Nguyễn Gia Khánh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Gia Khánh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Trò chuyện với Gemini

Bạn đã nói

 I - Đề số 2Bài GV giao

Bài 1


I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM)

Đọc đoạn trích sau:

Trích đoạn nằm ở phần 3 của tác phẩm, từ câu 2738 – 2940 (có lược một đoạn)

     Kim Trọng tìm Kiều

     Nỗi nàng tai nạn đã đầy,

Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.

     Từ ngày muôn dặm phù tang,

Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.

     Vội sang vườn Thuý dò la,

Nhìn phong cảnh cũ, nay đà khác xưa.

     Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa,

Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời.

     Trước sau nào thấy bóng người,

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

     Xập xoè én liệng lầu không,

Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.

     Cuối tường gai gốc mọc đầy,

Đi về, này những lối này ngày xưa.

     Chung quanh lặng ngắt như tờ,

Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?

     Láng giềng có kẻ sang chơi,

Lân la sẽ hỏi một hai sự tình.

     Hỏi ông, ông mắc tụng đình,

Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha.

     Hỏi nhà, nhà đã dời xa,

Hỏi chàng Vương với cùng là Thuý Vân.

     Đều là sa sút, khó khăn,

Thuê may, bán viết, kiếm ăn lần hồi.

     Điều đâu sét đánh lưng trời,

Thoắt nghe, chàng thoắt rụng rời xiết bao!

     Vội han di trú nơi nao,

Đánh đường, chàng mới tìm vào tận nơi.

     Nhà tranh, vách đất tả tơi,

Lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa.

     Một sân đất cỏ dầm mưa,

Càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn dường!

     Đánh liều lên tiếng ngoài tường,

Chàng Vương nghe tiếng, vội vàng chạy ra.

     Dắt tay vội rước vào nhà,

Mái sau, viên ngoại ông bà ra ngay.

     Khóc than kể hết niềm tây:

“Chàng ôi! Biết nỗi nước này cho chưa?

     Kiều nhi phận mỏng như tờ,

Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!

     Gặp cơn gia biến lạ dường,

Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.

     Dùng dằng khi bước chân ra,

Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.

     Trót lời nặng với lang quân,

Mượn con em nó Thuý Vân thay lời.

     Gọi là trả chút nghĩa người,

Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên!

     Kiếp này duyên đã phụ duyên,

Dạ đài còn biết, sẽ đền lai sinh.

     Mấy lời ký chú đinh ninh,

Ghi lòng để dạ, cất mình ra đi.

     Phận sao bạc bấy, Kiều nhi!

Chàng Kim về đó, con thì đi đâu?”

     Ông bà càng nói càng đau,

Chàng càng nghe nói, càng dàu như dưa.

     Vật mình vẫy gió, tuôn mưa,

Dầm dề giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai.

     Đau đòi đoạn, ngất đòi thôi,

Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê.

     Thấy chàng đau nỗi biệt ly,

Nhận ngừng, ông mới vỗ về giải khuyên:

     “Bây giờ ván đã đóng thuyền,

Đã đành phận bạc, khôn đền tình chung!

     Quá thương chút nghĩa đèo bòng,

Nghìn vàng thân ấy, dễ hòng bỏ sao?”

     Dỗ dành, khuyên giải trăm chiều,

Lửa phiền càng dập, càng khêu mối phiền.

     Thề xưa giở đến kim hoàn,

Của xưa lại giở đế

Câu 1: Văn bản Kim Trọng tìm Kiều kể về việc gì?

Văn bản kể về sự kiện Kim Trọng sau khi đi chịu tang chú ở Liêu Dương trở về, vội vã tìm đến nhà Thúy Kiều nhưng cảnh cũ đã thay đổi, người xưa không còn. Tại đây, Kim Trọng được nghe gia đình họ Vương kể lại biến cố đau thương của gia đình và việc Kiều đã bán mình chuộc cha. Đoạn trích tập trung vào nỗi đau đớn, xót xa và quyết tâm đi tìm Kiều của Kim Trọng.


Câu 2: Một số hình ảnh thơ tả thực trong văn bản

Tác giả đã sử dụng những hình ảnh thực tế để khắc họa sự tàn tạ, sa sút của gia đình họ Vương:

  • Cảnh vườn cũ: Cỏ mọc, lau thưa, song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời, én liệng lầu không, rêu phong dấu giày, gai góc mọc đầy.
  • Cảnh nhà mới của gia đình Vương: Nhà tranh, vách đất tả tơi, lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa, sân đất cỏ dầm mưa.
  • Cuộc sống gia đình: Thuê may, bán viết, kiếm ăn lần hồi.

