Phạm Mẫn Thi
Giới thiệu về bản thân
. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm): – Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. – Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật trong hai khổ thơ 3 và 4 ở phần đọc hiểu. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0,5 điểm): – Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + Thể thơ tám chữ, có xen những dòng thơ bảy chữ giúp tác giả bộc lộ tình cảm sâu nặng dành cho quê hương xứ sở. + Hình ảnh thơ gần gũi, bình dị gợi nhắc đến quê hương: ngô lúa đơm bông, hạt gạo thảo thơm, cánh cò, trưa hè yên ả, bát chè xanh,… Không gian được mở rộng với khung cảnh thân thuộc, chất chứa đầy niềm thương, nỗi nhớ. + Các biện pháp tu từ so sánh, liệt kê,… được kết hợp hài hòa tạo nên những tầng nghĩa sâu sắc, gợi hình, gợi cảm. + … d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0,5 điểm): – Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt (0,25 điểm): Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn. e. Sáng tạo (0,25 điểm): Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Câu 2: Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm): Nghị luận xã hội. Xác định đúng vấn đề nghị luận (0,5 điểm): Bàn về tác hại của “bạo lực ngôn từ” và những giải pháp để hạn chế tình trạng này. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,0 điểm): – Xác định được các ý chính của bài viết. – Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu vấn đề nghị luận. * Triển khai vấn đề nghị luận: + Giải thích: “Bạo lực ngôn từ” là việc dùng lời lẽ xúc phạm, miệt thị, châm chọc, đe dọa hoặc làm tổn thương người khác thông qua các bình luận, tin nhắn, bài viết… trên các nền tảng trực tuyến. + Thực trạng: ++) Xuất hiện phổ biến trên Facebook, TikTok, YouTube, Instagram,… ++) Các hành vi điển hình: body-shaming (miệt thị ngoại hình), dùng từ ngữ tục tĩu, chửi bới, bình luận ác ý dưới bài viết, video,… ++) Nạn nhân không chỉ là người nổi tiếng mà cả học sinh, bạn bè cùng lớp. + Nguyên nhân: ++) Người dùng ẩn danh, không bị kiểm soát nên dễ buông lời vô ý thức.
Câu 1:Chủ đề của bài thơ: Tình cảm gắn bó sâu nặng, nỗi nhớ da diết dành cho quê hương – nơi chôn nhau cắt rốn, nơi có cha mẹ và là nơi lưu giữ những ký ức thân thương. Câu 2: Hình ảnh quê hương được tác giả nhắc đến qua những từ ngữ, hình ảnh: Cỏ lau trắng, khúc hát mẹ ru, những cánh đồng, hạt gạo thảo thơm, ngô lúa đơm bông, cánh cò, bát chè xanh,…
Câu 3:
- Tác dụng của biện pháp điệp ngữ “Có một miền”: – Nhấn mạnh sự tồn tại vĩnh cửu của quê hương trong tâm trí của người con xa quê. – Nhấn mạnh tình yêu thương, niềm nhớ da diết của “tôi” dành cho quê hương. – Tạo nên sự liên kết, mạch lạc giữa các khổ thơ. – Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, sâu lắng cho các dòng thơ. Câu 4 – “Áo bạc sờn trong nắng chiều vời vợi”: Thể hiện sự vất vả, lam lũ của người cha. “Áo bạc sờn” là hình ảnh gợi sự mệt mỏi, tần tảo trong công việc đồng áng. – “Mồ hôi cha mặn cả những cánh đồng”: Nhấn mạnh sự gian khổ, nhọc nhằn mà cha phải trải qua để nuôi con lớn khôn. Hình ảnh mồ hôi của cha tuôn như mưa “mặn cả những cánh đồng” cho thấy hình ảnh người cha bán mặt cho đất bán lưng cho trời đã cực nhọc nhiều năm. – Hai dòng thơ không đơn thuần chỉ là miêu tả hình ảnh người cha hay công việc lao động vất vả của cha mà qua đó còn ẩn ý về tình thương của cha dành cho con. Đặc biệt, những lời thơ dạt dào cảm xúc cũng chính là tình cảm thương yêu, kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc của người con dành cho cha. Câu 5: + Người trẻ cần có trách nhiệm bảo vệ quê hương, đất nước trong thời đại nhiều biến động thông qua những hành động thiết thực như: giữ gìn bản sắc văn hóa, có lòng tự tôn dân tộc, gìn giữ lãnh thổ, chủ quyền biển đảo thông qua những hoạt động tuyên truyền,… + Người trẻ còn cần phát huy tinh thần đoàn kết, sáng tạo, làm giàu cho quê hương và đất nước bằng những hành động thiết thực trong cuộc sống hàng ngày
