Trần Trung Đức
Giới thiệu về bản thân
C1:
Nhân vật Thứ, một cậu bé mang thân hình gầy gò, ốm yếu trong văn bản "Mùa lá rụng trong vòm", hiện lên với một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm đến lạ kỳ trước vẻ đẹp và sự mong manh của vạn vật. Dù tuổi còn nhỏ, Thứ lại có cái nhìn sâu sắc, khác biệt, thể hiện qua tình yêu đặc biệt với chiếc lá bàng – thứ tưởng chừng vô tri vô giác nhưng lại chứa đựng cả một vũ trụ cảm xúc trong mắt cậu. Cậu nâng niu chiếc lá như báu vật, dõi theo từng nhịp đập của nó và đau đớn khi thấy lá lìa cành, rơi rụng, biểu hiện nỗi buồn trước lẽ vô thường và sự tàn phai của tạo hóa, như một tâm hồn nhạy cảm đang chiêm nghiệm về cuộc sống. Sự chiêm nghiệm ấy của Thứ không chỉ dừng lại ở cảm xúc, mà còn là một triết lý sống sâu sắc: hãy yêu thương, trân trọng những gì giản dị nhất, hãy sống chậm lại để cảm nhận vẻ đẹp mong manh của cuộc đời, bởi lẽ, sự đẹp đẽ và mất mát luôn song hành. Thứ là hiện thân cho vẻ đẹp tâm hồn trong trẻo, nhắc nhở người đọc về giá trị của sự sống và vẻ đẹp tinh tế giữa cuộc đời bộn bề, vội vã.
C2:
Vai trò của ước mơ với con người, đặc biệt là với tuổi trẻ – Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ.
Ước mơ là những mong muốn, khao khát thường là về những điều tốt đẹp trong cuộc sống mà con người hi vọng sẽ đạt được. Già đi trong câu nói này, cụm từ “già đi” thứ nhất chỉ tuổi tác khi con người đã cao tuổi – đây là quy luật của tạo hoá không ai tránh được; còn cụm từ “già đi” thứ hai chỉ sự ngừng lại, chậm lại, không còn muốn phấn đấu, nỗ lực. Câu nói khẳng định vai trò của ước mơ trong đời sống của con người – ước mơ sẽ giúp tạo nên động lực sống, đặc biệt sức trẻ cho tâm hồn con người ở mọi lứa tuổi. Đặc biệt, ước mơ có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tuổi trẻ. Nhắc tới tuổi trẻ không thể không nhắc tới ước mơ; ước mơ là điểm tựa không thể thiếu để tuổi trẻ phát huy hết nội lực và sống xứng đáng với danh hiệu “thanh xuân” đẹp đẽ.
Ước mơ thường là những điều tốt đẹp không dễ dàng đạt được; cần phấn đấu, nỗ lực hết sức mới có thể biến ước mơ thành hiện thực; vì vậy, nếu có ước mợ, chúng ta sẽ có mục tiêu xác định, có động lực phấn đấu mạnh mẽ; thậm chí có thể vượt lên mọi nghịch cảnh để đạt được những kì tích không thể ngờ tới. Tuổi trẻ là giai đoạn đẹp nhất của đời người khi ta có nền tảng tốt nhất về sức khoẻ thể chất và tinh thần, dồi dào tiềm năng phát triển; vì vậy, cần có mục tiêu xác định, cần có động lực sống mạnh mẽ để kích hoạt hết tiềm năng của bản thân và có những cống hiến quý báu cho xã hội. Tuổi trẻ cũng là giai đoạn con người cần rèn luyện, trải qua những khó khăn, thử thách để trưởng thành; trong khi đó, ước mơ là những điều tốt đẹp nhưng cần phải nỗ lực phấn đấu mới đạt được. Vì vậy, ước mơ cũng chính là cơ hội được thử thách của tuổi trẻ, vẫy gọi tuổi trẻ bước ra khỏi vùng “an toàn” và giới hạn của bản thân để chinh phục thế giới. Từ Nguyễn Tất Thành – một chàng trai ra đi với hai bàn tay trắng, vượt qua muôn nghìn khó khăn thử thách – cho tới một Hồ Chí Minh vĩ đại có thể giúp thay đổi cả vận mệnh dân tộc chỉ có thể là một mơ ước cháy bỏng đã từng được chia sẻ một cách giản dị mà chân thực: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.”; Những gương mặt tuổi trẻ đã trưởng thành, gặt hái được những thành công nhờ theo đuổi ước mơ của mình và tiếp tục truyền cảm hứng cho hành trình theo đuổi ước mơ của nhiều bạn trẻ khác như: Hậu vệ Đoàn Văn Hậu – gương mặt tài năng quen thuộc của bóng đá Việt Nam với chia sẻ: “Từ bé, tôi đã mang trong mình ước mơ được tận hưởng niềm đam mê cùng trái bóng tròn. Trải qua nhiều thử thách, cuối cùng tôi cũng đã hiện thực hoá được giấc mơ của mình. Hãy cứ theo đuổi ước mơ, thành công sẽ theo đuổi bạn.”; hay chàng trai người Việt mang tên Nguyễn Đình Song Thanh (27 tuổi) đã dành 6 năm theo đuổi ước mơ nghiên cứu khoa học trên đất Mỹ và Nhật, vừa tốt nghiệp Thạc sĩ Y sinh học về tế bào gốc tại Đại học Tsukuba, Nhật Bản. Hiện tại, chàng trai đang chuẩn bị hồ sơ học lên Tiến sĩ. Bên cạnh việc học, Song Thanh còn thường xuyên chia sẻ các bài viết về trải nghiệm du học, văn hoá lịch sử Nhật Bản lên trang cá nhân và nhận tư vấn giúp nhiều sinh viên có ước mơ du học,..).
