Nguyễn Thị Thanh Trà

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Thanh Trà
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. (2 điểm)

    Bài làm

“Tình huống là một lát cắt của sự sống, là một sự kiện diễn ra có phần bất ngờ nhưng cái quan trọng là sẽ chi phối nhiều điều trong cuộc sống con người.” (Nguyễn Minh Châu). Từ đó ta có thể thấy rằng tác phẩm ở phần đọc hiểu Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du đã nói lên được tiếng khóc thương sâu thẳm dành cho những kiếp người bất hạnh trong xã hội phong kiến đầy biến động. Nội dung đoạn trích nổi bật ở giá trị nhân đạo sâu sắc khi nhà thơ hướng ngòi bút vào những số phận bị lãng quên: người lính chết trận, người phụ nữ lỡ làng, kẻ hành khất đói rét. Dù khác nhau về cảnh ngộ, họ đều chung nỗi đau khổ, cô đơn và oan khuất, sống không trọn vẹn, chết không nơi nương tựa. Qua đó, Nguyễn Du bày tỏ niềm xót thương vô hạn đối với con người, đồng thời tố cáo xã hội đã đẩy họ vào cảnh lầm than. Về nghệ thuật, đoạn trích sử dụng thể thơ song thất lục bát giàu nhạc tính, giọng điệu bi thương, ai oán. Biện pháp liệt kê kết hợp với từ láy gợi hình, gợi cảm như “lập lòe”, “văng vẳng” đã khắc họa sinh động không gian u ám và nỗi đau ám ảnh của những linh hồn. Ngôn ngữ giản dị mà ám ảnh, hình ảnh giàu sức gợi đã góp phần làm nên sức lay động bền bỉ cho đoạn trích và khẳng định tấm lòng nhân đạo lớn lao của Nguyễn Du.

Câu 2

Bài làm

“Cái quý giá nhất của con người ta là đời sống. Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì những dĩ vãng ti tiện và hèn đớn”. (Ôxtơrôpxki) . Câu nói đã mang một ý nghĩa đến cho chúng ta là hãy sống chủ động , cống hiến cho gia đình và xã hội , phải biết tận dụng thời gian không để cuộc đời trôi qua một cách vô ích . Nhưng trong những năm gần đây, thế hệ gen Z thường xuyên bị gắn mác bằng nhiều định kiến tiêu cực như “lười biếng”, “thiếu kiên nhẫn”, “ngại khó”, “nhảy việc liên tục” hay “sống ảo, thiếu trách nhiệm”. Những nhận định ấy xuất hiện ngày càng nhiều trên mạng xã hội, trong môi trường học tập và cả nơi làm việc. Từ góc nhìn của người trẻ, tôi cho rằng những định kiến đó vừa có phần xuất phát từ thực tế, vừa chứa đựng sự phiến diện, cần được nhìn nhận một cách công bằng và thấu hiểu hơn.
Trước hết, cần thẳng thắn thừa nhận rằng một bộ phận gen Z còn tồn tại những hạn chế. Có người chưa đủ kiên trì trước khó khăn, dễ bỏ cuộc khi công việc không như mong muốn. Một số bạn trẻ còn phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ, mạng xã hội, dẫn đến lối sống thiếu kỷ luật và giảm khả năng tập trung. Chính những biểu hiện này đã vô tình trở thành “cơ sở” để xã hội gán cho cả một thế hệ những định kiến không mấy tích cực.
Tuy nhiên, việc quy chụp toàn bộ gen Z vào những khuôn mẫu tiêu cực là điều thiếu công bằng. Gen Z lớn lên trong bối cảnh xã hội biến động nhanh, công nghệ phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh gay gắt và áp lực tinh thần ngày càng lớn. Chính môi trường ấy đã hình thành nên một thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm và sẵn sàng thay đổi để tìm kiếm cơ hội phù hợp hơn. Việc gen Z “nhảy việc” không hẳn vì lười biếng, mà nhiều khi xuất phát từ mong muốn được làm việc đúng năng lực, được tôn trọng và phát triển bản thân trong môi trường lành mạnh

