Khiếu Minh Quân

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Khiếu Minh Quân
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 (0,5 điểm)

– Thể thơ: Tám chữ.

Câu 2 (0,5 điểm)

– Những vần được gieo trong bài thơ: "ong" – "sóng", "đồng", "rong"; "oc" – "học", "nhọc"; "o" – "nhỏ", "ngõ".

Câu 3 (1,0 điểm)

– Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ: Nhân hoá.

– Tác dụng: Giúp hình ảnh quê hương hiện lên chân thực, sinh động và có hồn hơn. Ở đây, biện pháp tu từ nhân hoá không chỉ gợi lên sự khắc nghiệt, khó khăn của một vùng quê miền biển nghèo khó, thiếu thốn (Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc) mà còn thổi vào những sự vật của quê hương – lúa, ngô – hồn người biết khát khao, trăn trở, hi vọng về một tương lai tươi sáng, tốt đẹp.

Câu 4 (1,0 điểm)

– Những dòng thơ miêu tả không gian quê hương trong bài thơ: Cát thường cuốn vào ngôi trường tôi học; Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc; Lúa ngô thèm màu xanh mướt, khôn nguôi; Thổi không ngơi cơn gió sạm da người; Những nẻo đường rát bỏng bàn chân nhỏ; Sông mùa lũ nước bò vào tận ngõ; Chim hải âu với cò bợ chung đàn.

– Nhận xét: Qua những hình ảnh trên, tác giả đã khắc hoạ một cách chân thực không gian quê hương – một vùng quê miền biển đầy nắng, gió với biết bao thiếu thốn, gian khổ như đất mặt, gió nóng, lũ lụt, cây cối khó sinh trưởng,… Song, mảnh đất này cũng là nơi chôn rau cắt rốn, nơi nuôi dưỡng tuổi thơ, khát vọng, lí tưởng của nhân vật trữ tình. Vì thế, qua việc khắc hoạ không gian quê hương, tác giả cũng thể hiện sự xúc động, tri ân đối với quê hương của mình.

Câu 5 (1,0 điểm)

– Từ nội dung của bài thơ, ta thấy quê hương không chỉ đơn thuần là nơi chôn rau cắt rốn mà còn lại nguồn cội nuôi dưỡng cả tâm hồn và thể chất mỗi con người.

– Từ nội dung trên, học sinh nêu cảm nhận, suy nghĩ của mình về ý nghĩa của quê hương đối với mỗi con người. Có thể theo hướng: Quê hương là nơi lưu giữ những kỉ niệm khó phai; là điểm tựa tinh thần cho mỗi con người; giúp con người can đảm vượt ra mọi trở ngại trong cuộc sống;…

Câu 1 (0,5 điểm)

– Thể thơ: Tám chữ.

Câu 2 (0,5 điểm)

– Những vần được gieo trong bài thơ: "ong" – "sóng", "đồng", "rong"; "oc" – "học", "nhọc"; "o" – "nhỏ", "ngõ".

Câu 3 (1,0 điểm)

– Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ: Nhân hoá.

– Tác dụng: Giúp hình ảnh quê hương hiện lên chân thực, sinh động và có hồn hơn. Ở đây, biện pháp tu từ nhân hoá không chỉ gợi lên sự khắc nghiệt, khó khăn của một vùng quê miền biển nghèo khó, thiếu thốn (Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc) mà còn thổi vào những sự vật của quê hương – lúa, ngô – hồn người biết khát khao, trăn trở, hi vọng về một tương lai tươi sáng, tốt đẹp.

Câu 4 (1,0 điểm)

– Những dòng thơ miêu tả không gian quê hương trong bài thơ: Cát thường cuốn vào ngôi trường tôi học; Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc; Lúa ngô thèm màu xanh mướt, khôn nguôi; Thổi không ngơi cơn gió sạm da người; Những nẻo đường rát bỏng bàn chân nhỏ; Sông mùa lũ nước bò vào tận ngõ; Chim hải âu với cò bợ chung đàn.

– Nhận xét: Qua những hình ảnh trên, tác giả đã khắc hoạ một cách chân thực không gian quê hương – một vùng quê miền biển đầy nắng, gió với biết bao thiếu thốn, gian khổ như đất mặt, gió nóng, lũ lụt, cây cối khó sinh trưởng,… Song, mảnh đất này cũng là nơi chôn rau cắt rốn, nơi nuôi dưỡng tuổi thơ, khát vọng, lí tưởng của nhân vật trữ tình. Vì thế, qua việc khắc hoạ không gian quê hương, tác giả cũng thể hiện sự xúc động, tri ân đối với quê hương của mình.

