Trần Tâm
Giới thiệu về bản thân
Sự khác biệt giữa bác nông dân và con lừa trong câu chuyện ngụ ngôn thể hiện rõ nét qua tư duy và hành động trước nghịch cảnh: bác nông dân chọn cách bỏ cuộc, tiêu cực và thực dụng, trong khi con lừa thể hiện sự kiên trì, chủ động và bình tĩnh tìm cách thoát thân.
Bài thơ "Đợi mẹ" của nhà thơ Vũ Quần Phương đã chạm đến trái tim người đọc bởi những dòng thơ giản dị, chân thực mà giàu sức gợi về hình ảnh một em bé ngồi đợi mẹ về trong buổi chiều tà. Ngay từ những câu thơ mở đầu, không gian làng quê yên tĩnh nhưng đượm buồn hiện ra với hình ảnh "em bé ngồi nhìn ra ruộng lúa" khi "trời tối trên đầu hè". Nửa vầng trăng non treo lơ lửng, đồng lúa hòa lẫn vào đêm, tất cả như bao trùm lấy sự cô đơn, trống trải của căn nhà tranh khi ngọn lửa bếp chưa nhen, mẹ vẫn chưa về. Sự mong ngóng của em bé được thể hiện tinh tế qua ánh nhìn dõi theo đom đóm, chờ tiếng bước chân mẹ. Đặc biệt, âm thanh tượng thanh "ì oạp" lội bùn ở phía đồng xa gợi lên hình ảnh người mẹ tần tảo, vất vả, bán mặt cho đất bán lưng cho trời vì mưu sinh, khiến người đọc không khỏi xót xa, cảm phục. Dù cảnh tượng đượm buồn, nhưng kết thúc lại ấm áp khi mẹ bế em vào nhà, nỗi đợi chờ dù đi cả vào giấc mơ vẫn được vỗ về bởi tình yêu thương. Bài thơ không chỉ tả cảnh, tả tình mà còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng về tình mẫu tử thiêng liêng, sự hy sinh thầm lặng của người mẹ và nỗi lòng ngây thơ, hiếu thảo của con trẻ. Nó khơi dậy trong mỗi chúng ta những ký ức tuổi thơ đẹp đẽ và lòng biết ơn sâu sắc đối với đấng sinh thành.
“Mây và sóng” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Ta-go. Bài thơ đã gợi ra cho người đọc cảm nhận sâu sắc về tình mẫu tử thiêng liêng. Em bé trong bài thơ được mời gọi đến thế giới kỳ diệu ở “trên mây” và “trong sóng”. Với sự hiếu kỳ của một đứa trẻ, em đã cất tiếng hỏi: “Nhưng làm thế nào mình lên đó được?”, “Nhưng làm thế nào mình ra ngoài đó được?”. Nhưng khi em bé nhớ đến mẹ vẫn luôn chờ đợi mình ở nhà, em đã từng chối đầy kiên quyết: “Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?”, “Làm sao có thể rời mẹ mà đi được?”. Chẳng có niềm hạnh phúc nào bằng được ở bên cạnh mẹ mặc dù thế giới ngoài kia nhiều hấp dẫn. Để rồi, em bé đã sáng tạo ra những trò chơi còn thú vị hơn của những người “trên mây” và “trong sóng”. Trong trò chơi đó, em sẽ là mây, là sóng tinh nghịch nô đùa; còn mẹ sẽ là vầng trăng, là bờ biển dịu hiền, ôm ấp và che chở con. Những câu thơ giàu tính tự sự và miêu tả nhưng lại góp phần bộc lộ cảm xúc của nhân vật trong bài thơ. Ta-go đã sử dụng trong bài thơ những lời thoại, chi tiết được kể tuần tự, vừa lặp lại vừa biến hóa kết hợp với hình ảnh giàu tính biểu tượng. Bài thơ chính là một câu chuyện cảm động về tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt.
Bài thơ "Mẹ và quả" của Nguyễn Khoa Điềm đã chạm đến trái tim người đọc bởi những vần thơ mộc mạc mà sâu sắc về tình mẫu tử và sự hy sinh thầm lặng. Qua hình ảnh người mẹ tần tảo vun trồng "mùa quả" song song với nuôi dưỡng con lớn khôn, tác giả khắc họa công lao to lớn, đồng thời gửi gắm nỗi day dứt, lo âu về trách nhiệm trưởng thành của con trước khi mẹ già yếu. Đọc từng câu thơ, em không khỏi xúc động trước hình ảnh người mẹ lam lũ, suốt đời "lặn" rồi "mọc" cùng những mùa bí bầu, chăm chút từng chút một để đàn con khôn lớn. Biện pháp đối lập "Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên/ Còn những bí và bầu thì lớn xuống" không chỉ tả thực mà còn ẩn dụ sâu sắc: cả quả và con đều kết tinh từ giọt mồ hôi mặn mòi, từ tình yêu thương vô bờ bến của mẹ. Hình ảnh "bàn tay mẹ" xuất hiện xuyên suốt như biểu tượng cho lao động cần mẫn và sự che chở. Đặc biệt, câu thơ cuối "Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi/ Mình vẫn còn một thứ quả non xanh" khiến em giật mình thức tỉnh. Nỗi "hoảng sợ" ấy không chỉ là thương mẹ già yếu, mà là nỗi day dứt, ân hận của người con khi nhận ra bản thân có thể chưa trưởng thành, chưa xứng đáng với kỳ vọng và sự vun xới cả đời của mẹ. Đó là lời tự vấn bản thân về bổn phận tri ân và sống sao cho tròn chữ hiếu. Với thể thơ tự do, ngôn từ giản dị nhưng giàu hình ảnh ẩn dụ, Nguyễn Khoa Điềm đã biến câu chuyện riêng thành tiếng lòng chung của bao người con. Bài thơ nhắc nhở em phải biết trân quý thời gian bên mẹ, nỗ lực tu dưỡng để trở thành "mùa quả ngọt" thơm thảo, đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục. Đây thực sự là một nốt trầm xao xuyến về tình mẹ, để lại trong em những dư âm sâu sắc và bài học làm người quý giá.
