NGUYỄN AN SINH
Giới thiệu về bản thân
- Giải thích: Ước mơ là mục tiêu, là đích đến tươi đẹp; còn lao động là con đường, là phương tiện để đi đến cái đích đó.
- Mối quan hệ: Ước mơ nếu không có lao động sẽ chỉ là ảo tưởng, viển vông trên trang giấy. Ngược lại, lao động mà không có ước mơ sẽ trở nên máy móc, khô khan và dễ bỏ cuộc. Chính lao động bền bỉ (cả trí óc lẫn cơ bắp) giúp hiện thực hóa những điều tưởng chừng không thể.
- Bài học: Mỗi chúng ta cần nuôi dưỡng ước mơ đủ lớn, nhưng đồng thời phải bắt tay vào hành động ngay hôm nay bằng sự cần cù, sáng tạo. Đừng chỉ nằm mơ, hãy thức dậy và lao động để biến giấc mơ thành sự thật.
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Đình Thi: một người nghệ sĩ đa tài với tâm hồn thơ tự do, phóng khoáng nhưng sâu lắng.
- Giới thiệu bài thơ "Nhớ": Một trong những bài thơ tình hay nhất thời kháng chiến chống Pháp, nơi tình yêu đôi lứa hòa quyện sâu sắc với tình yêu đất nước.
- Khổ 1: Nỗi nhớ khởi đầu từ thiên nhiên (Ngôi sao, ngọn lửa).
- Sử dụng hình ảnh đối lập: đêm lạnh, đèo mây - ánh sao lấp lánh, ngọn lửa hồng.
- Điệp cấu trúc "nhớ ai mà..." tạo nhịp điệu da diết, khắc khoải. Nỗi nhớ của người lính không chỉ là tình cảm cá nhân mà còn là sự ấm áp sưởi ấm tâm hồn giữa gian khổ chiến trường.
- Khổ 2: Sự hòa quyện giữa tình yêu và lý tưởng.
- Câu thơ "Anh yêu em như anh yêu đất nước" là điểm nhấn của bài thơ. Tình yêu đôi lứa không tách rời mà soi sáng, tiếp thêm sức mạnh cho tình yêu Tổ quốc.
- Liệt kê các trạng thái: "vất vả đau thương", "tươi thắm vô ngần" để thấy sự đồng nhất giữa số phận dân tộc và số phận tình yêu.
- Nỗi nhớ thường trực trong mọi sinh hoạt: "mỗi bước đường", "mỗi tối", "mỗi miếng ăn".
- Khổ 3: Tuyên ngôn về tình yêu và tư thế con người.
- Hình ảnh "Ngôi sao không bao giờ tắt" tượng trưng cho sự vĩnh cửu của tình yêu và ý chí chiến đấu.
- "Kiêu hãnh làm người": Tình yêu chân chính làm cho con người trở nên cao đẹp hơn, can trường hơn. Yêu nhau là cùng nhau nhìn về một hướng, cùng chiến đấu vì độc lập tự do.
- Tổng kết giá trị nghệ thuật: Thơ tự do, hình ảnh giàu tính biểu tượng, cảm xúc dạt dào.
- Khẳng định vẻ đẹp của bài thơ: "Nhớ" đã xây dựng một tượng đài về người lính thời đại mới: vừa giàu tình cảm, lãng mạn, vừa kiên cường, đầy trách nhiệm với vận mệnh dân tộc.
- Bằng chứng: Tác giả đưa ra hình ảnh con chim yến (khi lớn phải tự đi kiếm mồi), hình ảnh hổ và sư tử (tự lao động để tồn tại).
- Nhận xét: Đây là những bằng chứng lấy từ thế giới tự nhiên, rất gần gũi, xác thực và khách quan. Việc sử dụng các loài vật điển hình giúp người đọc dễ dàng chấp nhận luận điểm: lao động là bản năng sinh tồn tất yếu trước khi trở thành một giá trị xã hội.
