Vương La Tuệ

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Vương La Tuệ
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.

Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù.

Câu 2.

Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công.

Câu 3.

- Quan điếm của anh cả Thuận về đồng tiền:

+ Đồng tiền là thế lực tối thượng, thay cả thân thánh ("Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật").

+ Đồng tiền có sức mạnh vạn năng, đứng trên cả đạo đức và pháp luật ("Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!").

- Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội:

+ Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền.

+ Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp, dồn vào bước đường cùng.

Câu 4.

Phẩm chất đáng quý của nhân vật chị cả Thuận:

- Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương: Giữa cảnh cùng quẫn, chị luôn là người quan tâm đến sức khỏẻ và cảm giác của người cha già mù loà.

+ Vội vàng chạy đi bán chậu vì muốn mua bát cháo và lọ dầu vì lo bố chồng đói.

+ Khi thấy cha ngã thì hoảng loạn, nâng đỡ và hỏi han đầy xót xa: "Thầy ơi, thầy ngã có đau không?", "tay run lấy bấy, hết sức dìu bố".

- Kiên cường, không cam chịu, buông xuôi trước số phận: Khác với sự bất lực, than trời trách đất của người chồng, chị Thuận có bản năng sống mãnh liệt và tư duy thực tế hơn. Chị không chấp nhận ngôi chờ chết mà cố gắng xoay xở tình hình đến giây phút cuối cùng.

+ Chị cố gắng xốc lại tinh thần mọi người: " chăng nhẽ cứ đế mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết?"

+ Hành động chị "tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau" định đem bán cho bác phó để kiếm vài hào mua cháo cho bố cho thấy chị luôn nỗ lực tìm kiếm tia hi vọng sống, dù là mong manh nhất, để cứu vãn gia đình.

Câu 5.

Học sinh đưa ra suy nghĩ của bản thân về sức ép của "cơm áo gạo tiền" đối với nhân phẩm con người. Gợi ý:

  • Bi kịch của gia đình ông lão mù là lời cảnh tỉnh đau xót về sức tàn phá khủng khiếp của gánh nặng "cơm áo gạo tiền".
  • Khi bị dồn vào bước đường cùng của sự đói nghèo, con người dễ bị tha hoá, đánh mất niềm tin vào những giá trị tốt đẹp (như anh Cả mất niềm tin vào Giời Phật, pháp luật, sự lương thiện).
  • Cái nghèo không chỉ bào mòn thể xác mà còn đe doạ tước đoạt cả nhân phẩm, lòng tự trọng; buộc người ta phải đứng trước những lựa chọn nghiệt ngã: Giữ lấy lương tâm mà chết đói hay làm liều để tồn tại.

Câu 1.

Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch.

Câu 2.

Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.

Câu 3.

- Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với "tiền":

+ Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, nhưng bông hoa thơm ngát.

+ "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời.

- Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông

Trần Thiết Chung:

+ Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiếm soát của mỗi cá nhân.

+ Muốn Trần Thiết Chung hiếu răng dù việc kiếm tiền có thế vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết đế nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp.

Câu 4.

  • Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điếm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành đế mặc bạn mình.
  • Ý nghĩa của kết thúc này:

+ Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thế dung hòa giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời:

Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền).

+ Làm nổi bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống.

+ Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế.

Câu 5.

Học sinh đưa ra ý kiến đồng tình với quan điếm của ông Trần Thiết Chung và đưa ra lí giải hợp lí.

Gợi ý:

  • Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất ("tham muốn nhiều"), ta buộc phải đánh đối bằng thời gian, sức khoẻ và sự bình yên trong tâm hồn.
  • Khi con người chạy theo tham vọng vật chất quá mức, họ dễ đánh mất sự thanh thản, bị cuốn vào lo toan, tính toán, thậm chí phạm sai lầm để đạt mục đích.
  • Biết sống vừa phải và biết đủ sẽ giúp con người nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân.