Câu 1: Bài thơ “Mắt người Sơn Tây” gây ấn tượng sâu sắc bởi nghệ thuật trữ tình giàu tính nhạc và đậm chất địa danh. Trước hết, hình tượng “đôi mắt người Sơn Tây” được xây dựng như một biểu tượng nghệ thuật xuyên suốt. Đôi mắt ấy không chỉ là vẻ đẹp của một thiếu nữ mà còn kết tinh nỗi buồn của quê hương xứ Đoài trong chiến tranh. Thủ pháp điệp cấu trúc “Em có bao giờ…” lặp lại nhiều lần vừa tạo nhịp điệu da diết, vừa diễn tả nỗi khắc khoải khôn nguôi của cái tôi trữ tình. Hệ thống địa danh: Bất Bạt, Ba Vì, Sài Sơn, sông Đáy… được đưa vào thơ tự nhiên, gợi không gian văn hóa cụ thể, làm nỗi nhớ thêm chân thực. Bên cạnh đó, những hình ảnh tương phản giữa “mây trắng”, “lúa vàng”, “sáo diều đêm trăng” với “điêu tàn”, “xác trẻ trôi sông” tạo nên gam màu bi thương, cho thấy chiến tranh tàn phá cả cảnh vật lẫn con người. Giọng thơ vừa thiết tha vừa u uẩn, giàu chất lãng mạn mà vẫn thấm đẫm hiện thực, góp phần khắc sâu nỗi nhớ quê hương và khát vọng hòa bình. Câu 2: Có ý kiến cho rằng: “Càng lún sâu vào đố kị, người ta sẽ đánh mất đi lòng tôn nghiêm và giá trị của bản thân.” Theo em, đây là một nhận định đúng đắn, bởi đố kị không chỉ làm tổn hại đến người khác mà còn bào mòn chính nhân cách của mỗi người.Đố kị là trạng thái khó chịu, ganh ghét trước thành công hay ưu thế của người khác. Ở mức độ nhẹ, đó có thể là cảm xúc thoáng qua; nhưng khi nuôi dưỡng nó lâu dài, con người dễ rơi vào tâm lí so sánh tiêu cực, luôn cảm thấy bản thân thua kém và bất mãn. Thay vì nỗ lực hoàn thiện mình, người đố kị lại mong người khác thất bại. Chính suy nghĩ ấy làm méo mó nhân cách và khiến ta đánh mất sự tự trọng.Tác hại của lòng đố kị thể hiện ở nhiều phương diện. Trước hết, nó phá vỡ các mối quan hệ. Sự ganh ghét khiến con người cư xử thiếu chân thành, thậm chí nói xấu, hạ thấp người khác để thỏa mãn cái tôi. Bên cạnh đó, đố kị còn khiến bản thân luôn sống trong trạng thái tiêu cực, mệt mỏi, vì lúc nào cũng so đo hơn thua. Lâu dần, người ta không còn nhìn thấy giá trị riêng của mình mà chỉ chăm chăm vào thành công của người khác. Như vậy, lòng tôn nghiêm – tức sự tự trọng và niềm tin vào bản thân – dần bị xói mòn.Để loại bỏ thói quen xấu này, trước hết mỗi người cần thay đổi nhận thức: hiểu rằng thành công của người khác không làm giảm giá trị của mình. Mỗi người có xuất phát điểm, khả năng và hành trình riêng. Thay vì so sánh tiêu cực, ta có thể biến sự ngưỡng mộ thành động lực học hỏi. Khi biết ghi nhận nỗ lực của người khác, ta cũng học được cách trân trọng chính mình.Bên cạnh đó, cần rèn luyện lòng biết ơn và sự tự tin. Khi tập trung vào những điều mình đã làm được, ta sẽ bớt cảm giác thiếu thốn. Tham gia hoạt động tập thể, xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh cũng giúp hạn chế đố kị. Quan trọng hơn cả là thái độ sống tích cực: coi thành công của người khác là nguồn cảm hứng thay vì mối đe dọa.Tóm lại, đố kị là “bóng tối” âm thầm làm tổn thương nhân cách con người. Chỉ khi biết buông bỏ sự ganh ghét và hướng đến hoàn thiện bản thân, chúng ta mới giữ được lòng tự trọng và giá trị đích thực của mình.