Lao động không nên chỉ được nhìn nhận như một gánh nặng hay trách nhiệm bắt buộc. Khi ta tìm thấy niềm đam mê, sự sáng tạo và niềm vui trong công việc mình làm, ta sẽ không cảm thấy mệt mỏi. Chính thái độ tích cực với lao động biến những hành động vô tri thành giá trị tinh thần, giúp cuộc sống trở nên nhẹ nhàng, ý nghĩa và đạt đến sự hạnh phúc đích thực. Câu 5. Một biểu hiện cho thấy nhận thức chưa đúng đắn về lao động hiện nay:
- Tình trạng một bộ phận giới trẻ có tư tưởng "lười lao động, thích hưởng thụ", trông chờ, ỷ lại vào gia đình hoặc chọn những việc nhẹ nhàng, "việc nhẹ lương cao" mà thiếu sự dấn thân, rèn luyện.
- Hoặc hiện tượng coi thường những ngành nghề lao động chân tay, cho rằng chỉ có lao động trí óc mới là cao quý, dẫn đến sự lệch lạc trong việc định hướng nghề nghiệp và cống hiến cho xã hội.
Đoạn trích "Chén thuốc độc" của Vũ Đình Long là một lát cắt bi kịch đầy ám ảnh về sự sa ngã và thức tỉnh muộn màng. Tác giả đã rất thành công trong việc khắc họa xung đột nội tâm của nhân vật Thông Thu thông qua những lời độc thoại đầy đau đớn. Từ một thầy Thông có học thức, vì ăn chơi tráng táng mà đẩy gia đình vào cảnh khánh kiệt, giờ đây phải đối mặt với án tù. Xung đột kịch đẩy lên cao trào khi Thông Thu đứng trước chén thuốc độc – biểu tượng của sự bế tắc tận cùng. Qua đó, Vũ Đình Long không chỉ phê phán lối sống hưởng thụ, phù hoa của một bộ phận tầng lớp tiểu tư sản thành thị lúc bấy giờ mà còn gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về đạo đức và trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình và xã hội. Câu 2: Bài văn nghị luận về thói quen tiêu xài thiếu kiểm soát của giới trẻ (Dàn ý gợi ý) 1. Mở bài:
- Dẫn dắt từ nhân vật Thông Thu trong "Chén thuốc độc" – một ví dụ điển hình cho việc tiêu xài hoang phí dẫn đến bi kịch.
- Nêu vấn đề: Thói quen tiêu xài thiếu kiểm soát (vung tay quá trán) của một bộ phận giới trẻ hiện nay.
- Thực trạng: Nhiều bạn trẻ sẵn sàng vay tiền, sử dụng thẻ tín dụng để mua sắm đồ hiệu, theo đuổi xu hướng công nghệ, hoặc ăn uống tại những nơi đắt đỏ chỉ để "sống ảo" hoặc khẳng định bản thân.
- Nguyên nhân:
- Sự bùng nổ của mạng xã hội và chủ nghĩa tiêu dùng (consumerism).
- Tâm lý muốn khẳng định "cái tôi" qua vẻ bề ngoài.
- Thiếu kiến thức về quản lý tài chính cá nhân.
- Hậu quả:
- Rơi vào bẫy nợ nần, áp lực tâm lý nặng nề (giống như sự bế tắc của Thông Thu).
- Trở thành gánh nặng cho gia đình.
- Lối sống thực dụng, bào mòn những giá trị tinh thần và ý chí phấn đấu.
- Giải pháp:
- Giáo dục kỹ năng quản lý tài chính từ trong nhà trường và gia đình.
- Giới trẻ cần xác định rõ giá trị bản thân nằm ở tri thức và đạo đức chứ không phải vật chất.
- Học cách phân biệt giữa "cái mình cần" và "cái mình muốn".
- Khẳng định lại vấn đề: Tiêu xài thông minh là biểu hiện của một lối sống văn minh và trách nhiệm.