Bên cạnh đó, gen Z còn là thế hệ có ý thức rõ ràng về giá trị cá nhân và sức khỏe tinh thần. Khác với quan niệm “chịu đựng bằng mọi giá” của các thế hệ trước, người trẻ ngày nay dám nói “không” với môi trường độc hại, dám lên tiếng bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Điều này đôi khi bị hiểu nhầm là yếu đuối hay thiếu trách nhiệm, nhưng thực chất lại cho thấy sự tiến bộ trong nhận thức và cách sống. Một xã hội văn minh không chỉ cần những con người làm việc chăm chỉ, mà còn cần những con người biết sống cân bằng và có trách nhiệm với chính mình.
Từ góc nhìn của người trẻ, gen Z không mong được bao bọc hay ưu ái, mà mong được lắng nghe và thấu hiểu. Mỗi thế hệ đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng, được hình thành từ hoàn cảnh lịch sử và xã hội khác nhau. Thay vì gắn mác và phán xét, sự đồng hành, định hướng và chia sẻ kinh nghiệm từ các thế hệ đi trước sẽ giúp người trẻ trưởng thành vững vàng hơn. Ngược lại, gen Z cũng cần không ngừng rèn luyện kỷ luật, tinh thần trách nhiệm và thái độ cầu tiến để xóa bỏ những định kiến còn tồn tại.
Khép lại vấn đề này , những định kiến tiêu cực về gen Z vừa phản ánh một phần thực tế, vừa bộc lộ sự phiến diện trong cách nhìn nhận. Gen Z không phải là “thế hệ yếu kém”, mà là một thế hệ đang học cách thích nghi, khẳng định mình trong một thế giới đầy biến động. Chỉ khi xã hội nhìn nhận người trẻ bằng sự công bằng và thấu hiểu, còn người trẻ sống bằng trách nhiệm và nỗ lực, thì khoảng cách giữa các thế hệ mới thực sự được thu hẹp.

Câu 1. (2 điểm)

    Bài làm

“Tình huống là một lát cắt của sự sống, là một sự kiện diễn ra có phần bất ngờ nhưng cái quan trọng là sẽ chi phối nhiều điều trong cuộc sống con người.” (Nguyễn Minh Châu). Từ đó ta có thể thấy rằng tác phẩm ở phần đọc hiểu Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du đã nói lên được tiếng khóc thương sâu thẳm dành cho những kiếp người bất hạnh trong xã hội phong kiến đầy biến động. Nội dung đoạn trích nổi bật ở giá trị nhân đạo sâu sắc khi nhà thơ hướng ngòi bút vào những số phận bị lãng quên: người lính chết trận, người phụ nữ lỡ làng, kẻ hành khất đói rét. Dù khác nhau về cảnh ngộ, họ đều chung nỗi đau khổ, cô đơn và oan khuất, sống không trọn vẹn, chết không nơi nương tựa. Qua đó, Nguyễn Du bày tỏ niềm xót thương vô hạn đối với con người, đồng thời tố cáo xã hội đã đẩy họ vào cảnh lầm than. Về nghệ thuật, đoạn trích sử dụng thể thơ song thất lục bát giàu nhạc tính, giọng điệu bi thương, ai oán. Biện pháp liệt kê kết hợp với từ láy gợi hình, gợi cảm như “lập lòe”, “văng vẳng” đã khắc họa sinh động không gian u ám và nỗi đau ám ảnh của những linh hồn. Ngôn ngữ giản dị mà ám ảnh, hình ảnh giàu sức gợi đã góp phần làm nên sức lay động bền bỉ cho đoạn trích và khẳng định tấm lòng nhân đạo lớn lao của Nguyễn Du.

Câu 2

Bài làm

“Cái quý giá nhất của con người ta là đời sống. Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì những dĩ vãng ti tiện và hèn đớn”. (Ôxtơrôpxki) . Câu nói đã mang một ý nghĩa đến cho chúng ta là hãy sống chủ động , cống hiến cho gia đình và xã hội , phải biết tận dụng thời gian không để cuộc đời trôi qua một cách vô ích . Nhưng trong những năm gần đây, thế hệ gen Z thường xuyên bị gắn mác bằng nhiều định kiến tiêu cực như “lười biếng”, “thiếu kiên nhẫn”, “ngại khó”, “nhảy việc liên tục” hay “sống ảo, thiếu trách nhiệm”. Những nhận định ấy xuất hiện ngày càng nhiều trên mạng xã hội, trong môi trường học tập và cả nơi làm việc. Từ góc nhìn của người trẻ, tôi cho rằng những định kiến đó vừa có phần xuất phát từ thực tế, vừa chứa đựng sự phiến diện, cần được nhìn nhận một cách công bằng và thấu hiểu hơn.
Trước hết, cần thẳng thắn thừa nhận rằng một bộ phận gen Z còn tồn tại những hạn chế. Có người chưa đủ kiên trì trước khó khăn, dễ bỏ cuộc khi công việc không như mong muốn. Một số bạn trẻ còn phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ, mạng xã hội, dẫn đến lối sống thiếu kỷ luật và giảm khả năng tập trung. Chính những biểu hiện này đã vô tình trở thành “cơ sở” để xã hội gán cho cả một thế hệ những định kiến không mấy tích cực.
Tuy nhiên, việc quy chụp toàn bộ gen Z vào những khuôn mẫu tiêu cực là điều thiếu công bằng. Gen Z lớn lên trong bối cảnh xã hội biến động nhanh, công nghệ phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh gay gắt và áp lực tinh thần ngày càng lớn. Chính môi trường ấy đã hình thành nên một thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm và sẵn sàng thay đổi để tìm kiếm cơ hội phù hợp hơn. Việc gen Z “nhảy việc” không hẳn vì lười biếng, mà nhiều khi xuất phát từ mong muốn được làm việc đúng năng lực, được tôn trọng và phát triển bản thân trong môi trường lành mạnh