Câu 5 (1,0 điểm)

– Từ nội dung của bài thơ, ta thấy quê hương không chỉ đơn thuần là nơi chôn rau cắt rốn mà còn lại nguồn cội nuôi dưỡng cả tâm hồn và thể chất mỗi con người.

– Từ nội dung trên, học sinh nêu cảm nhận, suy nghĩ của mình về ý nghĩa của quê hương đối với mỗi con người. Có thể theo hướng: Quê hương là nơi lưu giữ những kỉ niệm khó phai; là điểm tựa tinh thần cho mỗi con người; giúp con người can đảm vượt ra mọi trở ngại trong cuộc sống;…

Đoạn trích “Con chim quên tiếng hót” của Nguyễn Quang Sáng gây ấn tượng bởi nghệ thuật kể chuyện đặc sắc, giàu ý nghĩa. Trước hết, tác giả lựa chọn cách kể chuyện lồng trong chuyện: câu chuyện về con nhồng được bà nội kể lại cho đàn cháu nghe trong không gian “ánh đèn dầu”, tạo cảm giác gần gũi, ấm áp mà thấm thía. Lối kể giản dị, tự nhiên, đậm màu sắc dân gian giúp câu chuyện vừa sinh động vừa hàm chứa bài học sâu sắc. Bên cạnh đó, nghệ thuật xây dựng tình huống truyện bất ngờ – con nhồng quen nói lời thô tục đúng lúc quan huyện xuất hiện – đã đẩy mâu thuẫn lên cao trào, làm nổi bật bi kịch. Hình ảnh miêu tả con chim từ lúc “như một cô công chúa” đến khi “nằm dưới đất như một miếng giẻ rách đen” tạo sự đối lập đau xót. Đặc biệt, chi tiết hai “giọt nước mắt của bà” khép lại câu chuyện bằng dư âm cảm xúc sâu lắng. Qua nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn và giàu kịch tính, tác giả gửi gắm bài học thấm thía về lời nói và trách nhiệm cá nhân.


Câu 2 (4,0 điểm)


Nước sạch là nguồn tài nguyên thiết yếu cho sự sống của con người và muôn loài. Thế nhưng hiện nay, trước tình trạng ô nhiễm môi trường và khai thác quá mức, nguồn nước sạch đang dần cạn kiệt. Trước thực trạng ấy, tuổi trẻ – lực lượng năng động và đông đảo của xã hội – cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình để chung tay bảo vệ nguồn nước.


Trước hết, nước sạch không chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày mà còn gắn liền với sức khỏe, sản xuất và sự phát triển bền vững của đất nước. Khi nguồn nước bị ô nhiễm hoặc suy giảm, con người phải đối mặt với nhiều hệ lụy như bệnh tật, thiếu nước sinh hoạt, mất cân bằng hệ sinh thái. Vì vậy, bảo vệ nguồn nước chính là bảo vệ tương lai của chính mình.


Tuổi trẻ có trách nhiệm thay đổi từ những hành động nhỏ nhất. Đó là sử dụng nước tiết kiệm trong sinh hoạt hằng ngày, không xả rác bừa bãi xuống sông hồ, tích cực tham gia các hoạt động làm sạch môi trường. Bên cạnh đó, người trẻ cần chủ động tìm hiểu kiến thức về biến đổi khí hậu, tài nguyên nước để nâng cao nhận thức và lan tỏa thông điệp bảo vệ môi trường đến cộng đồng. Sự sáng tạo của tuổi trẻ còn có thể được phát huy qua các dự án tái chế, ứng dụng công nghệ xử lí nước, hay những chiến dịch truyền thông ý nghĩa trên mạng xã hội.


Tuy nhiên, trách nhiệm không chỉ dừng ở hành động cá nhân mà còn ở thái độ sống. Tuổi trẻ cần lên tiếng trước những hành vi gây ô nhiễm nguồn nước, đồng thời ủng hộ các chính sách phát triển bền vững. Khi mỗi người trẻ ý thức được vai trò của mình, những thay đổi tích cực sẽ lan tỏa mạnh mẽ.


