Trần Tâm

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Tâm
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Số hiệu nguyên tử

Tên nguyên tố hóa học

Ký hiệu hóa học

1

Hydrogen

H

6

Carbon

C

11

Sodium

Na

17

Chlorine

Cl

20

Calcium

Ca

rong lịch sử dân tộc Việt Nam, có biết bao sự kiện hào hùng gắn với những con người kiên cường. Một trong những sự kiện mà em ấn tượng nhất là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 – chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” gắn liền với tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Đầu năm 1954, thực dân Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ở vùng Tây Bắc, hòng cắt đứt đường liên lạc của ta và biến nơi đây thành “pháo đài bất khả xâm phạm”. Trước tình thế đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Chính trị đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Ban đầu, kế hoạch là “đánh nhanh, thắng nhanh”, nhưng khi thấy tình hình chưa thật thuận lợi, Đại tướng đã can đảm ra quyết định chuyển phương châm sang “đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định ấy đã thể hiện tầm nhìn sáng suốt và bản lĩnh vững vàng của vị Tổng tư lệnh.

Suốt 56 ngày đêm, quân và dân ta đã kiên cường chiến đấu. Những chiếc xe kéo pháo qua đèo dốc, những đoàn dân công gùi gạo, gùi đạn vượt núi rừng hiểm trở là hình ảnh không thể nào quên. Ngày 7/5/1954, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries – tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hoàn toàn sụp đổ. Chiến thắng này buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.

Sự kiện Điện Biên Phủ không chỉ là mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc ta mà còn là niềm tự hào của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Qua chiến thắng này, em càng khâm phục Đại tướng Võ Nguyên Giáp – một vị tướng tài ba, đồng thời là người học trò xuất sắc của Bác Hồ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ để lại cho em bài học quý giá: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nếu có lòng dũng cảm, sự kiên trì và niềm tin vào chính nghĩa, chúng ta nhất định sẽ giành thắng lợi. Em tự nhủ phải cố gắng học tập, rèn luyện để xứng đáng với thế hệ cha ông đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.


Câu 1: Ngôi kể Ngôi thứ nhất. 

Câu 2: Chi tiết miêu tả ngoại hình của Ga-ro-nê

  • "đầu to vai rộng".
  • "cậu có thể nhấc cái ghế dài chỉ một tay thôi". 

Câu 3: Chi tiết thể hiện tình cảm của "tôi" đối với Ga-ro-nê

  • "tôi yêu bạn Ga-ro-nê lắm!".
  • "tôi rất vui thích được nắm chặt bàn tay to tướng của cậu trong tay mình".
  • "Tôi tin chắc rằng cậu sẽ không ngại liều mình để cứu một người, cậu sẽ đem hết sức mình để che chở cho bạn".
  • Nhận xét về tình cảm của "tôi": Tình cảm của nhân vật "tôi" dành cho Ga-ro-nê là một tình cảm quý mến, yêu thương và ngưỡng mộ sâu sắc, có sự gắn bó và tin tưởng cao độ. 

Câu 4: Vì sao một số người không có thiện cảm với Ga-ro-nê và cảm nhận về nhân vật

  • Lý do: Mặc dù cả lớp đều yêu quý Ga-ro-nê, nhưng một số người không có thiện cảm với cậu vì "Ga-ro-nê chống lại những hành động độc ác của chúng". Điều này khiến cho những kẻ xấu tính ghét và không ưa cậu.
  • Cảm nhận về nhân vật Ga-ro-nê: Ga-ro-nê là một cậu bé khỏe mạnh, tốt bụng, dũng cảm và có tinh thần nghĩa hiệp. Cậu luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác, bảo vệ những người yếu thế và không ngại đấu tranh với cái ác, dù điều đó có thể khiến cậu bị ghét bỏ. 

Câu 5: Bài học về cách ứng xử với bạn bè

  • Nên yêu quý, giúp đỡ và trân trọng những người bạn tốt bụng, giàu lòng nhân ái như Ga-ro-nê.
  • Không nên vì những lợi ích cá nhân mà xa lánh hay ghét bỏ những người bạn tốt.
  • Hãy dũng cảm bảo vệ lẽ phải, chống lại những hành động xấu xa, độc ác.
  • Luôn đối xử tốt với mọi người, dù họ có khác biệt về hoàn cảnh hay tính cách.
  • Đặc biệt, hãy yêu thương và đối xử tốt với những người yếu thế, khó khăn trong cuộc sống. 

