Phạm Gia Linh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Gia Linh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 (2,0 điểm)

Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích ba khổ thơ cuối của bài Chim thêu

Ba khổ thơ cuối của bài Chim thêu bộc lộ sâu sắc hơn tình yêu thương tha thiết của người cha dành cho đứa con nhỏ nơi miền Nam xa cách. Ở khổ thứ ba, hình ảnh người cha “ôm tấm áo xanh giữa ngực” vừa cụ thể vừa xúc động, thể hiện nỗi nhớ con cháy bỏng đến mức chiếc áo như mang hơi ấm, nhịp thở và những thổn thức của con. Đôi mắt “đen tròn” và “tiếng chim non gọi đàn” gợi lên vẻ ngây thơ của tuổi nhỏ, đồng thời nhấn mạnh khát vọng sum họp gia đình trong hoàn cảnh đất nước chia cắt. Sang khổ thứ tư, người cha treo áo bên bàn làm việc và viết nên bài thơ này – hành động ấy cho thấy nỗi nhớ không nguôi và tình cảm luôn thường trực trong trái tim ông. Khổ cuối mở ra niềm hi vọng tươi sáng: ngày hòa bình cha con đoàn tụ, trẻ em được khoác những chiếc áo thêu chim trắng – biểu tượng của tự do và hạnh phúc. Ba khổ thơ vừa thấm đượm nỗi nhớ thương, vừa chan chứa niềm tin, làm nổi bật tấm lòng cha giàu yêu thương, hi sinh và luôn hướng về tương lai tốt đẹp cho con.


Câu 2 (4,0 điểm)

Nghị luận 400 chữ về ý kiến: “Tình yêu thương của cha mẹ có thể là động lực nhưng cũng có thể là áp lực cho con cái.”

Tình yêu thương của cha mẹ luôn là điều thiêng liêng và đẹp đẽ nhất đối với mỗi người con. Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện nay, tình thương ấy đôi khi trở thành động lực mạnh mẽ, nhưng cũng có lúc vô tình tạo nên áp lực khiến con cái mệt mỏi. Từ góc nhìn của một người con, em cho rằng tình yêu thương của cha mẹ mang hai mặt rất rõ ràng.

Một mặt, tình thương của cha mẹ là động lực để con cố gắng. Cha mẹ hy sinh, lo toan, dành những điều tốt đẹp nhất cho con; chính sự hi sinh thầm lặng ấy khiến con muốn trưởng thành hơn, sống có trách nhiệm và nỗ lực học tập để không phụ lòng. Những lời động viên đúng lúc, sự tin tưởng và thấu hiểu của cha mẹ giúp con có thêm sức mạnh vượt qua khó khăn. Đó là tình yêu thương tích cực, nuôi dưỡng khả năng và nhân cách của con cái.

Nhưng mặt khác, tình thương nếu biểu hiện sai cách lại dễ trở thành áp lực. Khi cha mẹ đặt kỳ vọng quá lớn, so sánh con với người khác, áp đặt lựa chọn hoặc muốn con sống theo mong muốn của mình, con cái sẽ cảm thấy nặng nề, tự ti và mất đi sự thoải mái trong học tập lẫn cuộc sống. Nhiều bạn trẻ vì sợ làm cha mẹ thất vọng mà sống trong lo lắng, không dám là chính mình.

Để tình yêu thương trở thành động lực, không phải áp lực, cha mẹ cần hiểu con, lắng nghe nhiều hơn và đặt kỳ vọng phù hợp. Con cái cũng cần biết chia sẻ, bày tỏ suy nghĩ của bản thân để cha mẹ thấu cảm. Khi cha mẹ và con cái hiểu nhau, tình yêu thương sẽ trở thành nguồn sức mạnh bình yên, giúp mỗi người phát triển theo cách tốt đẹp nhất.

  Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản.

Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.


Câu 2 (0,5 điểm). Nhân vật trữ tình trong văn bản là ai?

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là người cha – người đang sống ở miền Bắc và nhớ thương đứa con nhỏ ở miền Nam.