Bảo vệ nguồn nước sạch không phải là nhiệm vụ của riêng ai mà là nghĩa vụ chung của toàn xã hội. Tuổi trẻ hôm nay cần sống có trách nhiệm, bởi chính chúng ta sẽ là những người thừa hưởng hoặc gánh chịu hậu quả từ cách ứng xử với thiên nhiên hiện tại.

Câu 1 (0,5 điểm).

– Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ nhất, nhân vật “tôi” là người kể chuyện.

– Việc lựa chọn ngôi kể thứ nhất giúp cho câu chuyện trở nên chân thực hơn, người đọc cảm thấy như đang trực tiếp tham gia vào câu chuyện. Không chỉ thế, việc lựa chọn ngôi kể thứ nhất còn giúp người kể chuyện – nhân vật “tôi” dễ dàng bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ, thái độ của mình xoay quanh những sự việc được kể. Lựa chọn ngôi kể thứ nhất cũng là một trong những yếu tố góp phần làm nổi bật bài học sâu sắc về lời ăn tiếng nói trong cuộc sống – chủ đề của đoạn trích này.

Câu 2 (0,5 điểm).

Một chi tiết trong truyện thể hiện sự yêu quý của mọi người dành cho con nhồng: Người lớn hay trẻ nhỏ hàng xóm, mỗi lần đến chơi với nó cũng cho nó một trái ớt.

Câu 3 (1,0 điểm).

– Cách dẫn trực tiếp.

– Dấu hiệu:

+ Người viết trích nguyên văn lời nói của con nhồng.

+ Lời nói được đặt vào dấu ngoặc kép.

Câu 4 (1,0 điểm).

– Qua câu chuyện, tác giả Nguyễn Quang Sáng gửi gắm bài học sâu sắc về sự cẩn trọng trong lời nói.

– Trước hết, chúng ta cần hiểu rằng lời nói không chỉ thể hiện suy nghĩ mà còn có thể gây ra hậu quả. Con nhồng vô tư lặp lại những lời người khác dạy mà không nhận thức được ý nghĩa, dẫn đến tai họa. Điều này nhắc nhở ta không nên nói theo người khác một cách thiếu suy nghĩ.

– Từ đó, mỗi người cần cân nhắc trước khi nói, chỉ nói những điều đúng đắn, tránh a dua hay bắt chước vô ý thức.

– Đây là những bài học có ý nghĩa bởi nó giúp ta có những nhận thức đúng đắn hơn về giá trị của lời nói trong cuộc sống hàng ngày. Từ đó có những hành động đúng đắn giúp cho cuộc sống của con người ngày càng tốt đẹp.

– Thiết nghĩ bài học này không chỉ có ý nghĩa với cá nhân mỗi người mà còn hữu ích với tất cả cộng đồng, cả xã hội.

Câu 5 (1,0 điểm).

– Trong truyện ngắn “Con chim quên tiếng hót”, ở phần cuối truyện, người bà đã dặn các cháu của mình rằng: “Cho nên, biết thì nói, không biết thì đừng nói theo lời người khác, chết oan đó, các con!”.

– Tôi hoàn toàn đồng ý với lời dặn của người bà bởi đây là một lời khuyên sâu sắc về sự cẩn trọng trong lời nói.

– Trước hết, lời dặn này nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của nhận thức trong giao tiếp. Một lời nói thiếu suy nghĩ có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường, giống như con nhồng vì lặp lại lời người khác mà phải nhận lấy cái chết oan uổng.

– Nếu chúng ta cẩn trọng trong lời nói, chỉ nói khi thực sự hiểu rõ, thì sẽ tránh được những sai lầm đáng tiếc, đồng thời xây dựng được lòng tin trong giao tiếp. Mọi người sẽ tôn trọng và lắng nghe những lời nói có suy nghĩ, từ đó tạo ra môi trường giao tiếp lành mạnh.

– Ngược lại, nếu ta chỉ nói theo người khác mà không suy xét, ta có thể vô tình gây tổn thương cho người khác hoặc tự rước họa vào thân. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn gây bất ổn trong xã hội, tạo nên những hiểu lầm, xung đột không đáng có.