- Lời khuyên: Đừng để bản thân phải "uống chén thuốc độc" của sự hối hận chỉ vì những phút giây hoang phí nhất thời.
Đoạn trích "Chén thuốc độc" của Vũ Đình Long là một lát cắt bi kịch đầy ám ảnh về sự sa ngã và thức tỉnh muộn màng. Tác giả đã rất thành công trong việc khắc họa xung đột nội tâm của nhân vật Thông Thu thông qua những lời độc thoại đầy đau đớn. Từ một thầy Thông có học thức, vì ăn chơi tráng táng mà đẩy gia đình vào cảnh khánh kiệt, giờ đây phải đối mặt với án tù. Xung đột kịch đẩy lên cao trào khi Thông Thu đứng trước chén thuốc độc – biểu tượng của sự bế tắc tận cùng. Qua đó, Vũ Đình Long không chỉ phê phán lối sống hưởng thụ, phù hoa của một bộ phận tầng lớp tiểu tư sản thành thị lúc bấy giờ mà còn gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về đạo đức và trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình và xã hội. Câu 2: Bài văn nghị luận về thói quen tiêu xài thiếu kiểm soát của giới trẻ (Dàn ý gợi ý) 1. Mở bài:
- Dẫn dắt từ nhân vật Thông Thu trong "Chén thuốc độc" – một ví dụ điển hình cho việc tiêu xài hoang phí dẫn đến bi kịch.
- Nêu vấn đề: Thói quen tiêu xài thiếu kiểm soát (vung tay quá trán) của một bộ phận giới trẻ hiện nay.
- Thực trạng: Nhiều bạn trẻ sẵn sàng vay tiền, sử dụng thẻ tín dụng để mua sắm đồ hiệu, theo đuổi xu hướng công nghệ, hoặc ăn uống tại những nơi đắt đỏ chỉ để "sống ảo" hoặc khẳng định bản thân.
- Nguyên nhân:
- Sự bùng nổ của mạng xã hội và chủ nghĩa tiêu dùng (consumerism).
- Tâm lý muốn khẳng định "cái tôi" qua vẻ bề ngoài.
- Thiếu kiến thức về quản lý tài chính cá nhân.
- Hậu quả:
- Rơi vào bẫy nợ nần, áp lực tâm lý nặng nề (giống như sự bế tắc của Thông Thu).
- Trở thành gánh nặng cho gia đình.
- Lối sống thực dụng, bào mòn những giá trị tinh thần và ý chí phấn đấu.
- Giải pháp:
- Giáo dục kỹ năng quản lý tài chính từ trong nhà trường và gia đình.
- Giới trẻ cần xác định rõ giá trị bản thân nằm ở tri thức và đạo đức chứ không phải vật chất.
- Học cách phân biệt giữa "cái mình cần" và "cái mình muốn".
- Khẳng định lại vấn đề: Tiêu xài thông minh là biểu hiện của một lối sống văn minh và trách nhiệm.
- Lời khuyên: Đừng để bản thân phải "uống chén thuốc độc" của sự hối hận chỉ vì những phút giây hoang phí nhất thời.
Thứ trong đoạn trích là hình ảnh tiêu biểu cho lớp trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám. Anh từng có ước mơ lớn lao, khát vọng đem tài năng cống hiến cho đất nước. Nhưng thực tại nghiệt ngã của nghèo đói, thất nghiệp đã dập tắt nhiệt huyết ấy, đẩy Thứ vào cuộc sống tầm thường, chỉ còn biết lo miếng cơm manh áo. Đáng tiếc hơn, Thứ nhận ra mình đang “sống mòn” nhưng lại không đủ dũng khí để thay đổi cuộc đời. Sự giày vò nội tâm khiến anh đau đớn, tủi hổ khi tự thấy mình bất lực, nhỏ nhoi. Nhân vật Thứ là lời tố cáo mạnh mẽ xã hội cũ đã hủy hoại con người, đồng thời thể hiện niềm cảm thông sâu sắc của Nam Cao với những trí thức bị đày đọa về tinh thần. Bi kịch của Thứ góp phần tô đậm tư tưởng nhân đạo và hiện thực sắc nét trong sáng tác của nhà văn.