Câu 3 (1,0 điểm). Nêu đề tài, chủ đề của văn bản.

Đề tài:
– Tình cảm gia đình, cụ thể là tình cha thương con trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt.

Chủ đề:
– Bài thơ thể hiện nỗi nhớ con da diết, niềm thương yêu sâu nặng và khát vọng hòa bình để cha con được đoàn tụ, để trẻ em được sống trong hạnh phúc, vô tư.


Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong hai dòng thơ:

“Bâng khuâng cặp mắt đen tròn,
Chắt chiu vẳng tiếng chim non gọi đàn…”

Hai dòng thơ sử dụng nhân hóa (“cặp mắt đen tròn”, “tiếng chim non gọi đàn”) và ẩn dụ.

  • “Cặp mắt đen tròn” gợi hình ảnh đôi mắt trẻ thơ ngây, hồn nhiên mà người cha tưởng tượng khi ngắm chiếc áo.
  • “Tiếng chim non gọi đàn” là ẩn dụ cho tiếng gọi nhớ của con dành cho cha, cũng là khát vọng sum họp.

Biện pháp tu từ giúp diễn tả nỗi nhớ da diết của người cha, làm cho hình ảnh đứa con trở nên sống động, gần gũi và đầy xúc động. Qua đó, cảm xúc cha thương con càng trở nên sâu sắc, bâng khuâng.


Câu 5 (1,0 điểm). Văn bản gợi cho em ấn tượng gì về tình cảm của người cha dành cho con?

Bài thơ gợi lên hình ảnh một người cha có tình cảm thiết tha, sâu nặng và đầy hy sinh dành cho con. Ông nhớ thương con đến mức đi đâu cũng nghĩ về con, chỉ một chiếc áo trẻ con cũng khiến lòng ông thổn thức. Dù không thể gửi áo về vì đất nước chia cắt, ông vẫn nâng niu nó như nâng niu đứa con của mình. Nỗi nhớ ấy được hòa quyện với niềm tin vào ngày mai hòa bình – khi con ông và bao trẻ nhỏ được sống trong ấm êm, vui tươi. Tình cha trong bài thơ vì thế vừa giản dị, vừa thiêng liêng, khiến người đọc cảm nhận sâu sắc sự ấm áp của tình thân ngay cả trong hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt.

Câu 1 (2,0 điểm)

Đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích nhân vật “tôi”

Trong truyện ngắn Một lần và mãi mãi, nhân vật “tôi” được khắc họa như một cậu bé hồn nhiên nhưng cũng có những phút yếu lòng và sai lầm như bao đứa trẻ khác. Lúc đầu, “tôi” chỉ đơn thuần ham ngọt, muốn mua kẹo như bạn bè. Khi mất tiền, “tôi” cảm thấy xấu hổ và lúng túng; tuy vậy, trước sự rủ rê của Bá, cậu lại yếu đuối mà nghe theo, dùng giấy lộn để lừa bà Bảy Nhiêu. Điều đó cho thấy ở “tôi” vừa có sự ngây ngô, vừa có sự thiếu bản lĩnh. Nhưng điều đáng quý là ngay khi làm điều sai, “tôi” đã cảm thấy day dứt và nhận ra ánh nhìn như thấu hiểu của bà Bảy. Khi bà qua đời, biết bà đã âm thầm gom những tờ giấy giả, “tôi” bị sốc, xấu hổ và ân hận sâu sắc. Trưởng thành, “tôi” vẫn luôn trở lại thăm mộ bà, thể hiện lòng biết ơn và sự mặc cảm không nguôi. Qua nhân vật này, ta thấy một con người có lương tri, biết nhận lỗi và trân trọng những bài học đạo đức mà tuổi thơ để lại.