– Vậy nên, mỗi người cần suy nghĩ trước khi phát ngôn, không nói những điều chưa rõ đúng sai. Sự cẩn trọng trong lời nói không chỉ giúp ta tránh sai lầm mà còn góp phần xây dựng một xã hội văn minh và hiểu biết hơn.


Câu 1 (0,5 điểm).

– Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ nhất, nhân vật “tôi” là người kể chuyện.

– Việc lựa chọn ngôi kể thứ nhất giúp cho câu chuyện trở nên chân thực hơn, người đọc cảm thấy như đang trực tiếp tham gia vào câu chuyện. Không chỉ thế, việc lựa chọn ngôi kể thứ nhất còn giúp người kể chuyện – nhân vật “tôi” dễ dàng bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ, thái độ của mình xoay quanh những sự việc được kể. Lựa chọn ngôi kể thứ nhất cũng là một trong những yếu tố góp phần làm nổi bật bài học sâu sắc về lời ăn tiếng nói trong cuộc sống – chủ đề của đoạn trích này.

Câu 2 (0,5 điểm).

Một chi tiết trong truyện thể hiện sự yêu quý của mọi người dành cho con nhồng: Người lớn hay trẻ nhỏ hàng xóm, mỗi lần đến chơi với nó cũng cho nó một trái ớt.

Câu 3 (1,0 điểm).

– Cách dẫn trực tiếp.

– Dấu hiệu:

+ Người viết trích nguyên văn lời nói của con nhồng.

+ Lời nói được đặt vào dấu ngoặc kép.

Câu 4 (1,0 điểm).

– Qua câu chuyện, tác giả Nguyễn Quang Sáng gửi gắm bài học sâu sắc về sự cẩn trọng trong lời nói.

– Trước hết, chúng ta cần hiểu rằng lời nói không chỉ thể hiện suy nghĩ mà còn có thể gây ra hậu quả. Con nhồng vô tư lặp lại những lời người khác dạy mà không nhận thức được ý nghĩa, dẫn đến tai họa. Điều này nhắc nhở ta không nên nói theo người khác một cách thiếu suy nghĩ.

– Từ đó, mỗi người cần cân nhắc trước khi nói, chỉ nói những điều đúng đắn, tránh a dua hay bắt chước vô ý thức.

– Đây là những bài học có ý nghĩa bởi nó giúp ta có những nhận thức đúng đắn hơn về giá trị của lời nói trong cuộc sống hàng ngày. Từ đó có những hành động đúng đắn giúp cho cuộc sống của con người ngày càng tốt đẹp.

– Thiết nghĩ bài học này không chỉ có ý nghĩa với cá nhân mỗi người mà còn hữu ích với tất cả cộng đồng, cả xã hội.

Câu 5 (1,0 điểm).

– Trong truyện ngắn “Con chim quên tiếng hót”, ở phần cuối truyện, người bà đã dặn các cháu của mình rằng: “Cho nên, biết thì nói, không biết thì đừng nói theo lời người khác, chết oan đó, các con!”.

– Tôi hoàn toàn đồng ý với lời dặn của người bà bởi đây là một lời khuyên sâu sắc về sự cẩn trọng trong lời nói.

– Trước hết, lời dặn này nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của nhận thức trong giao tiếp. Một lời nói thiếu suy nghĩ có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường, giống như con nhồng vì lặp lại lời người khác mà phải nhận lấy cái chết oan uổng.

– Nếu chúng ta cẩn trọng trong lời nói, chỉ nói khi thực sự hiểu rõ, thì sẽ tránh được những sai lầm đáng tiếc, đồng thời xây dựng được lòng tin trong giao tiếp. Mọi người sẽ tôn trọng và lắng nghe những lời nói có suy nghĩ, từ đó tạo ra môi trường giao tiếp lành mạnh.

– Ngược lại, nếu ta chỉ nói theo người khác mà không suy xét, ta có thể vô tình gây tổn thương cho người khác hoặc tự rước họa vào thân. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn gây bất ổn trong xã hội, tạo nên những hiểu lầm, xung đột không đáng có.

– Vậy nên, mỗi người cần suy nghĩ trước khi phát ngôn, không nói những điều chưa rõ đúng sai. Sự cẩn trọng trong lời nói không chỉ giúp ta tránh sai lầm mà còn góp phần xây dựng một xã hội văn minh và hiểu biết hơn.


