Sìn Thị Định

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Sìn Thị Định
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. Bản sắc văn hóa dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đất nước ta trong thời kì hội nhập. Đó là tổng hòa những giá trị truyền thống tốt đẹp được hình thành và bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử, tạo nên cốt cách, bản lĩnh và linh hồn của dân tộc Việt Nam. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, khi các nền văn hóa giao thoa mạnh mẽ, bản sắc văn hóa chính là điểm tựa giúp chúng ta không bị hòa tan, đánh mất mình. Một đất nước chỉ thực sự được tôn trọng khi có bản sắc riêng, có giá trị đặc trưng để đóng góp cho cộng đồng quốc tế. Bên cạnh đó, bản sắc văn hóa còn góp phần gắn kết con người, nuôi dưỡng lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Vì vậy, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là nhiệm vụ của mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ – những người trực tiếp đưa văn hóa dân tộc vươn ra thế giới trong thời đại mới. Câu 2. Trong đời sống tinh thần của con người, nghệ thuật luôn có sức hấp dẫn đặc biệt. Mỗi tác phẩm nghệ thuật đều mang trong mình một vẻ đẹp riêng, có khả năng chạm đến cảm xúc sâu thẳm của người thưởng thức. Với tôi, bài hát “Nối vòng tay lớn” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là một tác phẩm nghệ thuật có sức hấp dẫn bền bỉ và sâu sắc. Trước hết, sức hấp dẫn của bài hát đến từ giá trị tư tưởng nhân văn cao đẹp. “Nối vòng tay lớn” là khúc ca về tinh thần đoàn kết dân tộc, khát vọng hòa bình và thống nhất. Trong từng ca từ giản dị mà giàu ý nghĩa, nhạc sĩ đã gửi gắm mong ước về một đất nước không còn chia cắt, nơi con người biết yêu thương và gắn bó với nhau. Thông điệp ấy không chỉ có ý nghĩa trong hoàn cảnh lịch sử ra đời của bài hát mà còn mang giá trị lâu dài, phù hợp với mọi thời đại. Bên cạnh đó, bài hát còn hấp dẫn người nghe bởi giai điệu mộc mạc, gần gũi nhưng đầy cuốn hút. Giai điệu không cầu kì, phức tạp mà nhẹ nhàng, da diết, dễ đi vào lòng người. Chính sự giản dị ấy lại giúp bài hát lan tỏa mạnh mẽ, trở thành khúc ca chung được nhiều thế hệ yêu mến và hát vang trong những dịp đặc biệt. Không chỉ vậy, sức hấp dẫn của “Nối vòng tay lớn” còn nằm ở khả năng khơi dậy cảm xúc và kết nối con người. Mỗi khi bài hát vang lên, người nghe như được hòa vào một vòng tay lớn của tình yêu thương, của tinh thần dân tộc. Tác phẩm không chỉ để thưởng thức mà còn để cảm nhận, để suy ngẫm và để sống tốt hơn. Cuối cùng, bài hát còn mang giá trị văn hóa sâu sắc, góp phần làm phong phú kho tàng âm nhạc Việt Nam. Nó là minh chứng cho sức mạnh của nghệ thuật chân chính: không cần phô trương hình thức, chỉ cần xuất phát từ trái tim thì sẽ chạm đến trái tim. Tóm lại, sức hấp dẫn của một tác phẩm nghệ thuật nằm ở sự kết hợp hài hòa giữa tư tưởng, cảm xúc và hình thức thể hiện. “Nối vòng tay lớn” chính là một tác phẩm như vậy – giản dị nhưng sâu sắc, mộc mạc mà bền lâu, để lại dấu ấn khó phai trong lòng người thưởng thức.

Câu 1

Những dấu hiệu cho thấy văn bản trên là văn bản thông tin +Trình bày những thông tin khách quan, chính xác về bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập. Nội dung được trình bày rõ ràng, mạch lạc, có dẫn chứng, số liệu, ví dụ cụ thể. Mục đích chính là cung cấp tri thức, nâng cao nhận thức cho người đọc chứ không thiên về bộc lộ cảm xúc cá nhân. Sử dụng hình ảnh giúp thông tin dễ hiểu hơn.

Câu 2. Văn bản viết về vai trò và ý nghĩa của bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế, đồng thời nhấn mạnh việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa như một “chiếc chìa khóa vàng” giúp đất nước tự tin hội nhập mà không bị hòa tan. Câu 3.

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ và tác dụng Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ: hình ảnh minh họa (biểu tượng văn hóa, trang phục truyền thống, di sản…). Tác dụng: Làm cho nội dung văn bản sinh động, trực quan. Giúp người đọc dễ hình dung, dễ ghi nhớ thông tin. Tăng sức thuyết phục, khơi gợi ý thức trân trọng bản sắc văn hóa dân tộc.