Cần phân biệt ước mơ tốt đẹp với những điều viển vông, xa vời. Cần không ngừng ước mơ và nuôi dưỡng những ước mơ tốt đẹp để có mục đích và động lực sống. Cần có kế hoạch và dám hành động, bền bỉ để biến ước mơ thành hiện thực.
C1:
Người kể chuyện là nhân vật chính Giáo Thứ (ngôi thứ nhất), bộc lộ trực tiếp thế giới nội tâm, suy nghĩ, cảm xúc, ước mơ và bi kịch của bản thân.
C2:
Thứ từng có ước mơ cao đẹp: trở thành người có ích cho đất nước, làm cách mạng, có một cuộc sống tươi đẹp, khác biệt với cảnh nghèo khổ ở quê nhà, không muốn "ăn bám" hay "mòn mỏi".
C3:
Liệt kê ("mốc lên, gỉ đi, mòn, mục") kết hợp với nhân hóa (gán cho đời người những tính chất của đồ vật cũ, rỉ sét).
Tác dụng: Nhấn mạnh sự suy tàn, mục rữa về cả thể xác lẫn tinh thần của nhân vật Thứ. Gợi cảm giác tù túng, bế tắc, vô vọng của một cuộc đời bị vùi dập, "sống mòn". Thể hiện sự tự ý thức và bi kịch của nhân vật khi thấy mình đang dần trở nên vô dụng, không khác gì đống sắt vụn.
C4:
Là người trí thức có hoài bão (từng muốn làm cách mạng), nhưng bị hoàn cảnh xô đẩy đến chỗ bất lực, cam chịu, đánh mất lý tưởng, sống một cuộc đời vô nghĩa, "chết mà chưa sống".
C5:
Con người có thể bị tha hóa, đánh mất lý tưởng và trở nên vô nghĩa nếu bị hoàn cảnh xã hội tàn khốc, phi nhân tính (như xã hội thực dân phong kiến) bóp nghẹt; nhưng cũng chính nhận thức về bi kịch đó lại là động lực để con người đấu tranh, tìm lại ý nghĩa cuộc sống, không để mình "chết mà chưa sống".
C1:
Mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ lại có một bản sắc, một nét đẹp văn hóa khác nhau. Chúng ta cần phải biết giữ gìn bản sắc văn hóa của mình cũng như quảng bá những nét đắc sắc đó đến với bạn bè năm châu. Bản sắc văn hóa dân tộc là những nét văn hóa từ lâu đời của dân tộc được truyền từ đời này sang đời khác đã trở thành những phong tục tập quán, những đặc trưng vùng miền của cả đất nước ta. Bên cạnh đó, bản sắc văn hóa dân tộc còn là những giá trị tạo nên sự khác biệt của mỗi quốc gia, sự phong phú trong lối sống, sinh hoạt tập thể của con người và tạo nên sự đa dạng màu sắc cho cuộc sống. Bản sắc văn hóa dân tộc có tầm quan trọng lớn lao đối với cuộc sống của mỗi người nói riêng và sự phát triển của đất nước nói chung. Bản sắc văn hóa dân tộc hay cụ thể hơn là văn hóa vùng miền là nơi con người giao lưu văn hóa, cùng nhau tôn vinh vẻ đẹp của quê hương mình, cũng là nơi con người gắn kết với nhau, vui đùa. Bản sắc văn hóa dân tộc còn là những đặc trưng về văn hóa của quốc gia đó, là nét làm cho đất nước mình không bị nhầm lẫn với bất kì đất nước nào khác. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều nét đẹp trong bản sắc văn hóa dân tộc của Việt Nam ta đang bị mai một, mất dần đi hoặc suy thoái, biến tướng thành nhiều thể loại khác. Chính vì thế, mỗi cá nhân đặc biệt là học sinh chúng ta phải có ý thức tìm hiểu những bản sắc văn hóa vốn có của dân tộc, giữ gìn và phát huy những giá trị đó với bạn bè năm châu. Nhà trường cần tổ chức nhiều hơn những hoạt động để tuyên truyền, mang đến cho học sinh nguồn tri thức về bản sắc văn hóa dân tộc. Mỗi người học sinh cần phải đặt trách nhiệm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc lên hàng đầu, tích cực trau dồi hiểu biết của mình về những giá trị văn hóa tốt đẹp của nước nhà.