Câu 3: Phân tích cảm xúc của Kim Trọng khi chứng kiến khung cảnh nhà Thúy Kiều sau nửa năm gặp lại

Cảm xúc của Kim Trọng biến chuyển từ sự ngỡ ngàng đến lo âu và cuối cùng là đau đớn tột độ:

  • Ngỡ ngàng, hụt hẫng: Khi vừa trở về, chàng đối diện với cảnh "nay đà khác xưa". Những hình ảnh "cỏ mọc", "vách rã rời" gợi lên sự hoang phế, báo hiệu một điềm chẳng lành.
  • Bàng hoàng, sửng sốt: Khi nghe láng giềng kể về tai họa "sét đánh lưng trời", chàng "rụng rời xiết bao".
  • Xót xa, ngơ ngẩn: Khi tìm đến nơi ở mới rách nát của gia đình Kiều, chàng "càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn dường". Đó là nỗi xót xa cho người yêu vốn lá ngọc cành vàng nay phải chịu cảnh lầm than.

Câu 4: Biện pháp nghệ thuật và hiệu quả

  • Biện pháp nghệ thuật: * Điệp cấu trúc/Điệp từ: "Càng... càng..." (càng trông thấy/càng thương, càng tức tối/càng xót xa).
    • Tiểu đối: Gan càng tức tối đối với ruột càng xót xa.
  • Hiệu quả: * Nhấn mạnh mức độ tăng dần của nỗi đau, sự uất ức và lòng thương cảm của Kim Trọng.
    • Làm cho nhịp điệu câu thơ trở nên dồn dập, thể hiện sự nghẹn ngào, đau đớn đến quặn thắt tâm can của nhân vật trước bi kịch của người yêu.

Câu 5: Tình cảm của Kim Trọng dành cho Thúy Kiều

Tình cảm của Kim Trọng dành cho Kiều là một tình yêu thủy chung, sâu nặng, vượt lên trên những định kiến và hoàn cảnh nghiệt ngã.

Phân tích một số câu thơ tiêu biểu:

  • "Chưa chăn gối cũng vợ chồng / Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang?": Kim Trọng khẳng định dù chưa chính thức nên duyên, nhưng trong tâm khảm chàng, Kiều đã là vợ. Chàng trân trọng lời thề "vàng đá" và coi trọng tình nghĩa hơn là những thủ tục thông thường.
  • "Bao nhiêu của, mấy ngày đàng / Còn tôi, tôi gặp mặt nàng mới thôi!": Câu thơ thể hiện quyết tâm sắt đá. Chàng không màng đến tiền bạc hay gian khổ dọc đường, mục tiêu duy nhất và cuối cùng là phải tìm được Kiều.
  • "Rắp mong treo ấn từ quan / Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua": Chàng sẵn sàng từ bỏ công danh (treo ấn từ quan) – thứ quý giá nhất của kẻ sĩ thời xưa – để dấn thân vào nơi nguy hiểm, "vào sinh ra tử" chỉ mong gặp lại người thương.


Câu 1: Phân tích nhân vật “tôi” trong văn bản (Khoảng 200 chữ)

Nhân vật “tôi” trong truyện ngắn "Một lần và mãi mãi" là một hình tượng điển hình cho sự thức tỉnh lương tâm sau những lầm lỡ thời thơ dại. Ban đầu, “tôi” hiện lên là một đứa trẻ hồn nhiên, biết sợ hãi cái sai khi "ngần ngừ", "ngần ngại" trước lời rủ rê của Bá. Tuy nhiên, sự yếu lòng trước "nỗi thèm ngọt" và tâm lý đám đông đã khiến nhân vật sa ngã, chấp nhận dùng tờ giấy lộn để lừa gạt bà Bảy mù lòa. Diễn biến tâm lý của “tôi” được khắc họa rất tinh tế: từ cảm giác "ngượng nghịu" đến sự "sững sờ", "lạnh buốt sống lưng" khi chứng kiến cái chết của bà Bảy và biết được bà đã thầm lặng chịu đựng sự lừa dối ấy. Hành động lừa dối một người khốn khổ, cô độc đã trở thành một vết sẹo tâm hồn, một "món nợ" mà dù bốn mươi năm sau, khi đã trở thành một nhà văn, nhân vật vẫn không thôi ám ảnh. Hình ảnh nhân vật "tôi" đứng lặng trước mộ bà Bảy cho thấy một nhân cách biết ăn năn, biết tự soi chiếu và thấu hiểu sâu sắc giá trị của sự tử tế. Qua nhân vật này, tác giả Thanh Quế không chỉ phê phán lỗi lầm nhất thời mà còn ca ngợi sức mạnh của sự hối lỗi, giúp con người trưởng thành hơn từ những vấp ngã "không bao giờ còn dịp sửa chữa".