Sau khi đọc bài thơ "Mây hay khóc" của tác giả Nguyễn Lãm Thắng, tôi cảm thấy rất xúc động và đắm chìm trong những tâm tư sâu sắc của tác giả.

Bài thơ mang đến cho tôi một cảm giác buồn và lắng đọng. Tác giả đã sử dụng những hình ảnh mây và nước mắt để tả lại những cảm xúc đau đớn và khó tả trong lòng người. Tôi có thể cảm nhận được sự đau khổ và nỗi buồn trong từng câu thơ. Tác giả đã mô tả mây như những "ngọn lửa tàn phai" và nước mắt như "mưa rơi trên mặt đất". Những hình ảnh này tạo nên một không gian u ám và đau thương, khiến tôi cảm nhận được sự tuyệt vọng và cô đơn của nhân vật trong bài thơ. Bài thơ cũng khơi gợi trong tôi những cảm xúc về sự mất mát và sự chia ly. Tôi cảm nhận được nỗi đau khi tác giả viết về "những mảnh tình tan vỡ" và "những giọt nước mắt khô cạn". Tình yêu và hy vọng đã tan biến, để lại những vết thương sâu trong lòng.

Tuy nhiên, dù bài thơ mang đến những cảm xúc buồn, nhưng nó cũng đem lại cho tôi một cái nhìn sâu sắc về cuộc sống và con người. Tôi nhận ra rằng trong cuộc sống, chúng ta không thể tránh khỏi những đau thương và nước mắt. Nhưng đôi khi, những nỗi đau đó cũng là những trải nghiệm quý giá, giúp chúng ta trưởng thành và hiểu rõ hơn về bản thân.

Tôi cảm thấy biết ơn với tác giả vì đã chia sẻ những tâm tư và cảm xúc chân thành trong bài thơ này. "Mây hay khóc" đã làm cho tôi suy ngẫm về cuộc sống và giúp tôi đánh giá lại những giá trị thực sự trong cuộc sống.

Câu 1.

Văn bản trên được viết theo thể thơ 4 chữ.

Câu 2.

Ba chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên trong bài thơ:

“Cánh chim bay xuống chiều”

“Buổi chiều thu mướt xanh”

“Nhấp nhô đều sóng lúa”

Câu 3.

Từ láy: chậm rãi

Tác dụng: Gợi tả sự thong thả, yên bình của cảnh vật và nhịp sống ở đồng quê, góp phần tạo nên không khí êm đềm, nhẹ nhàng cho bức tranh chiều thu nơi đồng nội.

Câu 4.

Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa thu.

Nhận xét: Bức tranh thiên nhiên được miêu tả rất trong trẻo, dịu dàng và nên thơ với màu sắc nhẹ nhàng, hương thơm của cỏ hoa, hình ảnh sống động của chim, cò, trâu và làn khói bếp – tất cả gợi nên vẻ đẹp thanh bình, gần gũi của làng quê Việt Nam.

Câu 5

Biện pháp tu từ: Nhân hóa (“Gọi trăng thu xuống gần”)

Tác dụng: Làm cho hình ảnh làn khói bếp trở nên có hồn, như có thể trò chuyện với thiên nhiên. Qua đó thể hiện sự giao hòa giữa con người và vạn vật, tạo nên không khí ấm cúng, gần gũi và nên thơ của làng quê lúc chiều thu.

Câu 6.

Khi đọc bài thơ, em nhớ về những buổi chiều cùng bà đi chăn trâu trên cánh đồng quê, ngắm hoàng hôn buông xuống và hít hà mùi thơm của rơm rạ. Kỉ niệm ấy giúp em hiểu rằng: tác giả muốn truyền tải vẻ đẹp bình dị, thanh bình và đầy yêu thương của quê hương, nơi luôn lưu giữ những ký ức trong trẻo và gắn bó với tuổi thơ mỗi người.