Câu 4.

Mối quan hệ giữa nội dung văn bản và nhan đề Nhan đề “Chiếc chìa khóa vàng để hội nhập” có mối quan hệ chặt chẽ với nội dung văn bản. “Chiếc chìa khóa vàng” là hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng cho bản sắc văn hóa dân tộc. Nội dung văn bản đã làm rõ rằng chính việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa sẽ giúp đất nước mở cánh cửa hội nhập thành công, vừa tiếp thu tinh hoa nhân loại vừa giữ được giá trị riêng. Câu 5.

Thông tin, nhận thức và việc làm cụ thể Những thông tin và nhận thức bổ ích: Hiểu rõ vai trò quan trọng của bản sắc văn hóa trong thời kì hội nhập.Nhận thức được nguy cơ đánh mất bản sắc nếu chạy theo cái mới một cách mù quáng.Ý thức được trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ và phát huy văn hóa dân tộc.Tìm hiểu, trân trọng và giới thiệu các giá trị văn hóa truyền thống (lễ hội, trang phục, tiếng Việt…).Ứng xử văn minh, giữ gìn tiếng Việt trong giao tiếp và trên mạng xã hội.Tham gia các hoạt động văn hóa – nghệ thuật truyền thống ở trường và địa phương.

Câu 1.

Văn bản giới thiệu về Quần thể di tích Cố đô Huế – một quần thể danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu của Việt Nam, từng là kinh đô của triều Nguyễn và đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Câu 2.

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là: Thuyết minh: giới thiệu, cung cấp thông tin về lịch sử hình thành, giá trị văn hóa – lịch sử của Quần thể di tích Cố đô Huế. Miêu tả: khắc họa vẻ đẹp kiến trúc, cảnh quan, không gian cổ kính của các công trình như Kinh thành, lăng tẩm, đền đài. Nghị luận (ở mức độ nhẹ): thể hiện sự đánh giá, khẳng định giá trị, ý nghĩa của di sản đối với dân tộc và nhân loại.

Câu 3.

Văn bản “Quần thể di tích Cố đô Huế – di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam” được coi là văn bản thông tin tổng hợp vì: Văn bản cung cấp nhiều loại thông tin khác nhau: lịch sử, văn hóa, kiến trúc, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa bảo tồn. Kết hợp chữ viết với hình ảnh minh họa, số liệu, dẫn chứng cụ thể. Thông tin được trình bày một cách khách quan, chính xác, đa chiều, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về đối tượng được giới thiệu.

Câu 4

. Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là hình ảnh minh họa (ảnh chụp quần thể di tích, các công trình kiến trúc ở Huế). Tác dụng: Giúp người đọc hình dung rõ nét vẻ đẹp, quy mô và sự cổ kính của Quần thể di tích Cố đô Huế. Tăng tính trực quan, sinh động, tạo hứng thú khi tiếp nhận thông tin. Góp phần nâng cao hiệu quả truyền đạt, làm cho nội dung văn bản trở nên thuyết phục hơn

. Câu 5.

Từ nội dung của văn bản, em cảm nhận Quần thể di tích Cố đô Huế là một di sản văn hóa vô cùng quý giá, kết tinh trí tuệ, tài năng và tâm hồn của cha ông ta. Không chỉ mang vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc, Huế còn chứa đựng những giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Di sản này khiến em thêm tự hào về truyền thống dân tộc, đồng thời ý thức rõ hơn trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa lịch sử cho mai sau.

Câu 1. Trong dòng chảy mạnh mẽ của hội nhập và toàn cầu hóa, việc bảo vệ và giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền thống là trách nhiệm quan trọng của thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay. Văn hóa truyền thống không chỉ là phong tục, tập quán, lễ hội, trang phục hay tiếng nói mà còn là cốt cách, lối sống, đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Tuy nhiên, một bộ phận giới trẻ đang có biểu hiện thờ ơ, sính ngoại, chạy theo trào lưu hiện đại mà quên đi giá trị văn hóa cha ông. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao ý thức gìn giữ bản sắc dân tộc. Giới trẻ cần chủ động tìm hiểu lịch sử, trân trọng tiếng Việt, giữ gìn phong tục tốt đẹp trong gia đình, làng quê; đồng thời biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc. Bên cạnh đó, việc quảng bá văn hóa truyền thống qua mạng xã hội, nghệ thuật, du lịch cũng là cách thể hiện trách nhiệm của tuổi trẻ. Khi giới trẻ có ý thức bảo vệ và phát huy văn hóa dân tộc, những giá trị truyền thống sẽ được gìn giữ bền vững và tỏa sáng trong đời sống hiện đại.