Câu 2: Nghị luận về sự trung thực trong cuộc sống hiện nay (Khoảng 400 chữ)

Mở bài:
Trong hành trình hoàn thiện nhân cách của mỗi con người, nếu tri thức là hành trang thì đức hạnh chính là kim chỉ nam. Một trong những phẩm chất cốt lõi tạo nên giá trị cao quý của con người chính là sự trung thực. Đặc biệt, trong xã hội hiện đại đầy biến động, lòng trung thực càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

Thân bài:

  • Giải thích: Trung thực là sự thống nhất giữa suy nghĩ, lời nói và hành động; là tôn trọng sự thật, lẽ phải và sống ngay thẳng, không gian dối.
  • Biểu hiện của trung thực:
    • Trong học tập: Không gian lận thi cử, không đạo văn.
    • Trong công việc: Nhận lỗi khi sai sót, không báo cáo sai sự thật vì thành tích ảo.
    • Trong đời sống: Trả lại của rơi, dũng cảm lên tiếng trước cái xấu. (Liên hệ câu chuyện trên: Sự thiếu trung thực của hai đứa trẻ với bà Bảy đã dẫn đến nỗi ân hận suốt đời).
  • Ý nghĩa và vai trò:
    • Sự trung thực giúp con người có được niềm tin, sự tôn trọng từ những người xung quanh.
    • Nó giúp tâm hồn thanh thản, không phải lo âu hay che đậy những điều giả dối.
    • Xây dựng một xã hội minh bạch, công bằng và bền vững. Nếu thiếu trung thực, niềm tin giữa người với người sẽ đổ vỡ, dẫn đến sự tha hóa về đạo đức.
  • Thực trạng và phản biện: Hiện nay, vẫn còn một bộ phận sống giả dối, "mua danh chuộc lợi" hoặc lừa lọc người khác vì lợi ích cá nhân. Có những người coi sự trung thực là "khờ khạo". Tuy nhiên, cái lợi từ sự gian dối chỉ là nhất thời, còn cái giá phải trả (như nhân vật "tôi" trong truyện) là sự dằn vặt lâu dài.

Kết bài:
Tóm lại, trung thực không chỉ là một đức tính, mà còn là bản lĩnh của con người trước những cám dỗ. Chúng ta cần hiểu rằng "Một lần bất tín, vạn lần bất tin". Hãy bắt đầu sống trung thực từ những việc nhỏ nhất, để mỗi sai lầm không phải trở thành điều "mãi mãi không thể sửa chữa", và để cuộc sống trở nên tốt đẹp, chân thực hơn

Hình ảnh của biểu tượng ứng dụng Gemini. Trò chuyện với Gemini ở dạng ứng dụng.
Hiện đã có trên Google Play.

Trò chuyện với Gemini

Bạn đã nói

MỘT LẦN VÀ MÃI MÃI

       Quán bà Bảy Nhiêu nằm gần một khu mả đá, được bao bọc bởi những hàng rào bàn chải. Đó là một cái chòi tranh rách nát được dựng lên trước mặt một ngôi nhà tranh vách đất cũng rách nát như vậy. Trong chòi có đặt một cái bàn gỗ đã cũ, hai cái ghế băng cũng đã già nua như vậy, một cái đã hỏng mất một chân. Trên chiếc bàn gỗ có xếp mấy lọ kẹo, đường táng, những thứ mà bà con nông dân tự làm lấy.

       Bà Bảy Nhiêu sống có một mình. Người trong làng không ai rõ chồng con bà đã mất từ lúc nào, mà cũng có thể là bà chưa có chồng con gì cả. Trước đây, mắt bà còn tinh nhưng độ hai năm nay bà bị lòa. Người ta bảo nhà bà ở gần động cát quá, nên gió thổi cát vào mắt nhiều lần, lâu ngày mà nó vậy.

       Chúng tôi nhao nhao:

       - Bán cho con một táng đường, bà.