Câu 1: Nhân vật trữ tình trong bài thơ: Tôi – người con trai đi lính. Câu 2: Những từ ngữ/ dòng thơ dùng để miêu tả “đôi mắt” trong khổ thơ thứ 5: U uẩn chiều lưu lạc/ Buồn viễn xứ khôn khuây/ Khúc hoàn ca rớm lệ. Câu 3: Nhận xét về tình cảm, cảm xúc của tác giả thể hiện trong bài thơ: – Yêu mến cảnh đẹp quê hương, ấn tượng về đôi mắt người Sơn Tây, mong ước đất nước sẽ sớm trở lại khung cảnh yên bình, dẫu cho ngày đó vẫn còn xa. – Yêu quê hương một cách chân thành và sâu nặng, sẵn sàng chịu đựng mọi hi sinh gian khổ để đứng lên cầm súng bảo vệ quê hương, với tâm hồn bay bổng, lãng mạn của tuổi trẻ. Câu 4: – Câu hỏi tu từ: Em có bao giờ em nhớ thương? – Hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi tu từ: + Bộc lộ cảm xúc nhớ nhung, yêu mến và hi vọng vào tình cảm của cô gái dành cho xứ Đoài, dành cho nhân vật trữ tình. + Tạo âm hưởng da diết, thiết tha cho câu thơ, tăng tính tạo hình, biểu cảm cho cách diễn đạt. + Thể hiện tình yêu thương, niềm trân trọng của tác giả trước vẻ đẹp của quê hương, của những con người trong kháng chiến. Câu 5: + Tình yêu quê hương, ý thức xây dựng đất nước giàu mạnh bền vững. + Trân trọng cuộc sống hòa bình, trân quý những điều bình dị trong cuộc sống đời thường.
Câu 1: Nhân vật chị cỏ bò trong truyện “Cổ tích” hiện lên với vẻ đẹp mộc mạc mà cảm động của người lao động nghèo giàu tình thương. Chị sống trong túp lều “thưng vách cót, phủ mái giấy dầu”, làm nghề cắt cỏ thuê – một công việc bấp bênh, lam lũ. Hoàn cảnh thiếu thốn ấy càng làm nổi bật tấm lòng nhân hậu khi chị sẵn sàng bẻ đôi nắm cơm giữa trưa hè nắng gắt để mời bà cụ xa lạ. Hành động “rước bà theo” không chỉ là sự cưu mang nhất thời mà là lựa chọn sẻ chia số phận. Khi bà ốm nặng, chị tận tụy chăm sóc, ôm ủ tấm thân già trong đêm rét buốt; lúc bà qua đời, chị lo liệu chu đáo từ việc nấu nước lá thơm đến thay áo cho mẹ nuôi. Tiếng gọi nghẹn ngào “Mẹ ơi!” ở cuối truyện cho thấy tình cảm chân thành, vượt lên quan hệ máu mủ. Qua nhân vật chị cỏ bò, tác giả khắc họa vẻ đẹp của lòng nhân ái: giữa cảnh đời cơ cực, con người vẫn có thể sưởi ấm nhau bằng nghĩa tình, làm nên một “cổ tích” giữa đời thường. Câu 2: Trong xã hội hiện đại, khi điều kiện sống ngày càng đầy đủ, nhiều bạn trẻ dễ rơi vào tâm lí ỷ lại. Bởi vậy, việc rèn luyện lối sống tự lập trở thành yêu cầu quan trọng đối với giới trẻ hôm nay. Theo em, tự lập không chỉ là một kĩ năng sống mà còn là nền tảng để trưởng thành. Tự lập là khả năng tự suy nghĩ, tự quyết định và chịu trách nhiệm về hành động của mình. Người sống tự lập