Câu 2.

Bài thơ “Hai Mặt Trời” của Lam là một tác phẩm giàu cảm xúc, thấm đẫm tình bà cháu và vẻ đẹp bình dị của làng quê Việt Nam. Qua những hình ảnh thân thương, bài thơ không chỉ gợi lại ký ức tuổi thơ êm đềm mà còn gửi gắm những suy ngẫm sâu sắc về tình thân và cội nguồn. Về nội dung, bài thơ khắc họa hình ảnh người bà tần tảo chở cháu trên chiếc xe đạp quen thuộc giữa buổi chiều làng quê. Hình ảnh “khói chiều”, “hoàng hôn”, “cỏ đồng”, “con sông lớn” tạo nên một không gian yên bình, đậm chất thôn quê. Trên nền cảnh ấy, hình ảnh bà hiện lên âm thầm, nhẫn nại, yêu thương cháu bằng những điều rất đỗi giản dị: niềm vui khi cháu được điểm mười, bữa cơm thịt kho, con đường mòn quen thuộc. Với đứa cháu thơ dại, bà không chỉ là người đưa đón mà còn là chỗ dựa tinh thần, là cả một thế giới yêu thương. Đến cuối bài thơ, hình ảnh “hai Mặt Trời” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: một Mặt Trời là thiên nhiên, là ánh sáng của tạo hóa; Mặt Trời còn lại chính là bà – nguồn sáng âm thầm soi đường, dẫn lối cho cháu suốt cuộc đời. Khi trưởng thành, dù có lúc lạc lối, con người vẫn có thể tìm về cội nguồn nhờ ánh sáng của tình thân, của quê hương. Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi giọng điệu nhẹ nhàng, giàu chất tự sự và trữ tình. Ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi với đời sống nông thôn giúp cảm xúc lan tỏa tự nhiên. Hình ảnh thơ mang tính tạo hình cao, đặc biệt là phép ẩn dụ “hai Mặt Trời” – một sáng tạo nghệ thuật tinh tế, giàu ý nghĩa biểu cảm. Nhịp thơ chậm rãi, đều đặn như vòng quay bánh xe đạp của bà, góp phần thể hiện sự bền bỉ, lặng thầm của tình yêu thương. Tóm lại, “Hai Mặt Trời” là một bài thơ đẹp cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Tác phẩm không chỉ ca ngợi tình bà cháu thiêng liêng mà còn nhắc nhở mỗi người hãy biết trân trọng gia đình, quê hương – nơi luôn có “mặt trời yêu thương” soi sáng bước đường đời.

Câu 1. Thể loại: Truyện ngắn. Câu 2. Tác dụng: Dấu ba chấm trong câu văn góp phần thể hiện dòng tâm trạng xao xuyến, mơ mộng, những tưởng tượng, mong ước về một tình yêu lãng mạn đang diễn ra trong tâm hồn những người đồng đội khi được nghe Minh kể về câu chuyện tình yêu của anh. Câu 3. Tình huống của truyện là: Trước khi hi sinh, người lính trinh sát trẻ tên Minh cho đồng đội biết câu chuyện tình yêu lãng mạn với Hạnh mà anh từng kể chỉ là tưởng tượng và nhờ đồng đội ngày hòa bình hãy bỏ vào thùng bức thư đặc biệt mà anh viết cho Hạnh. Đây là một tình huống độc đáo, bất ngờ góp phần hé lộ những góc khuất trong tâm hồn của người lính. Câu 4. Nhan đề truyện Sao sáng lấp lánh được đặt tên từ một hình ảnh ấn tượng của nhân vật Hạnh − người yêu trong tưởng tượng của Minh − hình ảnh đôi mắt của cô gái như hai vì sao sáng lấp lánh. Nhan đề gợi ra cảm hứng về vẻ đẹp tâm hồn những người lính trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc − khát vọng tình yêu bay bổng, lãng mạn là điểm tựa tinh thần mãnh liệt, là đôi cánh an ủi, nâng đỡ tâm hồn của họ trong cuộc chiến đấu nhiều đau thương, mất mát cho hòa bình, độc lập của đất nước. Câu 5. Trong văn bản, hình tượng người lính hiện lên qua những khía cạnh sau: Những cảm xúc riêng tư, sâu kín của cá nhân nỗi buồn, nỗi cô đơn; khát vọng tình yêu mãnh liệt; những mất mát, hi sinh do sự khốc liệt của chiến tranh; tình đồng đội gắn bó, thủy chung.