h
kkkkkkkkkkkdddd
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, không gò bó về số chữ, số câu, nhịp điệu, nhưng vẫn giàu tính nhạc và cảm xúc.
câu2.
Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp với miêu tả để bộc lộ tình cảm thương nhớ, đau xót của người cháu dành cho người ngoại.
câu3.
- Biện pháp điệp ngữ “Tôi về, đi tìm ngoại” được sử dụng xuyên suốt bài thơ.
- Tác dụng:
- Nhấn mạnh nỗi khát khao, mong mỏi được gặp lại ngoại.
- Tạo nhịp điệu trầm buồn, da diết, gợi cảm giác hành trình tìm kiếm vừa thực vừa trong tâm tưởng.
- Làm nổi bật tình cảm sâu nặng, sự mất mát không thể bù đắp của người cháu.
Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp với miêu tả để bộc lộ tình cảm thương nhớ, đau xót của người cháu dành cho người ngoại.
câu 4.
Khổ thơ
Tôi về, đi tìm ngoại
Khóc cho đã nửa đời
Tôi về, trong lòng ngoại
Tôi tìm được biển khơ
- Người cháu đã khóc suốt nửa đời vì nỗi nhớ thương ngoại.
- Trong lòng ngoại, cháu tìm thấy sự bao dung, tình yêu thương vô bờ bến – ví như “biển khơi”.
- Đây là sự khẳng định: tình ngoại là nguồn an ủi, chở che, là nơi cháu tìm thấy bình yên và sức mạnh tinh thần.
câu 5.
- Hãy trân trọng tình cảm gia đình, đặc biệt là tình thương của ông bà – nguồn cội của yêu thương.
- Biết sống hiếu thảo, quan tâm, chăm sóc người thân khi họ còn bên cạnh.
- Tình cảm gia đình là chỗ dựa tinh thần lớn lao, không gì thay thế được.
câu 6.
Bài thơ gợi lên nỗi nhớ thương da diết của người cháu dành cho ngoại, vừa chân thành vừa xót xa. Những hình ảnh quen thuộc của ngôi nhà, chái bếp, lu nước, buồng chuối… gợi không gian quê hương bình dị, nơi chất chứa tình ngoại. Điệp khúc “Tôi về, đi tìm ngoại” vang lên như tiếng gọi khắc khoải, khiến người đọc xúc động. Qua đó, ta càng thấm thía giá trị của tình thân, càng thấy cần sống trọn vẹn, yêu thương và hiếu kính với ông bà, cha mẹ khi họ còn hiện hữu trong đời.
Độ dài cung đường là 40 km
.
a) Ảnh của vật tạo bởi gương phẳng là ảnh ảo, có kích thước bằng vật và đối xứng với vật qua gương. Góc tạo bởi ảnh và mặt gương là 30 độ.
b) Góc tạo bởi ảnh của vật và mặt gương là
a) Mối quan hệ giữa biên độ sóng âm và độ to của âm là tỷ lệ thuận: biên độ càng lớn thì âm phát ra càng to, và biên độ càng nhỏ thì âm càng nhỏ. Biên độ là đại lượng đặc trưng cho độ lớn của dao động, và sự dao động mạnh mẽ hơn (biên độ lớn) tạo ra sóng âm có cường độ lớn hơn, dẫn đến cảm giác âm thanh to hơn.
b) Mối quan hệ giữa tần số âm với độ cao của âm là tần số càng cao thì âm thanh càng cao (bổng), và tần số càng thấp thì âm thanh càng thấp (trầm). Tần số là thước đo tốc độ dao động của nguồn âm, còn độ cao là cảm nhận của tai người đối với âm thanh đó.
VD :
- Tiếng muỗi và ruồi: Âm thanh do muỗi bay phát ra thường nghe bổng hơn ruồi vì tần số của muỗi (khoảng 600 Hz) cao hơn tần số của ruồi (khoản 350 Hz).