Câu 1 (2,0 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):

– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

– Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật trong hai khổ thơ 3 và 4 ở phần đọc hiểu.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0,5 điểm):

– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:

+ Thể thơ tám chữ, có xen những dòng thơ bảy chữ giúp tác giả bộc lộ tình cảm sâu nặng dành cho quê hương xứ sở.

+ Hình ảnh thơ gần gũi, bình dị gợi nhắc đến quê hương: ngô lúa đơm bông, hạt gạo thảo thơm, cánh cò, trưa hè yên ả, bát chè xanh,… Không gian được mở rộng với khung cảnh thân thuộc, chất chứa đầy niềm thương, nỗi nhớ.

+ Các biện pháp tu từ so sánh, liệt kê,… được kết hợp hài hòa tạo nên những tầng nghĩa sâu sắc, gợi hình, gợi cảm.

+ …

d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0,5 điểm):

– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.

đ. Diễn đạt (0,25 điểm): Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn.

e. Sáng tạo (0,25 điểm): Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 2 (4,0 điểm)

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm): Nghị luận xã hội.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận (0,5 điểm): Bàn về tác hại của “bạo lực ngôn từ” và những giải pháp để hạn chế tình trạng này.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,0 điểm):

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận:

* Giới thiệu vấn đề nghị luận.

* Triển khai vấn đề nghị luận:   

+ Giải thích: “Bạo lực ngôn từ” là việc dùng lời lẽ xúc phạm, miệt thị, châm chọc, đe dọa hoặc làm tổn thương người khác thông qua các bình luận, tin nhắn, bài viết… trên các nền tảng trực tuyến.

+ Thực trạng:

    ++) Xuất hiện phổ biến trên Facebook, TikTok, YouTube, Instagram,…

    ++) Các hành vi điển hình: body-shaming (miệt thị ngoại hình), dùng từ ngữ tục tĩu, chửi bới, bình luận ác ý dưới bài viết, video,…

    ++) Nạn nhân không chỉ là người nổi tiếng mà cả học sinh, bạn bè cùng lớp.

    ++) ...

+ Nguyên nhân:

    ++) Người dùng ẩn danh, không bị kiểm soát nên dễ buông lời vô ý thức.

    ++) Thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc, dễ hùa theo đám đông.

    ++) Thiếu giáo dục về văn hóa ứng xử trên mạng.

    ++) Thói ích kỉ, ganh ghét với người khác, muốn hạ hệ họ.

+ Tác hại:

    ++) Đối với nạn nhân: Tổn thương tinh thần, mất tự tin, trầm cảm,..; ảnh hưởng đến kết quả học tập và các mối quan hệ xã hội;…

    ++) Đối với cộng đồng mạng: Tạo ra môi trường độc hại, căng thẳng, mất đi tính tích cực của mạng xã hội; lan truyền sự thù ghét, thiếu lòng cảm thông giữa người với người;…

     ++) Đối với bản thân của người thực hiện hành vi “bạo lực ngôn từ”: Hình thành thói quen xấu, mất đi những phẩm chất đạo đức tốt đẹp; tiêu cực hóa mọi vấn đề; mất đi sự tin tưởng, yêu thương của người khác nếu hành vi bị phát giác;…   

+ Giải pháp:

    ++) Mỗi cá nhân cần suy nghĩ trước khi bình luận, học cách tôn trọng người khác.

    ++) Nhà trường, gia đình cần giáo dục học sinh về văn hóa ứng xử trên mạng từ sớm.

    ++) Mạng xã hội cần có quy định xử lý bình luận độc hại, công cụ lọc ngôn từ thù ghét.

    ++) Khuyến khích tạo môi trường mạng lành mạnh, chia sẻ tích cực.

+ Lật lại vấn đề: Trong một vài trường hợp, bạo lực ngôn từ có thể chỉ là sự phản kháng, đấu tranh chống lại cái xấu, cái sai trong xã hội. Nếu không có những lời chỉ trích, không có những phát ngôn mạnh mẽ, liệu có thể thay đổi được những vấn đề như lừa đảo, tham nhũng, sống ảo,… hay những bất công xã hội hay không?

* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận, nêu bài học về nhận thức và hành động.

d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1,5 điểm):

– Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.

Lưu‎ ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

đ. Diễn đạt (0,25 điểm): Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong bài văn.

e. Sáng tạo (0,5 điểm): Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.