Câu 1.. Truyện ngăns sao lấp lánh của Nguyễn Thị Âms không chỉ gây ấn tượng cho người đọc vèe nội dung mà còn đặc sắc về nghệ thuật.Tác giả xây dựng tình huống của truyện gắn liền với sự kiện người lính trẻ tên Minh, trước khi hi sinh vì bom đạn địch trong một đêm trinh sát tại cảng Cửa Việt (Quảng Trị) vào những ngày nóng bóng của cuộc chiến đấu (1972) đã trăng trối lại rằng câu chuyện tình yêu lãng mạn với Hạnh mà anh kể cho đồng đội nghe chỉ là tưởng tượng. Anh chưa được cô gái nào yêu cả. Minh gửi lại bức thứ vẻn vẹn chỉ có sáu chữ mà anh đã viết sẵn, để trong túi áo ngực, nhờ đồng đội của mình hãy bỏ vào thùng thư khi đất nước hòa bình. Tình huống này tạo ra sự bất ngờ với người tiểu đội trưởng, đồng đội của anh và người đọc, hé mở những chiều sâu khác của thế giới tâm hồn người lính trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, gợi sự xúc động sâu sắc.Truyện sử dụng ngôi kể thứ nhất, có hai người kể chuyện. Người kể chuyện xưng "tôi" là tiểu đội trưởng, kể lại câu chuyện về Minh vào mấy thời điểm: khi mới nhập ngũ, khoe với mọi người về người yêu và câu chuyện tình yêu với Hạnh, khi ước nguyện của Minh được "tôi" hoàn thành... Người kể chuyện thứ hai là Minh, xưng "tớ" với đồng đội, kể lại câu chuyện tình yêu với Hạn.Không những thế,tác giả sử dụng điểm nhìn hạn tri, mang màu sắc cá nhân, chủ quan.Thời gian trong văn bản được trần thuật cụ thể, rõ ràng: ngày 30 tháng 4 năm 1975, năm 1972, sáu tháng sau. Sự ngắn ngủi của các mốc thời gian kết hợp với sự đối lập của các mốc thời gian đã gợi nên sự dữ dội, khốc liệt của chiến tranh.Không gian của truyện (không gian lãng mạn của Minh là Hà Nội), không gian thực tại (cảng Cửa Việt, Quảng Trị),...Câu chuyện của Minh khiến các đồng đội xao xuyến, mơ mộng, bay bổng mà nhìn lên bầu trời đêm.Sau sáu tháng, Minh đã hi sinh khi đang làm nhiệm vụ và bức thư Minh để trong túi áo. Những chi tiết này khiến ta liên tưởng đến những dòng thơ trong bài thơ Khúc bảy (Thanh Thảo): Chúng tôi ra đi không tiếc đời mình/ (Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc), giúp ta hiểu hơn về những phút giây yếu lòng, những cảm xúc chân thật của người lính để từ đó hiểu hơn sự gồng mình khi chiến đấu, sự cố gắng vượt lên mọi khó khăn vì Tổ quốc của người lính Việt Nam. Câu 2 Trong cuộc sống, mỗi con người đều cần có cho mình một điểm tựa để vững vàng trước những biến động và thử thách. Điểm tựa không chỉ là chỗ dựa vật chất mà quan trọng hơn là chỗ dựa tinh thần, giúp con người có thêm niềm tin, nghị lực và động lực để vươn lên trong cuộc đời. Điểm tựa trong cuộc sống được hiểu là những giá trị vật chất hoặc tinh thần mà con người có thể tin tưởng và nương tựa. Đó có thể là gia đình, bạn bè, thầy cô – những người luôn yêu thương, sẻ chia và nâng đỡ ta khi gặp khó khăn. Điểm tựa cũng có thể là ước mơ, lý tưởng sống, niềm tin vào bản thân hay những giá trị đạo đức tốt đẹp mà mỗi người theo đuổi. Nhờ có điểm tựa, con người không cảm thấy cô đơn, lạc lối mà có thêm sức mạnh để đối diện với nghịch cảnh. Trong thực tế, điểm tựa được thể hiện qua nhiều biểu hiện cụ thể. Khi gặp thất bại trong học tập hay cuộc sống, con người biết tìm đến gia đình, bạn bè để được an ủi và động viên. Với học sinh, điểm tựa chính là ước mơ và mục tiêu học tập, giúp các em kiên trì cố gắng dù con đường phía trước còn nhiều gian nan. Bên cạnh đó, điểm tựa còn thể hiện ở niềm tin vào bản thân, dám đối mặt với khó khăn, không buông xuôi số phận. Nhiều người dù sinh ra trong hoàn cảnh bất hạnh nhưng nhờ có ý chí và nghị lực mạnh mẽ đã vươn lên, khẳng định giá trị của mình. Tuy nhiên, điểm tựa không chỉ đến từ bên ngoài mà còn cần được xây dựng từ chính nội lực của bản thân. Nếu quá phụ thuộc vào người khác, con người sẽ trở nên yếu đuối và thiếu bản lĩnh. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện tri thức, ý chí và tinh thần tự lập để tự trở thành điểm tựa vững chắc cho chính mình, đồng thời là chỗ dựa cho người khác khi cần thiết. Tóm lại, điểm tựa có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người. Nó giúp ta vượt qua khó khăn, định hướng tương lai và sống có ý nghĩa hơn. Mỗi người hãy biết trân trọng những điểm tựa xung quanh mình và không ngừng bồi đắp nội lực để vững vàng trên hành trình cuộc đời.