Đoạn trích trong Chén thuốc độc của Vũ Đình Long phản ánh bi kịch của một gia đình sa sút vì lối sống ăn chơi, tiêu xài vô độ. Qua hoàn cảnh gia đình cụ Thông, tác giả phơi bày sự suy tàn của tầng lớp thị dân trước lối sống hưởng lạc, sính hình thức và thiếu trách nhiệm. Tài sản lớn do thế hệ trước gây dựng nhanh chóng bị tiêu tán, kéo theo cảnh khánh kiệt và tan vỡ tình thân. Hình ảnh “chén thuốc độc” mang ý nghĩa biểu tượng: đó không chỉ là cái chết vật chất mà còn là cái chết tinh thần của đạo đức gia đình, của ý thức tiết kiệm và trách nhiệm. Ngôn ngữ kịch ngắn gọn, giàu tính đối thoại giúp mâu thuẫn bộc lộ trực tiếp, tạo cảm giác chân thực và căng thẳng. Qua đó, tác phẩm gửi gắm lời cảnh tỉnh sâu sắc: nếu con người chạy theo vật chất, buông thả trong chi tiêu và đánh mất nền tảng gia đình, hậu quả tất yếu sẽ là bi kịch. Giá trị hiện thực và tính cảnh báo xã hội của đoạn trích vì thế vẫn còn nguyên ý nghĩa đến hôm nay.



Câu 1. (0,5 điếm)

Văn bản "Chén thuộc độc" thuộc thể loại bi kịch.

Câu 2. (0,5 điễm)

Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm).

Câu 3. (1,0 điểm)

- Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:

+ "Bóp trán nghĩ ngợi".

+ "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.".

+ "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy.".

+ "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện."

+...

- Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:

+ Giúp người đọc hình dung được hành động, củ chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thế của nhân vật.

+ Thế hiện xung đột nội tâm, giăng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống).

Câu 4. (1,0 điễm)

  • Tâm lí thây Thông Thu trong hồi thứ Hai: Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình.
  • Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hăn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!").
  • Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II)
  • chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai).

Câu 5. (1,0 điểm)

Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý:

  • Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt đế sứa chữa.
  • Cái chết không giải quyết được vẫn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên luy đến những người thân xung quanh.
  • Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động đế trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược.

Câu 1.

Những dấu hiệu cho thấy văn bản trên là văn bán thông tin:

  • Văn bản cung cấp những thông tin xác thực vê sự kiện Đức Phúc đạt giải tại Intervision 2025.
  • Văn bản có sự kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ.

Câu 2.

Văn bản trên viết về vấn đề: Chất liệu văn hoá truyền thống chính là chiếc chìa khoá vàng đế xây dựng thương hiệu mạnh cho âm nhạc Việt Nam trong thời kì hội nhập thế giới/ Chất liệu truyền thống chính là chiếc chìa khoá vàng để hội nhập.

Câu 3.

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản: Hình ảnh "Phần biếu diễn ấn tượng của ca sĩ Đức Phúc trên sân khấu

Intervision 2025".

- Tác dụng:

+ Minh họạ, giúp cho văn bản thêm hấp dẫn, sinh động, thuyết phục.

+ Giúp người đọc hình dung được một cách chân thực, cụ thế hơn vê thông tin được đề cập trong văn bán.

Câu 4.

- Nhan đề "Chiếc chìa khoá vàng để hội nhập":

+ "'Chiếc chìa khoá vàng" là hình ảnh ẩn dụ cho chất liệu văn hoá truyền thống dân tộc, bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam.

+ "Hội nhập": Là quá trình đất nước vươn mình, gia nhập cộng đồng các nước trên thế giới để cùng phát triển.

- Nội dung bài viết: Qua thành công của ca sĩ

Đức Phúc tại cuộc thi âm nhạc quốc tế Intervision 2025, bài viết khăng định sức hấp dân đặc biệt, mạnh mẽ của chất liệu truyền thống trước khán giả quốc tế. Từ đó, văn bản nhấn mạnh việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóá dân tộc chính là con đường/ sự lựa chọn đúng đắn/ chiếc chìa khoá vàng giúp âm nhạc Việt Nam phát triến mạnh mẽ trong thời kì hội nhập quốc tế.