Gabriel Garcia Marquez từng nói: “Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ”. Lời nhắn gửi ấy nhắc nhở chúng ta về ý nghĩa của ước mơ trong cuộc đời mỗi con người. Tuổi trẻ chính là quãng thời gian đẹp nhất để ươm mầm khát vọng và dấn bước trên hành trình chinh phục lí tưởng. Ước mơ khiến con người sống có mục đích, có động lực vươn lên và hoàn thiện bản thân mỗi ngày. Nếu không có ước vọng, tuổi trẻ sẽ dễ chìm trong tầm thường, lãng phí những năm tháng quý giá nhất của đời người.
Tuy nhiên, ước mơ chỉ trở thành hiện thực khi ta biết nỗ lực theo đuổi đến cùng. Con đường thực hiện khát vọng chưa bao giờ bằng phẳng: thất bại, hoài nghi, cám dỗ luôn rình rập khiến con người dễ bỏ cuộc. Nhưng chính những thử thách đó lại tạo nên bản lĩnh và sự trưởng thành. Bởi vậy, người trẻ cần tin tưởng vào chính mình, dám lựa chọn, dám hành động, dám bứt phá khỏi giới hạn an toàn. Đừng như nhân vật Thứ trong truyện Nam Cao – để hoàn cảnh vùi lấp ước mơ, sống một đời mòn mỏi và tiếc nuối.
Trong kỷ nguyên mới, tuổi trẻ càng phải có ước mơ lớn và hành động thiết thực vì tương lai bản thân và đất nước. Ước mơ của mỗi cá nhân khi được thực hiện sẽ góp phần tạo nên sự phát triển chung của xã hội. Bởi vậy, hãy luôn nuôi dưỡng khát vọng, học hỏi không ngừng và mạnh mẽ tiến về phía trước.
Ước mơ là ánh sáng dẫn lối tuổi trẻ. Ai còn ước mơ – người đó vẫn còn trẻ, vẫn còn hi vọng và cơ hội tỏa sáng. Hãy sống sao để mỗi ngày đều xứng đáng với niềm tin, nhiệt huyết và hoài bão của chính mình.
Câu1:Người kể chuyện ngôi thứ ba, điểm nhìn chủ yếu từ bên ngoài nhưng đi sâu vào diễn biến tâm trạng của nhân vật Thứ.
Câu 2 :Ước mơ của Thứ khi còn ngồi ghế nhà trường:
→ Đỗ Thành chung, đỗ tú tài, vào đại học, sang Tây học, trở thành người tài giỏi – một vĩ nhân đem lại thay đổi lớn cho đất nước.
Câu 3 :Biện pháp tu từ: Phép điệp và liệt kê
Tác dụng:Nhấn mạnh cảm giác bất lực, bi quan, nỗi chán chường của Thứ trước tương lai mờ mịt.
Tố cáo xã hội thực dân phong kiến đẩy con người đến cảnh sống mòn, mất ý chí, đánh mất giá trị bản thân.
Câu 4 :Nhận xét:
Cuộc sống: nghèo đói, bế tắc, bị vùi dập ước mơ, rơi vào cảnh thất nghiệp, sống lay lắt.
Con người: Có hoài bão nhưng nhu nhược, để cuộc đời giam cầm, tự ý thức được sự mòn mỏi nhưng không đủ can đảm thay đổi.
=>Một bi kịch của trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng.
Câu 5 :Triết lí nhân sinh:
=>Sống là phải dám thay đổi, dám vượt thoát giới hạn. Nếu buông xuôi, sợ hãi, con người sẽ tự trói mình vào cuộc đời tù túng và trở nên “sống mòn”.
-
a
a
a