Câu 1.. Truyện ngăns sao lấp lánh của Nguyễn Thị Âms không chỉ gây ấn tượng cho người đọc vèe nội dung mà còn đặc sắc về nghệ thuật.Tác giả xây dựng tình huống của truyện gắn liền với sự kiện người lính trẻ tên Minh, trước khi hi sinh vì bom đạn địch trong một đêm trinh sát tại cảng Cửa Việt (Quảng Trị) vào những ngày nóng bóng của cuộc chiến đấu (1972) đã trăng trối lại rằng câu chuyện tình yêu lãng mạn với Hạnh mà anh kể cho đồng đội nghe chỉ là tưởng tượng. Anh chưa được cô gái nào yêu cả. Minh gửi lại bức thứ vẻn vẹn chỉ có sáu chữ mà anh đã viết sẵn, để trong túi áo ngực, nhờ đồng đội của mình hãy bỏ vào thùng thư khi đất nước hòa bình. Tình huống này tạo ra sự bất ngờ với người tiểu đội trưởng, đồng đội của anh và người đọc, hé mở những chiều sâu khác của thế giới tâm hồn người lính trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, gợi sự xúc động sâu sắc.Truyện sử dụng ngôi kể thứ nhất, có hai người kể chuyện. Người kể chuyện xưng "tôi" là tiểu đội trưởng, kể lại câu chuyện về Minh vào mấy thời điểm: khi mới nhập ngũ, khoe với mọi người về người yêu và câu chuyện tình yêu với Hạnh, khi ước nguyện của Minh được "tôi" hoàn thành... Người kể chuyện thứ hai là Minh, xưng "tớ" với đồng đội, kể lại câu chuyện tình yêu với Hạn.Không những thế,tác giả sử dụng điểm nhìn hạn tri, mang màu sắc cá nhân, chủ quan.Thời gian trong văn bản được trần thuật cụ thể, rõ ràng: ngày 30 tháng 4 năm 1975, năm 1972, sáu tháng sau. Sự ngắn ngủi của các mốc thời gian kết hợp với sự đối lập của các mốc thời gian đã gợi nên sự dữ dội, khốc liệt của chiến tranh.Không gian của truyện (không gian lãng mạn của Minh là Hà Nội), không gian thực tại (cảng Cửa Việt, Quảng Trị),...Câu chuyện của Minh khiến các đồng đội xao xuyến, mơ mộng, bay bổng mà nhìn lên bầu trời đêm.Sau sáu tháng, Minh đã hi sinh khi đang làm nhiệm vụ và bức thư Minh để trong túi áo. Những chi tiết này khiến ta liên tưởng đến những dòng thơ trong bài thơ Khúc bảy (Thanh Thảo): Chúng tôi ra đi không tiếc đời mình/ (Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc), giúp ta hiểu hơn về những phút giây yếu lòng, những cảm xúc chân thật của người lính để từ đó hiểu hơn sự gồng mình khi chiến đấu, sự cố gắng vượt lên mọi khó khăn vì Tổ quốc của người lính Việt Nam. Câu 2 Trong cuộc sống, mỗi con người đều cần có cho mình một điểm tựa để vững vàng trước những biến động và thử thách. Điểm tựa không chỉ là chỗ dựa vật chất mà quan trọng hơn là chỗ dựa tinh thần, giúp con người có thêm niềm tin, nghị lực và động lực để vươn lên trong cuộc đời. Điểm tựa trong cuộc sống được hiểu là những giá trị vật chất hoặc tinh thần mà con người có thể tin tưởng và nương tựa. Đó có thể là gia đình, bạn bè, thầy cô – những người luôn yêu thương, sẻ chia và nâng đỡ ta khi gặp khó khăn. Điểm tựa cũng có thể là ước mơ, lý tưởng sống, niềm tin vào bản thân hay những giá trị đạo đức tốt đẹp mà mỗi người theo đuổi. Nhờ có điểm tựa, con người không cảm thấy cô đơn, lạc lối mà có thêm sức mạnh để đối diện với nghịch cảnh. Trong thực tế, điểm tựa được thể hiện qua nhiều biểu hiện cụ thể. Khi gặp thất bại trong học tập hay cuộc sống, con người biết tìm đến gia đình, bạn bè để được an ủi và động viên. Với học sinh, điểm tựa chính là ước mơ và mục tiêu học tập, giúp các em kiên trì cố gắng dù con đường phía trước còn nhiều gian nan. Bên cạnh đó, điểm tựa còn thể hiện ở niềm tin vào bản thân, dám đối mặt với khó khăn, không buông xuôi số phận. Nhiều người dù sinh ra trong hoàn cảnh bất hạnh nhưng nhờ có ý chí và nghị lực mạnh mẽ đã vươn lên, khẳng định giá trị của mình. Tuy nhiên, điểm tựa không chỉ đến từ bên ngoài mà còn cần được xây dựng từ chính nội lực của bản thân. Nếu quá phụ thuộc vào người khác, con người sẽ trở nên yếu đuối và thiếu bản lĩnh. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện tri thức, ý chí và tinh thần tự lập để tự trở thành điểm tựa vững chắc cho chính mình, đồng thời là chỗ dựa cho người khác khi cần thiết. Tóm lại, điểm tựa có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người. Nó giúp ta vượt qua khó khăn, định hướng tương lai và sống có ý nghĩa hơn. Mỗi người hãy biết trân trọng những điểm tựa xung quanh mình và không ngừng bồi đắp nội lực để vững vàng trên hành trình cuộc đời.