Câu 2 (4,0 điểm)

Nghị luận khoảng 400 chữ về sự trung thực trong cuộc sống hiện nay

Trung thực là một phẩm chất quan trọng, thể hiện ở việc nói đúng sự thật, làm đúng điều mình nghĩ và không gian dối trong hành động. Trong cuộc sống hiện nay, trung thực càng trở nên cần thiết vì nó là nền tảng để xây dựng niềm tin giữa con người với con người và tạo nên một xã hội lành mạnh. Người trung thực được tôn trọng bởi họ sống thẳng thắn, minh bạch và có trách nhiệm với hành động của mình. Ngược lại, thói gian dối có thể đem lại lợi ích tạm thời nhưng lâu dài sẽ khiến người ta mất uy tín, đánh mất phẩm giá và có thể gây tổn hại cho người khác.

Trong học tập, trung thực giúp học sinh hiểu đúng năng lực bản thân và nỗ lực để tiến bộ. Gian lận trong kiểm tra có thể mang lại điểm số cao, nhưng làm mất đi ý nghĩa của việc học. Trong công việc, trung thực tạo ra sự tin cậy; một doanh nghiệp trung thực mới có thể tồn tại bền vững và nhận được sự ủng hộ của khách hàng. Ngay cả trong các mối quan hệ hằng ngày, trung thực là cầu nối giúp con người gắn bó, tránh hiểu lầm và xây dựng sự chân thành.

Tuy nhiên, thực tế vẫn có những hiện tượng gian lận, làm giả, nói dối… xuất phát từ lòng tham, sự sợ hãi hoặc muốn có lợi nhanh chóng. Điều này cho thấy mỗi người cần tự rèn luyện bản thân, biết tự kiểm điểm và sống có trách nhiệm hơn. Trung thực đôi khi khiến ta thiệt thòi trước mắt, nhưng về lâu dài nó mang lại sự thanh thản, sự tin yêu và một cuộc sống có giá trị.

Sống trung thực chính là cách chúng ta giữ gìn phẩm chất đẹp của mình và góp phần xây dựng một xã hội văn minh, tốt đẹp hơn.

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể loại của văn bản.

Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn.


Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra ngôi kể được sử dụng trong văn bản.

Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất, xưng “tôi”.


Câu 3 (1,0 điểm). Nhận xét về cốt truyện của văn bản.

Cốt truyện đơn giản mà chặt chẽ, xoay quanh một kỉ niệm thời nhỏ của nhân vật “tôi”:

  • Những lần mua kẹo ở quán bà Bảy Nhiêu.
  • Sự việc bọn trẻ dùng giấy lộn thay tiền thật.
  • Cái chết của bà Bảy và sự ân hận kéo dài đến tận khi trưởng thành.

Cốt truyện phát triển theo trình tự thời gian, có cao trào (phát hiện bà Bảy biết hết và đã gói riêng số giấy lộn), kết thúc bằng sự day dứt của người kể.


Câu 4 (1,0 điểm). Nội dung của văn bản này là gì?

Văn bản kể lại một kỉ niệm buồn thời thơ ấu: nhóm trẻ vì sự ham chơi và thiếu hiểu biết đã lừa bà bán hàng mù bằng giấy lộn. Sau khi bà mất, chúng mới biết bà nhìn thấu tất cả nhưng vẫn im lặng. Câu chuyện thể hiện:

  • Tình thương và sự bao dung của bà Bảy.
  • Nỗi ân hận kéo dài của những đứa trẻ.
  • Bài học về lòng trung thực và biết trân trọng những người xung quanh.

Câu 5 (1,0 điểm). Em hiểu như thế nào về câu:

"Trong đời, có những điều ta đã lầm lỡ, không bao giờ còn có dịp để sửa chữa được nữa."

Câu nói muốn nhắc nhở rằng:

  • Có những sai lầm xảy ra rồi sẽ để lại hậu quả vĩnh viễn.
  • Ta có thể ân hận, nhưng không phải lúc nào cũng có cơ hội bù đắp cho người mà ta đã làm tổn thương.
  • Vì thế, mỗi người cần biết suy nghĩ, sống đúng, biết trân trọng và làm điều tốt khi còn có thể.