không phụ thuộc hoàn toàn vào cha mẹ hay người khác, mà biết chủ động giải quyết vấn đề, từ những việc nhỏ như quản lí thời gian, tiền bạc đến những lựa chọn lớn như học tập, nghề nghiệp. Trong bối cảnh xã hội cạnh tranh và biến động nhanh chóng, nếu thiếu tự lập, người trẻ sẽ dễ bị động, mất phương hướng khi không còn sự bao bọc của gia đình.Rèn luyện lối sống tự lập giúp giới trẻ trưởng thành về tư duy và bản lĩnh. Khi tự mình vượt qua khó khăn, ta học được cách kiên trì, linh hoạt và chịu trách nhiệm. Thành công đạt được bằng nỗ lực cá nhân luôn mang lại niềm tự hào chân chính. Ngược lại, sự nuông chiều quá mức có thể khiến một bộ phận thanh niên thiếu kĩ năng sống cơ bản, dễ nản chí trước thử thách, thậm chí trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.Để rèn luyện tính tự lập, trước hết người trẻ cần thay đổi nhận thức: hiểu rằng sự giúp đỡ của cha mẹ là điểm tựa, không phải chỗ dựa vĩnh viễn. Học sinh có thể bắt đầu từ những việc cụ thể như tự giác học tập, tự sắp xếp kế hoạch cá nhân, tham gia lao động phù hợp với lứa tuổi, hoặc trải nghiệm công việc làm thêm để hiểu giá trị của đồng tiền. Quan trọng hơn, mỗi người phải dám chịu trách nhiệm khi mắc sai lầm, coi thất bại là bài học thay vì tìm cách đổ lỗi.Tuy nhiên, tự lập không đồng nghĩa với tách rời gia đình hay sống khép kín. Người trẻ vẫn cần lắng nghe lời khuyên của cha mẹ, thầy cô, nhưng quyết định cuối cùng phải dựa trên sự suy nghĩ chín chắn của bản thân. Đó mới là tự lập đúng nghĩa.Có thể nói, tự lập là hành trang không thể thiếu trên con đường trưởng thành. Khi biết đứng vững trên đôi chân mình, người trẻ sẽ tự tin hơn, bản lĩnh hơn và sẵn sàng bước vào cuộc sống rộng lớn phía trước.
Câu 1: Ngôi kể là ngôi thứ ba. Câu 2: Những chi tiết miêu tả hoàn cảnh của bà cụ và chị cỏ bò sau khi đã trở thành mẹ con và đùm bọc lấy nhau: + Họ sống trong một túp lều thưng vách cót. + Họ sống hòa thuận: Tối xuống, bên ngọn đèn hạt đỗ, nho nhỏ câu nói, tiếng cười. + Hai mẹ con đùm bọc lấy nhau: Thêm bà cụ, bớt bát cơm mà vui, cái vui ấm áp mới ghé thăm lều chị. … Trong đêm tê cóng, hai tấm thân gầy ôm nhau, ủ ấm hơi thở hôi hôi cho nhau dưới tấm chăn chiên lỗ chỗ. + Hoàn cảnh khó khăn: Từng cơn, từng cơn gió bấc ào ào lùa qua vách cót mỏng.
Câu 3: Chủ đề của truyện là ca ngợi tình người ấm áp giữa những con người nghèo khổ, dù trong hoàn cảnh khó khăn vẫn sẵn sàng san sẻ, cùng nhau vượt qua nghịch cảnh. Tác giả cũng bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc với những phận đời nghèo khó, bấp bênh trong xã hội.