Câu 1.. Truyện ngăns sao lấp lánh của Nguyễn Thị Âms không chỉ gây ấn tượng cho người đọc vèe nội dung mà còn đặc sắc về nghệ thuật.Tác giả xây dựng tình huống của truyện gắn liền với sự kiện người lính trẻ tên Minh, trước khi hi sinh vì bom đạn địch trong một đêm trinh sát tại cảng Cửa Việt (Quảng Trị) vào những ngày nóng bóng của cuộc chiến đấu (1972) đã trăng trối lại rằng câu chuyện tình yêu lãng mạn với Hạnh mà anh kể cho đồng đội nghe chỉ là tưởng tượng. Anh chưa được cô gái nào yêu cả. Minh gửi lại bức thứ vẻn vẹn chỉ có sáu chữ mà anh đã viết sẵn, để trong túi áo ngực, nhờ đồng đội của mình hãy bỏ vào thùng thư khi đất nước hòa bình. Tình huống này tạo ra sự bất ngờ với người tiểu đội trưởng, đồng đội của anh và người đọc, hé mở những chiều sâu khác của thế giới tâm hồn người lính trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, gợi sự xúc động sâu sắc.Truyện sử dụng ngôi kể thứ nhất, có hai người kể chuyện. Người kể chuyện xưng "tôi" là tiểu đội trưởng, kể lại câu chuyện về Minh vào mấy thời điểm: khi mới nhập ngũ, khoe với mọi người về người yêu và câu chuyện tình yêu với Hạnh, khi ước nguyện của Minh được "tôi" hoàn thành... Người kể chuyện thứ hai là Minh, xưng "tớ" với đồng đội, kể lại câu chuyện tình yêu với Hạn.Không những thế,tác giả sử dụng điểm nhìn hạn tri, mang màu sắc cá nhân, chủ quan.Thời gian trong văn bản được trần thuật cụ thể, rõ ràng: ngày 30 tháng 4 năm 1975, năm 1972, sáu tháng sau. Sự ngắn ngủi của các mốc thời gian kết hợp với sự đối lập của các mốc thời gian đã gợi nên sự dữ dội, khốc liệt của chiến tranh.Không gian của truyện (không gian lãng mạn của Minh là Hà Nội), không gian thực tại (cảng Cửa Việt, Quảng Trị),...Câu chuyện của Minh khiến các đồng đội xao xuyến, mơ mộng, bay bổng mà nhìn lên bầu trời đêm.Sau sáu tháng, Minh đã hi sinh khi đang làm nhiệm vụ và bức thư Minh để trong túi áo. Những chi tiết này khiến ta liên tưởng đến những dòng thơ trong bài thơ Khúc bảy (Thanh Thảo): Chúng tôi ra đi không tiếc đời mình/ (Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc), giúp ta hiểu hơn về những phút giây yếu lòng, những cảm xúc chân thật của người lính để từ đó hiểu hơn sự gồng mình khi chiến đấu, sự cố gắng vượt lên mọi khó khăn vì Tổ quốc của người lính Việt Nam. Câu 2 Trong cuộc sống, mỗi con người đều cần có cho mình một điểm tựa để vững vàng trước những biến động và thử thách. Điểm tựa không chỉ là chỗ dựa vật chất mà quan trọng hơn là chỗ dựa tinh thần, giúp con người có thêm niềm tin, nghị lực và động lực để vươn lên trong cuộc đời. Điểm tựa trong cuộc sống được hiểu là những giá trị vật chất hoặc tinh thần mà con người có thể tin tưởng và nương tựa. Đó có thể là gia đình, bạn bè, thầy cô – những người luôn yêu thương, sẻ chia và nâng đỡ ta khi gặp khó khăn. Điểm tựa cũng có thể là ước mơ, lý tưởng sống, niềm tin vào bản thân hay những giá trị đạo đức tốt đẹp mà mỗi người theo đuổi. Nhờ có điểm tựa, con người không cảm thấy cô đơn, lạc lối mà có thêm sức mạnh để đối diện với nghịch cảnh. Trong thực tế, điểm tựa được thể hiện qua nhiều biểu hiện cụ thể. Khi gặp thất bại trong học tập hay cuộc sống, con người biết tìm đến gia đình, bạn bè để được an ủi và động viên. Với học sinh, điểm tựa chính là ước mơ và mục tiêu học tập, giúp các em kiên trì cố gắng dù con đường phía trước còn nhiều gian nan. Bên cạnh đó, điểm tựa còn thể hiện ở niềm tin vào bản thân, dám đối mặt với khó khăn, không buông xuôi số phận. Nhiều người dù sinh ra trong hoàn cảnh bất hạnh nhưng nhờ có ý chí và nghị lực mạnh mẽ đã vươn lên, khẳng định giá trị của mình. Tuy nhiên, điểm tựa không chỉ đến từ bên ngoài mà còn cần được xây dựng từ chính nội lực của bản thân. Nếu quá phụ thuộc vào người khác, con người sẽ trở nên yếu đuối và thiếu bản lĩnh. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện tri thức, ý chí và tinh thần tự lập để tự trở thành điểm tựa vững chắc cho chính mình, đồng thời là chỗ dựa cho người khác khi cần thiết. Tóm lại, điểm tựa có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người. Nó giúp ta vượt qua khó khăn, định hướng tương lai và sống có ý nghĩa hơn. Mỗi người hãy biết trân trọng những điểm tựa xung quanh mình và không ngừng bồi đắp nội lực để vững vàng trên hành trình cuộc đời.