Trong hai câu thơ "Cánh sẻ vụt qua song/ Hót nắng vàng ánh ỏi", biện pháp tu từ được sử dụng là nhân hóa và ẩn dụ
  • Nhân hóa: Tác giả nhân hóa "cánh sẻ" như một chủ thể có hành động "vút qua song" và "hót".
    • Tác dụng: Tạo ra sự sinh động, hồn nhiên cho hình ảnh con chim sẻ, giúp người đọc hình dung ra một cảnh tượng thiên nhiên sống động, đầy sức sống.
  • Ẩn dụ: "Nắng vàng" được tác giả ẩn dụ cho ánh nắng rực rỡ, ấm áp, mang lại cảm giác tươi sáng cho không gian.
    • Tác dụng: Làm nổi bật màu sắc và âm thanh của thiên nhiên, tạo ra một bức tranh thiên nhiên đa sắc, đa âm thanh, vừa trong trẻo, vừa rộn rã
  • Tình yêu thương và trách nhiệm của người thầy: Bài thơ khắc họa sâu sắc tình yêu nghề và sự tận tâm của cô giáo dành cho học trò, đặc biệt là những em khiếm thính. Bằng sự kiên nhẫn, cô đã truyền đạt kiến thức và khơi gợi niềm vui học tập cho các em, biến những điều "tưởng" thành sự thật.
  • Sự vươn lên và nỗ lực của bản thân: "Tiếng hạt nảy mầm" không chỉ là hình ảnh về một hạt giống, mà còn là ẩn dụ cho sự trưởng thành của mỗi người. Dù gặp khó khăn, bằng sự nỗ lực, kiên trì, chúng ta vẫn có thể vượt qua mọi thử thách để đạt được thành công. 

Tháng tư vừa rồi, trường em có tổ chức một buổi tham quan nằm trong chuỗi hoạt động ngoại khóa của trường. Điểm đến lần này là Đền Hùng tại Việt Trì-Phú Thọ. Đây là nơi thờ phụng các đời Vua Hùng và tôn thất của nhà vua. Nơi đây gắn với Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch. Đây là một dịp để thế hệ con cháu đến viếng đền, tưởng nhớ đến những người đã có công dựng nước.

Em đã được nghe nhiều câu chuyện về các Vua Hùng qua các sự tích nổi tiếng như Sự tích bánh chưng bánh dày, Sơn Tinh Thủy Tinh… và thấy được sự uy nghiêm và trí tuệ của các vị vua. Điều đó khiến tôi càng mong đợi chuyến đi này hơn.

Dưới chân núi là khung cảnh uy nghiêm, hùng vĩ của núi Nghĩa Lĩnh với rừng cây và sương mù bao phủ. Nơi thờ các vị vua được đặt trên núi với ba đền chính là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Đền Hạ tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng. Trăm trứng ấy đẻ ra trăm người con, năm mươi người theo cha xuống biển, bốn chín người theo mẹ lên núi. Người con ở lại làm vua, lấy tên là Hùng Vương (thứ nhất). Đền Trung là nơi các vị vua họp bàn chính sự. Đền Thượng là lăng thờ Hùng Vương thứ sáu. Lễ hội đền Hùng được tổ chức hàng năm bao gồm những hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất nghi thức truyền thống và những hoạt động văn hóa dân gian khác… Các hoạt động văn hóa mang tính chất nghi thức còn lại đến ngày nay là lễ rước kiệu vua và lễ dâng hương. Dưới tán lá mát rượi của những cây trò, cây mỡ cổ thụ và âm vang trầm bổng của trống đồng, đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá huyền thoại để tới đỉnh núi Thiêng.

Trước khi đi tham quan các đền, chúng tôi được làm lễ dâng hương và nghe diễn thuyết về các vị Vua Hùng. Không khí trang nghiêm, hào hùng ấy khiến tôi không khỏi tự hào về lịch sử dân tộc mình. Họ đã dựng nước, giữ nước để đời sau con cháu được hưởng thụ nền độc lập, hòa bình ấy. Và nay chúng em đến đây để thể hiện lòng biết ơn, sự tôn trọng của mình đối họ, thể hiện đúng truyền thống đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Họ đã gây dựng nền móng cho nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa hiện tại và chúng em đều biết ơn điều đấy.

Sau đó, chúng em được đi thăm các đền thờ vua trên núi. Cách trang trí, sắp xếp các di vật đều được bố trí một cách ngay ngắn, trang nghiêm. Em ấn tượng với tấm bia ở đền Hạ khắc dòng chữ của Bác Hồ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước.” Nó như một lời hứa hẹn Bác thay thế hệ trẻ nói lên trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.

Đó thực sự là một chuyến đi đầy bổ ích và ý nghĩa. Mặc dù nó chỉ kéo dài trong một buổi sáng ngắn ngủi nhưng nó đã giúp em hiểu ra trách nhiệm của mình đối với đất nước. Phải biết kính trọng, biết ơn thế hệ đi trước đặc biệt là các vị Vua Hùng và phải ghi nhớ:

“Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.”


Question 1: I want some jam.

Question 2: It’s in April.

Question 3: It’s Thursday.

Question 4: I play chess.

Question 1: It’s ten twenty-five.

Question 2: Yes, she can .

Question 3: He’s from America.

Question 4: I listen to music.