Câu 4: – Sử dụng từ ngữ tạo nên biện pháp tu từ nhân hóa “Rét mướt ác với kẻ nghèo” gợi lên hoàn cảnh khó khăn của hai mẹ con, cho thấy sự túng quẩn của họ, những điều khổ sở họ phải chịu đựng. – Sự kết hợp các từ láy ào ào, đồm độp gợi lên sự khắc nghiệt của thiên nhiên và đằng sau đó là hoàn cảnh đáng thương, thiếu thốn của hai mẹ con. Câu 5: – Hình thức: + Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. + Dung lượng: Ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng. – Nội dung: Trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tình người trong cuộc sống. + Tình người tồn tại trong cuộc sống giúp xã hội trở nên văn minh hơn, tiến bộ hơn, giúp con người có một môi trường sống hòa bình. + Tình yêu thương giúp con người trở nên rộng lượng, lạc quan, yêu đời, bỏ qua cái tôi cá nhân hướng đến cái chung.
Câu 1: Đoạn trích trong bài thơ “Xin trả lại con Làng Nủ” gây ám ảnh mạnh mẽ bởi nghệ thuật xây dựng giọng điệu và hình thức biểu đạt giàu cảm xúc. Trước hết, tác giả lựa chọn ngôi xưng “con” – “bố” cùng hàng loạt câu hỏi dồn dập: “Làng Nủ mình đâu rồi bố ơi?”, “Đây là đâu mà mù mịt thế này?”… tạo nên giọng điệu hoảng loạn, ngơ ngác, khiến nỗi đau hiện lên chân thực và day dứt. Thủ pháp điệp từ, điệp cấu trúc (“đâu rồi”, “bố ơi”, “con muốn”) làm nhịp thơ gấp gáp, như tiếng gọi khẩn thiết trong tuyệt vọng. Hình ảnh “lấm lem bùn lũ”, “mũi mồm toàn bùn đất”, “dưới đất này lạnh lắm” vừa giàu tính tả thực, vừa gợi không gian tang thương, ngột ngạt. Sự đối lập giữa những ước mơ hồn nhiên: “ngày đầu tiên đi học”, “đón Trung Thu cùng bạn” với thực tại lạnh lẽo đã tạo nên hiệu ứng tương phản đau xót. Ngôn ngữ giản dị, gần với lời nói trẻ thơ nhưng ẩn chứa sức lay động lớn, khiến bài thơ không chỉ là tiếng kêu của một đứa trẻ mà còn là lời nhắc nhở nhân ái về những mất mát do thiên tai gây ra. Câu 2: Steve Jobs từng nói: “Cuộc sống là một hành trình tìm kiếm sự cân bằng giữa những điều bạn yêu thích và những điều bạn cần làm.” Câu nói ấy gợi cho người trẻ nhiều suy ngẫm, đặc biệt trong mối quan hệ giữa mong muốn cá nhân và kì vọng của gia đình. Theo em, để cân bằng hai yếu tố này, học sinh cần sự thấu hiểu, bản lĩnh và trách nhiệm.Trước hết, mỗi người trẻ phải hiểu rõ bản thân mình thực sự yêu thích điều gì, có năng lực ở đâu. Đam mê không chỉ là cảm xúc nhất thời mà cần được kiểm chứng bằng nỗ lực và kết quả. Khi đã xác định mục tiêu nghiêm túc, ta mới có cơ sở để trao đổi với gia đình. Nếu bản thân còn mơ hồ, thiếu cố gắng, thì rất khó thuyết phục cha mẹ tin tưởng.Bên cạnh đó, học sinh cần học cách lắng nghe và tôn trọng kì vọng của gia đình. Phần lớn cha mẹ đặt ra mong muốn không phải để áp đặt mà vì lo lắng cho tương lai của con. Thay vì phản ứng tiêu cực, người trẻ nên xem đó là một góc nhìn tham khảo. Có những điều “cần làm” như học tập nghiêm túc, rèn luyện kỉ luật, trau dồi kĩ năng… chính là nền tảng để theo đuổi điều mình “yêu thích” lâu dài. Đam mê sẽ trở nên bền vững hơn khi được xây trên nền trách nhiệm.Quan trọng hơn cả là sự đối thoại chân thành. Gia đình không phải hai chiến tuyến đối lập. Khi con cái chủ động chia sẻ kế hoạch, chứng minh sự nghiêm túc và sẵn sàng chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình, cha mẹ cũng sẽ dần cởi mở hơn. Sự cân bằng không phải là từ bỏ ước mơ hay phủ nhận kì vọng, mà là tìm điểm giao thoa giữa hai phía.Tuy nhiên, để làm được điều đó, người trẻ cần rèn luyện bản lĩnh: dám theo đuổi ước mơ nhưng cũng dám đối mặt với khó khăn; dám bảo vệ quan điểm nhưng không cực đoan; biết dung hòa giữa cảm xúc cá nhân và trách nhiệm gia đình. Khi hiểu rằng gia đình luôn là chỗ dựa chứ không phải rào cản, ta sẽ tìm được cách đi phù hợp.Với em, cân bằng giữa điều mình yêu và điều mình cần làm chính là quá trình trưởng thành. Đó là khi ta biết ước mơ nhưng không quên bổn phận; biết lắng nghe nhưng không đánh mất chính mình. Và hành trình ấy sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn khi có sự thấu hiểu từ cả hai phía.