C2:
Bài thơ “Củi lửa” của Dương Kiều Minh là một khúc trữ tình thấm đẫm cảm xúc về tình mẫu tử, nỗi nhớ quê hương và sự hoài niệm về tuổi thơ gắn liền với hình ảnh bếp lửa – biểu tượng của gia đình, tình mẹ và ký ức làng quê. Qua những câu thơ ngắn, tự do, bài thơ mở ra một không gian thơ mộng mà đầy lắng đọng, nơi con người đối diện với thời gian, với ký ức, và với chính mình. Ngay từ câu thơ đầu: “Đời con dần thưa màu khói / Mẹ già nua như những buổi chiều”, tác giả đã gợi ra một không khí trầm lắng, nhuốm màu thời gian. “Màu khói” – hình ảnh quen thuộc của bếp lửa, của ký ức tuổi thơ dường như đang mờ dần trong cuộc sống của người con. Đồng thời, hình ảnh người mẹ hiện lên như một buổi chiều – nhẹ nhàng, lặng lẽ và đang trôi dần về cuối ngày, gợi cảm giác xót xa, chạnh lòng. Khổ thơ tiếp theo đưa người đọc trở về với những miền ký ức: “Lăng lắc tuổi xuân / Lăng lắc niềm thôn dã / Bếp lửa ngày đông...”. “Lăng lắc” là từ gợi cảm giác chông chênh, mơ hồ – tuổi xuân và những tháng ngày quê nhà đang dần trở thành ký ức xa xăm. Hình ảnh “bếp lửa ngày đông” không chỉ là biểu tượng của sự ấm áp mà còn là điểm tựa tinh thần trong tâm trí người con mỗi khi nhớ về quê mẹ. Nỗi nhớ ấy ngày càng rõ nét hơn trong những khổ thơ tiếp theo. Tác giả mơ được trở về bên mẹ, về với ao xưa, vườn cũ, mái rạ, bậc thềm thấm đẫm ánh trăng... Tất cả gợi nên một không gian quê hương thân thương và đầy chất thơ. Cảm giác sống động được đánh thức qua khứu giác – “Mùi lá bạch đàn xộc vào giấc ngủ”, khiến kỷ niệm như ùa về trong từng giác quan. Câu thơ “Con về yêu mái rạ cuộc đời” không chỉ là sự trở về thể xác mà là sự trở về tinh thần, trở về với cội nguồn, nơi bắt đầu của yêu thương và ký ức. Kết thúc bài thơ, hình ảnh “Một sớm vắng / Ùa lên khói bếp” như một sự trở lại đầy xúc động. Khói bếp không chỉ là hình ảnh của ngày xưa, mà còn là sợi dây kết nối quá khứ với hiện tại, kết nối người con với người mẹ, với mái ấm và những tháng ngày xưa cũ. Về nghệ thuật, bài thơ được viết bằng thể thơ tự do, ngôn ngữ mộc mạc mà tinh tế, giàu hình ảnh gợi cảm. Cách sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, điệp ngữ... khiến bài thơ giàu chất nhạc, chất họa và đầy cảm xúc nội tâm. “Củi lửa” là một bài thơ nhẹ nhàng nhưng đầy sâu sắc, thể hiện nỗi nhớ quê, nhớ mẹ và hoài niệm về tuổi thơ một cách tinh tế và cảm động. Hình ảnh bếp lửa xuyên suốt bài thơ không chỉ là biểu tượng của tình mẫu tử mà còn là ngọn lửa âm ỉ cháy trong tâm hồn mỗi con người – ngọn lửa của ký ức, của cội nguồn và yêu thương bất tận.
C1:Văn bản giới thiệu về Quần thể di tích Cố đô Huế, một di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử, kiến trúc, văn hóa tiêu biểu của Việt Nam, bao gồm nhiều công trình như Hoàng thành, Tử Cấm thành, các lăng tẩm, chùa chiền, và cảnh quan sông Hương, núi Ngự.
C2:Thuyết minh
C3:Bởi vì nó không chỉ cung cấp thông tin đơn thuần mà còn tổng hợp nhiều loại thông tin khác nhau (lịch sử, địa lý, kiến trúc, văn hóa, giá trị) và kết hợp nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, nghị luận) để làm rõ đối tượng
C4:Giúp người đọc hình dung trực quan về quy mô, kiến trúc, màu sắc của Đại Nội, lăng tẩm, sông Hương...; tăng tính thuyết phục và làm bài văn sinh động, hấp dẫn hơn.
C5:Cảm nhận được chiều sâu lịch sử, những giá trị văn hóa, tinh thần còn lưu giữ.