Câu 1: Nhân vật Thứ trong đoạn trích “Sống mòn” của Nam Cao là một hình tượng điển hình, phản ánh sâu sắc bi kịch của tầng lớp trí thức tiểu tư sản trong xã hội cũ. Thứ là một thầy giáo nghèo. Thứ luôn mang trong mình khát vọng về một cuộc sống có ý nghĩa, một tương lai tươi sáng và hạnh phúc. Tuy nhiên, thực tại khắc nghiệt với cuộc sống bế tắc, đồng lương ít ỏi, gánh nặng cơm áo gạo tiền đã bóp nghẹt những ước mơ của anh. Thứ phải chôn chặt sự quẩn quanh trong một môi trường tăm tối, nơi mà lý tưởng dần lụi tàn, tinh thần dần bị bào mòn bởi những áp lực và sự nhàm chán thường nhật. Anh trở thành biểu tượng cho sự xung đột giữa khát vọng cá nhân và hiện thực phũ phàng của xã hội cũ. Tuy nhiên, trong sâu thẳm con người Thứ vẫn tồn tại ý thức phản kháng và khao khát vươn lên. Anh ý thức được cuộc “sống mòn” của mình, nhưng bất lực trong việc thay đổi số phận. Qua nhân vật Thứ, Nam Cao không chỉ tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến bóp nghẹt con người mà còn bày tỏ lòng trắc ẩn sâu sắc đối với nỗi khổ của kiếp người nhỏ bé. Tác phẩm là lời kêu gọi sự thay đổi, giải phóng con người khỏi sự cùng quẫn vô hình, để sống một cuộc đời trọn vẹn hơn