Câu 1 (2,0 điểm)


Bài thơ “Mắt người Sơn Tây” của Quang Dũng để lại ấn tượng sâu sắc bởi nhiều nét đặc sắc nghệ thuật giàu giá trị biểu cảm. Trước hết, hình tượng “đôi mắt” được xây dựng như một biểu tượng nghệ thuật – kết tinh vẻ đẹp và tâm hồn của người con gái Sơn Tây, đồng thời là hóa thân của quê hương xứ Đoài. Những cụm từ “dìu dịu buồn Tây Phương”, “u uẩn chiều lưu lạc”, “buồn viễn xứ khôn khuây” vừa gợi tả ánh mắt vừa khắc họa nỗi buồn thời chiến. Bài thơ còn thành công ở nghệ thuật đối lập giữa quá khứ thanh bình và hiện tại “điêu tàn”, giữa ước mơ “khúc hoàn ca” và thực tại chia lìa, làm nổi bật nỗi đau mất mát. Điệp ngữ kết hợp với câu hỏi tu từ “Em có bao giờ em nhớ thương?” tạo âm hưởng day dứt, khắc khoải. Bên cạnh đó, hệ thống địa danh như Bất Bạt, Ba Vì, Sài Sơn, sông Đáy góp phần tạo sắc thái địa phương đậm nét, làm nỗi nhớ quê trở nên cụ thể, da diết. Tất cả hòa quyện tạo nên giọng điệu trữ tình sâu lắng, vừa bi thương vừa giàu chất lãng mạn.

Câu 2 (4,0 điểm)


Có ý kiến cho rằng: “Càng lún sâu vào đố kị, người ta sẽ đánh mất đi lòng tôn nghiêm và giá trị của bản thân.” Theo em, đây là một nhận định đúng đắn, bởi đố kị không chỉ làm tổn hại người khác mà còn bào mòn nhân cách chính mình.


Đố kị là trạng thái ganh ghét, khó chịu trước thành công hay ưu điểm của người khác. Thay vì nhìn nhận sự thành công ấy như động lực để phấn đấu, người đố kị lại nuôi dưỡng tâm lí so bì, bất mãn. Khi để lòng đố kị chi phối, con người dễ đánh mất sự bình thản và tự trọng. Họ có thể nói xấu, hạ thấp người khác hoặc tìm cách cản trở thành công của người xung quanh. Những hành động ấy khiến nhân cách bị suy giảm, hình ảnh bản thân trong mắt người khác cũng dần xấu đi.


Không những thế, đố kị còn gây tổn hại trực tiếp đến chính người mang nó. Thay vì tập trung hoàn thiện bản thân, họ chìm trong cảm xúc tiêu cực, tự dằn vặt và mệt mỏi. Sự so sánh liên tục khiến con người đánh mất niềm vui sống, thậm chí rơi vào mặc cảm hoặc thù hận. Về lâu dài, đố kị làm xói mòn các mối quan hệ, phá vỡ tinh thần đoàn kết trong tập thể.


Để loại bỏ thói quen xấu này, trước hết mỗi người cần rèn luyện lòng tự trọng và sự tự tin. Khi hiểu rõ giá trị riêng của mình, ta sẽ không bị ám ảnh bởi thành công của người khác. Bên cạnh đó, hãy học cách nhìn nhận thành quả của người khác bằng thái độ tích cực: coi đó là nguồn cảm hứng thay vì đối tượng ganh ghét. Việc đặt mục tiêu phù hợp với năng lực và kiên trì theo đuổi mục tiêu ấy cũng giúp ta tránh rơi vào vòng xoáy so sánh vô nghĩa. Ngoài ra, môi trường giáo dục và gia đình nên đề cao tinh thần hợp tác, khuyến khích sự sẻ chia thay vì chạy đua thành tích.


Tóm lại, đố kị là một “bóng tối” trong tâm hồn, càng nuôi dưỡng nó, con người càng đánh mất chính mình. Khi biết trân trọng giá trị bản thân và học cách vui với thành công của người khác, ta sẽ sống thanh thản, nhân ái và trưởng thành hơn.


Câu 1 (0,5 điểm).

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là “tôi” – người lính xa quê, mang nặng nỗi nhớ thương về xứ Đoài và hình bóng “em”.