Câu 1:
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là tác giả. Câu 2: Từ ngữ miêu tả hoàn cảnh của “con” trong hai khổ thơ đầu: lấm lem bùn lũ, không thể nào con cựa được chân tay, không thở được, mũi mồm toàn bùn đất. Câu 3: – Biện pháp tu từ: Câu hỏi tu từ. – Tác dụng:
+ Khiến cho câu thơ trở nên băn khoăn, trăn trở, suy tư, sinh động, hấp dẫn, cuốn hút người đọc + Nhấn mạnh hoàn cảnh ngặt nghèo của đứa bé đang bị vùi lấp, nằm sâu dưới lòng đất rất thương tâm. + Nhấn mạnh tâm trạng đau xót, bất lực của chính tác giả khi nhìn những đứa bé đang phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của lũ lụt, sạt lở. Câu 4: Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi niềm đau xót, thương cảm dành cho những đứa bé ở làng Nủ đã ra đi trong trận lũ lụt, sạt lở. Câu 5: Việc ta có thể làm là: – Gửi đến họ những lời động viên, chia sẻ chân thành; động viên họ vượt qua những khó khăn trước mắt, khắc phục hậu quả sau lũ lụt. – Với tinh thần nhường cơm sẻ áo, hãy tham gia quyên góp, giúp đỡ những hoàn cảnh đau thương, mất mát sau lũ.
Câu 1: Ba khổ thơ cuối của bài “Chim thêu” lắng lại trong cung bậc trữ tình sâu thẳm, khi tình cha vượt khỏi nỗi riêng để hướng tới ngày mai hòa bình. Hình ảnh “ba ôm tấm áo xanh giữa ngực” không chỉ là cử chỉ âu yếm mà còn là sự hóa thân của nỗi nhớ; chiếc áo trở thành điểm tựa tinh thần, nơi người cha “tưởng chừng nghe thổn thức tim con”. Nghệ thuật hoán dụ và cảm giác thính giác “tiếng chim non gọi đàn” gợi lên khát vọng sum vầy, đồng thời làm nổi bật tình phụ tử da diết giữa chia cắt chiến tranh. Đến khổ tiếp, hành động “treo áo con bên bàn làm việc” và lời thơ giản dị “ba giữ lấy, mai ngày cho con” chứa đựng niềm tin bền bỉ vào tương lai. Giọng điệu trầm lắng mà thiết tha đã chuyển nỗi đau thành hi vọng. Khổ cuối mở ra viễn cảnh “nước non một khối”, khi chiếc áo thêu chim trắng – biểu tượng hòa bình – sẽ theo “đàn em con đó” tung tăng vui chơi. Từ nỗi nhớ riêng, bài thơ nâng lên thành ước vọng chung của dân tộc, khẳng định sức mạnh của tình yêu thương và niềm tin vào ngày mai. Câu 2: Tình yêu thương của cha mẹ là điểm tựa đầu đời của mỗi con người. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng: tình yêu ấy có thể là động lực nhưng cũng có thể trở thành áp lực đối với con cái. Từ góc nhìn của một người con, em cho rằng nhận định này hoàn toàn có cơ sở. Trước hết, tình yêu thương đúng nghĩa luôn là động lực mạnh mẽ. Khi cha mẹ tin tưởng, lắng nghe và đồng hành, con cái sẽ có thêm tự tin để vượt qua thử thách. Một lời động viên đúng lúc, một cái ôm khi thất bại có thể giúp con đứng dậy sau vấp ngã. Tình yêu ấy giống như ngọn lửa