Câu2

Gabriel Garcia Marquez từng viết: “Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ”.Quả đúng như vậy,câu nói như một triết lý sâu sắc trong cuộc sống.Mỗi người trẻ chúng ta cần phải sống có ước mơ,có hoài bão Tuổi trẻ là hai từ rất đỗi hoài niệm và thiêng liêng. Đó là lúc tâm hồn và cuộc sống của chúng ta tràn đầy những ước mơ, hoài bão, những khát khao cháy bỏng phi thường. Ước mơ là những khao khát, mong muốn con người muốn đạt được. Mỗi chúng ta đều cần có ước mơ, hoài bão và sự nỗ lực để khiến cho cuộc sống thêm rực rỡ hơn. Những ước mơ, hoài bão như một chiếc dây cót cho ta thêm động lực, nhưng để đạt được thành quả mong muốn, chúng ta buộc phải hành động. Ắt hẳn, chúng ta đều có những con đường và đích đến khác nhau, nhưng hãy nhớ rằng, hướng đi nào cũng đều có một điểm chung là sẽ bị giăng gài vào cái cuộc sống vốn dĩ không dễ dàng này. Tuy nhiên, chỉ cần có sự nỗ lực và dám nghĩ dám làm, ta sẽ nhận lại được phần thưởng xứng đáng. Câu chuyện về Walt Disney chính là minh chứng rõ ràng cho việc thành công nhờ quyết tâm theo đuổi ước mơ. Ông là con thứ tư trong một gia đình nông dân nghèo và có một người cha rượu chè, bài bạc. Vì không có tiền học vẽ nên W.Disney dùng than để vẽ lên giấy vệ sinh. Ông quyết tâm đến thành phố lớn để hiện thực hóa hoài bão. Sau này, cái tên W. Disney đã trở nên nổi tiếng thế giới với những bộ phim hoạt hình đỉnh cao. Thế giới cổ tích mà Disney tạo nên đã thắp sáng thêm hàng triệu ước mơ khác của trẻ em toàn cầu. W. Disney đã từng nói về bốn điều làm nên cuộc đời mình: mơ ước, can đảm, tin tưởng và suy nghĩ. Và đương nhiên, trên hành trình chinh phục ước mơ thì ta cần tỉnh táo, phân biệt rạch ròi giữa lý tưởng chân chính với suy nghĩ viển vông, hão huyền, xa rời thực tế. Những người không có ước mơ luôn vô định, chán nản. Những người này sẽ không thấy được giá trị, ý nghĩa của cuộc đời cũng như khó có được thành công trong cuộc sống. Hãy theo đuổi ước mơ của mình. Mỗi người có một ước mơ và hoài bão riêng, nhưng khi chúng ta cùng hợp sức và cố gắng, chúng ta có thể xây dựng một đất nước mạnh mẽ hơn. Không ai hoàn hảo, nhưng khi chúng ta dám cố gắng hoàn thiện bản thân và tiến về phía trước, chúng ta sẽ thu hoạch được những thành tựu xứng đáng với những nỗ lực mà chúng ta đã bỏ ra. Chính bạn là người vẽ nên bức tranh cuộc đời bản thân. Đừng để bản thân phải hối hận, phải thốt lên hai từ “giá như”

Câu 1. Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản là điểm nhìn ngôi thứ ba, nhưng đặt điểm nhìn bên trong nhân vật Thứ.

Câu 2. .

Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là trở thành một nhà tư tưởng để đem mong sau này làm một phần công thương, mang lại tự do và hạnh phúc. Thứ từng khát khao sống một cuộc đời có ích, nuôi chí lớn, chung tay góp sức cải tạo xã hội và đấu tranh cho lẽ sống cao đẹp. Tuy nhiên, cuộc sống khắc nghiệt đã đem lại những đổi thay lớn lao, làm cho ước mơ của Thứ dần bị phai mờ.

Câu 3.

Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích là liệt kê (mốc lương ít ỏi, công việc đơn điệu, sự mòn mỏi…). Tác dụng: Giúp cho lời văn trở nên hài hòa, nhịp nhàng, tăng tính liên kết cho câu văn. Diễn tả rõ cảm giác bế tắc, tuyệt vọng, sự chán chường của nhân vật Thứ trước viễn cảnh tương lai. Nhấn mạnh nỗi khổ của con người trong cuộc sống vô nghĩa, “sống mòn”.

Câu 4.

Qua đoạn trích, quan niệm về cuộc sống và con người của nhân vật Thứ hiện lên đầy chân thực và sâu sắc. Cuộc sống của Thứ bế tắc, tù túng, nghèo khổ, không có lối thoát; Thứ bị mắc kẹt trong cảnh thất nghiệp, lệ thuộc, không được sống đúng với lý tưởng của bản thân. Trong hoàn cảnh đầy giằng xé ấy, con người của Thứ hiện lên thật đáng trân trọng: anh là người có ý thức về nhân phẩm, có lý tưởng sống cao đẹp, nhạy cảm và giàu tự trọng. Tuy nhiên, Thứ cũng là con người yếu đuối, bất lực trước hoàn cảnh, dần rơi vào bi kịch “sống mòn”.

Câu 5.

Từ văn bản, ta rút ra một triết lí: nhân sinh sâu sắc, con người chỉ thực sự sống khi được sống có ý nghĩa và có mục đích. Nhân vật Thứ đau khổ không chỉ vì nghèo túng mà còn do cảm giác sống vô ích, không được làm việc, không được cống hiến và bị chính bản thân mình coi thường. Qua đó, tác giả nhắc nhở mỗi con người cần biết trân trọng giá trị của lao động, nuôi dưỡng ước mơ và không ngừng nỗ lực để sống đúng đắn.