp từ “mỗi” được lặp lại liên tiếp đã nhấn mạnh sự sâu đậm và da diết của nỗi nhớ. Tuy nhiên, đó không phải là nỗi nhớ khiến con người yếu đuối mà trở thành động lực tinh thần giúp người chiến sĩ vượt qua gian khổ nơi chiến trường.
Khổ thơ cuối mang âm hưởng mạnh mẽ, lạc quan:
“Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt
Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời”
Hình ảnh “ngôi sao” và “ngọn lửa” tiếp tục xuất hiện như biểu tượng của niềm tin và lí tưởng. Tình yêu của nhân vật trữ tình không chỉ gắn với cảm xúc cá nhân mà còn hòa vào tinh thần chiến đấu vì đất nước. Câu thơ “Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người” thể hiện niềm tự hào của thế hệ trẻ thời kháng chiến: sống, yêu và chiến đấu một cách cao đẹp, có lí tưởng.
Bài thơ Nhớ mang đậm phong cách thơ Nguyễn Đình Thi: ngôn ngữ giản dị nhưng giàu cảm xúc, hình ảnh thơ đẹp và giàu tính biểu tượng. Thể thơ tự do giúp mạch cảm xúc tuôn chảy tự nhiên, chân thành. Đặc biệt, sự hòa quyện giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu đất nước đã tạo nên vẻ đẹp riêng cho bài thơ.
Qua việc khắc họa tâm trạng nhân vật trữ tình, Nguyễn Đình Thi không chỉ ca ngợi tình yêu chân thành của người lính mà còn làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam trong thời kì kháng chiến. Đó là những con người biết sống vì tình yêu, vì Tổ quốc và luôn giữ niềm tin mãnh liệt vào tương lai.