=> Nhận xét: Nhan đề bài viết đã thế một cách rõ ràng, trực tiếp ý nghĩa khái quát, nội dung của bài viết.

- Thông tin và nhận thức bổ ích có thể được đúc rút từ bài viết:

+ Hiểu được ý nghĩa của bản sắc văn hoá dân tộc trong việc xây dựng thương hiệu âm nhạc nước nhà trên trường quốc tế.

+ Nhận thức được rằng hội nhập không phải là cố tạo ra cái mới, cái giống với những trào lưu quốc tế mà cần là cái sáng tạo từ chính cội nguồn văn hoá của dân tộc.

+ Âm nhạc chính là một tấm "hộ chiếu vạn năng" góp phần quảng bá hình ảnh dân tộc ra thế giới.

- 3 việc có thể làm để góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kì hội nhập:

+ Tìm hiểu, ghi hình và đăng tải video giới thiệu về các làn điệu dân ca, ca nhạc truyền thống của dân tộc.

+ Giới thiệu về văn hoá, ẩm thực, trang phục truyền thống của dân tộc cho bạn bè quốc tế.

+ Quảng bá, ưu tiên sử dụng những sản phấm truyền thống của Việt Nam trong cuộc sống hàng ngày ví dụ phấn nụ xứ Huế, lụa Vạn Phúc, các sản phấm mây tre đan của các làng nghề,...

+ Giữ gìn sự chuấn mực, trong sáng của tiếng Việt trong lời ăn tiếng nói hàng ngày.

Câu 1.

Thể loại: Truyện ngắn.

Câu 2.

Tác dụng: Dấu ba chấm trong câu văn góp phần thế hiện dòng tâm trạng xao xuyến, mơ mộng, những tưởng tượng, mong ước về một tình yêu lãng mạn đang diễn ra trong tâm hồn những người đồng đội khi được nghe Minh kế về câu chuyện tình yêu của anh.

Câu 3.

  • Tình huống của truyện là: Trước khi hi sinh, người lính trinh sát trẻ tên Minh cho đồng đội biết câu chuyện tình yêu lãng mạn với Hạnh mà anh từng kể chỉ là tưởng tượng và nhờ đồng đội ngày hòa bình hãy bỏ vào thùng bức thư đặc biệt mà anh viết cho Hạnh.
  • Nhận xét: Đây là một tình huống độc đáo, bất ngờ góp phần hé lộ những góc khuất trong tâm hồn của người lính.

Câu 4.

- Nhan đề truyện

Sao sáng lấp lánh được đặt tên từ một hình ảnh ấn tượng của nhân vật Hạnh

người yêu trong tưởng tượng của Minh

hình ảnh đôi mắt của cô gái như hai vì sao sáng lấp lánh.

- Nhan đề gợi ra cảm hứng về vẻ đẹp tâm hồn những người lính trong chiến tranh bảo vệ Tố quốc - khát vọng tình yêu bay bổng, lãng mạn là điểm tựa tinh thần mãnh liệt, là đôi cánh an ủi, nâng đỡ tâm hồn của họ trong cuộc chiến đấu nhiều đau thương, mất mát cho hòa bình, độc lập của đất nước.

Câu 5.

Trong văn bản, hình tượng người lính hiện lên qua những khía cạnh sau: Những cảm xúc riêng tư, sâu kín của cá nhân (nỗi buồn, nỗi cô đơn); khát vọng tình yêu mãnh liệt; những mất mát, hi sinh do sự khốc liệt của chiến tranh; tình đồng đội gắn bó, thủy chung. (HS dựa vào nội dung văn bản và vốn sống riêng để bàn luận thêm về hình tượng người lính, giúp câu trả lời thêm sâu sắc