Bên cạnh đó, gen Z còn là thế hệ có ý thức rõ ràng về giá trị cá nhân và sức khỏe tinh thần. Khác với quan niệm “chịu đựng bằng mọi giá” của các thế hệ trước, người trẻ ngày nay dám nói “không” với môi trường độc hại, dám lên tiếng bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Điều này đôi khi bị hiểu nhầm là yếu đuối hay thiếu trách nhiệm, nhưng thực chất lại cho thấy sự tiến bộ trong nhận thức và cách sống. Một xã hội văn minh không chỉ cần những con người làm việc chăm chỉ, mà còn cần những con người biết sống cân bằng và có trách nhiệm với chính mình.
Từ góc nhìn của người trẻ, gen Z không mong được bao bọc hay ưu ái, mà mong được lắng nghe và thấu hiểu. Mỗi thế hệ đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng, được hình thành từ hoàn cảnh lịch sử và xã hội khác nhau. Thay vì gắn mác và phán xét, sự đồng hành, định hướng và chia sẻ kinh nghiệm từ các thế hệ đi trước sẽ giúp người trẻ trưởng thành vững vàng hơn. Ngược lại, gen Z cũng cần không ngừng rèn luyện kỷ luật, tinh thần trách nhiệm và thái độ cầu tiến để xóa bỏ những định kiến còn tồn tại.
Khép lại vấn đề này , những định kiến tiêu cực về gen Z vừa phản ánh một phần thực tế, vừa bộc lộ sự phiến diện trong cách nhìn nhận. Gen Z không phải là “thế hệ yếu kém”, mà là một thế hệ đang học cách thích nghi, khẳng định mình trong một thế giới đầy biến động. Chỉ khi xã hội nhìn nhận người trẻ bằng sự công bằng và thấu hiểu, còn người trẻ sống bằng trách nhiệm và nỗ lực, thì khoảng cách giữa các thế hệ mới thực sự được thu hẹp.

Câu 1. Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên là

  • Biểu cảm (bộc lộ niềm xót thương sâu sắc đối với các kiếp người bất hạnh).
  • Tự sự (kể lại, khắc họa các số phận khác nhau trong xã hội).
  • Miêu tả (gợi tả hoàn cảnh, cảnh ngộ đau thương của con người).
    Câu 2. Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là
  • Người lính trận chết nơi chiến trường.
  • Người phụ nữ lỡ làng, buôn nguyệt bán hoa.
  • Người đàn bà bất hạnh, sống khổ cực, chết trong đói rét.
  • Người hành khất, sống lang thang, chết nơi đầu đường xó chợ.
    Câu 3. Trình bày hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong hai dòng thơ dưới đây:

Lập lòe ngọn lửa ma trơi

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!
Hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong hai dòng thơ:

  • Các từ láy “lập lòe”, “văng vẳng” gợi cảm giác mờ ảo, rùng rợn, tang thương của không gian âm giới.
  • Làm nổi bật nỗi oan khuất, đau đớn của những linh hồn chết trận.
  • Góp phần thể hiện tấm lòng xót thương sâu sắc và cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du.

Câu 4.

  • Chủ đề: Đoạn trích thể hiện niềm thương cảm sâu sắc đối với những kiếp người bất hạnh, chết oan uổng, không nơi nương tựa trong xã hội cũ.
  • Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo, xót thương cho con người, đặc biệt là những thân phận bị xã hội vùi dập.
    Câu 5. (khoảng 5–7 dòng)

Từ cảm hứng nhân đạo trong đoạn trích, có thể thấy truyền thống nhân đạo là một giá trị bền vững của dân tộc Việt Nam. Đó là tinh thần yêu thương con người, biết cảm thông và sẻ chia với những số phận bất hạnh. Từ văn học trung đại đến đời sống hiện đại, người Việt luôn đề cao tình người, “lá lành đùm lá rách”. Truyền thống ấy không chỉ nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc mà còn nhắc nhở mỗi người hôm nay sống nhân ái, có trách nhiệm hơn với cộng đồng.