âm thầm sưởi ấm, giúp con hiểu rằng phía sau mình luôn có một điểm tựa vững chắc. Chính sự bao dung và khích lệ ấy nuôi dưỡng ý chí, trách nhiệm và khát vọng vươn lên.Tuy nhiên, tình yêu thương nếu đặt sai cách lại dễ trở thành áp lực. Khi cha mẹ kì vọng quá cao, áp đặt ước mơ của mình lên con, hoặc so sánh con với người khác, tình yêu có thể biến thành gánh nặng. Con cái có thể học tập, cố gắng không phải vì đam mê mà vì sợ làm cha mẹ thất vọng. Lâu dần, điều đó gây mệt mỏi, mất phương hướng, thậm chí làm rạn nứt tình cảm gia đình. Yêu thương không đồng nghĩa với kiểm soát; quan tâm không có nghĩa là quyết định thay.Vì vậy, để tình yêu trở thành động lực, cần có sự thấu hiểu từ cả hai phía. Cha mẹ nên lắng nghe, tôn trọng cá tính và ước mơ riêng của con. Ngược lại, người con cũng cần chia sẻ suy nghĩ, nỗ lực hoàn thiện bản thân và biết trân trọng sự hi sinh thầm lặng của đấng sinh thành. Khi tình yêu được đặt trên nền tảng tôn trọng và tin tưởng, nó sẽ không còn là áp lực mà trở thành sức mạnh nâng đỡ con người trưởng thành.
Câu 1: Bài thơ được viết ở thể thơ song thất lục bát. Câu 2: Nhân vật trữ tình trong bài thơ trên là người cha. Câu 3: - Đề tài của thi phẩm là về tình phụ tử - Chủ đề về tình yêu thương vô bờ, sự lo lắng, niềm hi vọng mà người cha dành cho người con đang chiến đấu nơi xa Câu 4: - Chỉ ra: biện pháp tu từ được sử dụng là đảo ngữ: “Bâng khuâng” đảo lên trước “cặp mắt đen tròn”, “Chắt chiu” đảo lên trước “tiếng chim non gọi đàn”. - tác dụng của biện pháp tu từ: + Làm tăng sức sinh động, hấp dẫn, thu hút bạn đọc, gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. + Nhấn mạnh sự bồi hồi, tình cảm yêu thương sâu đậm của người cha dành cho con đồng thời làm nổi bật sự quý trọng, nâng niu những âm thanh nhỏ bé nhưng mang ý nghĩa sâu sắc như sự khao khát đoàn tụ hay tình yêu gia đình. + Khắc họa tâm trạng nhớ thương, da diết của nhân vật trữ tình dành cho người con. Câu 5: - Tình cảm mà người cha dành cho con được thể hiện qua các chi tiết sau: + Nhìn các cửa hàng bày bán quần áo trẻ con thì trong lòng dâng lên nỗi nhớ con khôn nguôi. + Mua cho con chiếc áo nhưng phiền muộn, đau lòng vì hai miền cách trở, chẳng thể gửi tấm áo cho con. + Ôm tấm áo mà mường tượng được ôm con, mong nhớ về con khôn nguôi. + Gửi gắm tình yêu, hi vọng nơi con qua hình chim thêu, mong mỏi về một ngày hòa bình, đất nước thống nhất, hòa bình, gia đình đoàn tụ, các con được thỏa thích hồn nhiên vui chơi. - Nhận xét về tình cảm của người cha: Người cha có tình yêu thương con da diết, luôn nhớ thương, lo lắng, quan tâm, mong chờ cho con trong hoàn cảnh mỗi người ở một phương trời xa cách.