Câu 2 (0,5 điểm).

Những từ ngữ/ dòng thơ miêu tả “đôi mắt” trong khổ thơ thứ 5 là:

“Đôi mắt người Sơn Tây”

“U uẩn chiều lưu lạc”

“Buồn viễn xứ khôn khuây”


Câu 3 (1,0 điểm).

Bài thơ thể hiện tình cảm tha thiết, sâu nặng của tác giả đối với quê hương xứ Đoài trong những năm tháng chiến tranh. Đó là nỗi nhớ da diết, xen lẫn đau xót trước cảnh quê hương “điêu tàn”, mất mát. Đồng thời, bài thơ còn chan chứa tình cảm yêu thương, trân trọng dành cho người con gái Sơn Tây – hình ảnh kết tinh của quê hương. Nỗi buồn lưu lạc hòa quyện với niềm hi vọng ngày trở lại thanh bình, tạo nên cảm xúc vừa bi thương vừa giàu chất trữ tình.


Câu 4 (1,0 điểm).

Hai dòng thơ sử dụng câu hỏi tu từ “Em có bao giờ em nhớ thương?” nhằm bộc lộ nỗi lòng tha thiết của nhân vật trữ tình. Câu hỏi không chờ lời đáp mà chủ yếu để giãi bày nỗi nhớ “xứ Đoài mây trắng lắm” và khát khao được sẻ chia tình cảm. Biện pháp này làm cho giọng thơ trở nên day dứt, khắc khoải, đồng thời khắc sâu tâm trạng cô đơn, mong ngóng của người lính xa quê.


Câu 5 (1,0 điểm).

Bài thơ gợi cho em thông điệp sâu sắc về tình yêu quê hương trong những năm tháng gian khó. Dù phải rời xa vì chiến tranh, con người vẫn luôn hướng về nơi chôn nhau cắt rốn với tất cả yêu thương và đau đáu nhớ nhung. Quê hương không chỉ là một miền đất cụ thể mà còn là kí ức, là tình người, là niềm hi vọng ngày đoàn tụ. Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết trân trọng hòa bình và gìn giữ những giá trị quê hương thiêng liêng

Câu 1 (2,0 điểm)


Trong truyện ngắn “Cổ tích” của Lê Văn Nguyên, nhân vật chị cỏ bò hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp của tình người giữa cuộc sống nghèo khó. Chị là người phụ nữ lao động lam lũ, sống trong “một túp lều thưng vách cót, phủ mái giấy dầu”, làm nghề cắt cỏ thuê bấp bênh. Dù cuộc sống thiếu thốn, “thêm bà cụ, bớt bát cơm mà vui”, chị vẫn sẵn sàng cưu mang bà lão xa lạ, coi bà như mẹ ruột. Khi mất nghề, chị phải “lân la, van vỉ việc vặt hàng phố”, nhưng chưa bao giờ than thân trách phận. Trong đêm rét mướt, hình ảnh “hai tấm thân gầy ôm nhau, ủ ấm” cho thấy sự gắn bó, yêu thương chân thành. Đặc biệt, khi bà mất, tiếng gọi “Mẹ ơi!” bật lên trong đau đớn đã khẳng định tình cảm thiêng liêng chị dành cho người mẹ nuôi. Nghệ thuật khắc họa giản dị, chân thực cùng chi tiết giàu sức gợi đã làm nổi bật một con người nghèo vật chất nhưng giàu lòng nhân ái. Chị cỏ bò chính là “cổ tích” giữa đời thường – nơi tình thương chiến thắng mọi khắc nghiệt


Câu 2 (4,0 điểm)


Trong xã hội hiện đại, khi điều kiện sống ngày càng đầy đủ, nhiều bạn trẻ có xu hướng dựa dẫm vào gia đình. Tuy nhiên, theo em, giới trẻ ngày nay cần phải rèn luyện lối sống tự lập, bởi đó là nền tảng quan trọng để trưởng thành và khẳng định giá trị bản thân.


Tự lập là khả năng tự chủ trong suy nghĩ, hành động và chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Người sống tự lập không ỷ lại, không phụ thuộc hoàn toàn vào người khác mà biết tự giải quyết vấn đề trong khả năng của mình. Đây là phẩm chất cần thiết để thích nghi với một thế giới luôn biến động.


Trước hết, tự lập giúp người trẻ rèn luyện bản lĩnh. Khi tự mình đối mặt với khó khăn, ta học được cách kiên trì, sáng tạo và mạnh mẽ hơn. Những va vấp đầu đời chính là bài học quý giá để trưởng thành. Hơn nữa, tự lập còn giúp ta hiểu giá trị của lao động và trân trọng công sức của cha mẹ. Một người quen được bao bọc quá mức sẽ dễ lúng túng, thiếu kĩ năng sống khi bước ra xã hội.


Thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ hiện nay thiếu tính tự lập: ngại làm việc nhà, không biết quản lí thời gian, chi tiêu phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình. Điều đó khiến các bạn khó thích nghi khi học xa nhà hoặc đi làm. Ngược lại, những người sớm rèn luyện tính tự lập thường tự tin, chủ động và dễ đạt thành công hơn.


Để rèn luyện lối sống tự lập, mỗi bạn trẻ cần bắt đầu từ những việc nhỏ: tự chăm sóc bản thân, lập kế hoạch học tập, quản lí chi tiêu hợp lí, dám chịu trách nhiệm khi mắc sai lầm. Gia đình cũng nên tạo điều kiện để con trải nghiệm, thay vì làm thay mọi việc.


Tự lập không có nghĩa là tách rời gia đình, mà là trưởng thành trong sự yêu thương. Khi biết tự đứng trên đôi chân của mình, người trẻ sẽ vững vàng hơn trước thử thách và sẵn sàng xây dựng tương lai bằng chính năng lực của bản thân.

.

Câu 1 (0,5 điểm).

Truyện được kể theo ngôi thứ ba. Người kể chuyện giấu mình, gọi nhân vật là “bà cụ”, “chị cỏ bò”, tái hiện câu chuyện một cách khách quan nhưng vẫn giàu cảm xúc.


Câu 2 (0,5 điểm).

Những chi tiết miêu tả hoàn cảnh của hai mẹ con sau khi đùm bọc nhau:

“Nhà chị cỏ bò, một túp lều thưng vách cót, phủ mái giấy dầu, đứng tựa chân tòa nhà ba tầng nghễu nghện.”

“Thêm bà cụ, bớt bát cơm mà vui.”

“Mất nghề, chị cỏ bò đành lân la, van vỉ việc vặt hàng phố.”

“Từng cơn gió bấc ào ào lùa qua vách cót mỏng… hai tấm thân gầy ôm nhau, ủ ấm… dưới tấm chăn chiên lỗ chỗ.”

→ Hoàn cảnh nghèo khó, thiếu thốn nhưng chan chứa tình thương.


Câu 3 (1,0 điểm).

Chủ đề của truyện: Ca ngợi tình người ấm áp, sự đùm bọc, yêu thương giữa những con người nghèo khổ trong xã hội; đồng thời thể hiện niềm tin vào giá trị nhân hậu của con người dù ở hoàn cảnh éo le nhất.


Câu 4 (1,0 điểm).

Đoạn văn sử dụng từ ngữ giàu sức gợi và giàu giá trị biểu cảm: “rét mướt ác”, “ào ào”, “đồm độp”, “buốt”. Các từ láy tượng thanh, tượng hình kết hợp với cách nhân hóa (“rét mướt ác với kẻ nghèo”) đã làm nổi bật cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông và sự khốn khó của người nghèo. Nhờ đó, hoàn cảnh sống của hai mẹ con hiện lên chân thực, tê tái, càng làm nổi bật sự gắn bó, yêu thương mà họ dành cho nhau trong nghịch cảnh.


Câu 5 (1,0 điểm).

Tình người là ánh sáng sưởi ấm những mảnh đời bất hạnh trong cuộc sống. Trong câu chuyện, dù nghèo khó, bà cụ và chị cỏ bò vẫn đùm bọc, yêu thương nhau như ruột thịt. Chính tình thương ấy đã giúp họ vượt qua những ngày đói rét và cô đơn. Giữa cuộc đời nhiều khắc nghiệt, tình người khiến con người sống nhân ái hơn, biết sẻ chia và hy sinh. Vì vậy, mỗi chúng ta cần trân trọng và lan tỏa yêu thương, bởi đó là giá trị đẹp đẽ nhất làm nên ý nghĩa của cuộc sống.