       - Bán cho con hai viên kẹo bi, bà.

       Bà Bảy Nhiêu run run đưa bàn tay trái lên cầm tiền của chúng tôi, bỏ ngay vào cái cơi trầu bà đặt dưới bàn, tay phải quờ quờ lục vào các lọ lấy kẹo, đường cho từng đứa. Hầu như không bao giờ bà đếm tiền. Bà tin chúng tôi.

       Trưa hôm đó, sau hiệu lệnh của thằng Bá, tôi cho tay vào túi. Những tờ bạc lẻ mà mẹ tôi cho đã biến mất đâu. Tôi ngần ngừ một lúc nhưng nỗi thèm ngọt đã khiến cho tôi lủi thủi theo sau các bạn mong được “ăn ghẹ” của một đứa nào đấy. Giữa đường, nghĩ xấu hổ, tôi quay lại...

       - Sao mày không đi mua đường, mua kẹo? - Thằng Bá đi phía sau hỏi tôi.

       - Tao không có tiền.

       Bá cười sằng sặc:

       - Chớ hồi giờ tao đâu có tiền mà vẫn mua được kẹo.

       Tôi ngạc nhiên:

       - Chớ lâu nay mày mua bằng thứ gì?

       Bá không trả lời ngay. Nó kéo tôi sát lại gần nó, rút trong túi ra mấy tờ giấy đã viết, được cắt gọn ghẽ như những tờ giấy bạc, nói thì thầm:

       - Tao chuyên đưa bà Bảy những tờ giấy này. Bả mù, bà đâu có thấy. - Nó ngừng một lát rồi nói tiếp, - tao có ba tờ tao cho mày một tờ. Mày đợi tụi nó mua cuối cùng mình mới mua.

       Tôi ngần ngại một lát nhưng cuối cùng cũng cầm tờ giấy lộn. Tôi có cảm giác khi cầm tờ “bạc giả” của tôi, mắt bà Bảy Nhiêu như có tia sáng loé lên. Nhưng bà không nói gì, vẫn bỏ nó vào cơi trầu và đưa đường táng đen cho tôi.

       Ngày hôm sau, sự việc vẫn lặp lại y như hôm trước. Có điều, khi tôi và Bá đến quán thì không thấy có chuyện mua bán xảy ra. Các bạn đến trước đều đứng túm lại dưới quán nhìn sững vào trong nhà bà Bảy. Trong nhà có tiếng người lao xao. Một bác nông dân quen biết trong làng đang ngồi trước cửa vừa giờ cơi trầu của bà Bảy ra đếm tiền vừa nói vọng ra:

       - Tụi bay về đi. Bà Bảy trúng gió chết hồi hôm rồi.

       Chúng tôi sững sờ, đứng im không nhúc nhích. Bác nông dân lẩm bẩm điều gì quay vô nhà nói với ai đó: “Số tiền này vừa đủ mua một chiếc chiếu gói bả đấy.”. Im lặng một lúc rồi bác tiếp: “Bả mù mà tinh thật. Bọn xỏ lá nào đưa giấy lộn cho bả, bả cũng nhận rồi gói riêng ra...”. Tôi và Bá đứng như chôn chân xuống đất. Sống lưng lạnh buốt.

       Từ đó đến nay đã bốn mươi năm trôi qua. Bạn bè của tôi cũng không còn đông đủ như trước. Có những đứa vốn ngỗ ngược, sau này lại trở thành những du kích dũng cảm và hi sinh. Có nhiều đứa theo gia đình, bỏ quê xứ đi làm ăn xa. Thằng Bá bây giờ trở thành một nông dân, người gầy, rắn rỏi, ngày ngày đánh trâu cày trên những rộc cát khô khốc mong tìm từng củ khoai để nuôi bầy con cháu đông đúc. Riêng tôi may mắn, được đi tập kết, được học hành để trở thành một nhà văn. Cứ mỗi lần về quê, tôi lại rủ Bá ra thăm mả bà Bảy Nhiêu. Cả hai đứa đều đứng lặng, miệng lầm rầm cầu mong bà tha thứ...

       Trong đời, có những điều ta đã lầm lỡ, không bao giờ còn có dịp để sửa chữa được nữa.

(Thanh Quế, Trích 65 truyện ngắn hay dành cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể loại của văn bản.

Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra ngôi kể được sử dụng trong văn bản.

Câu 3 (1,0 điểm). Nhận xét về cốt truyện của văn bản.

Câu 4 (1,0 điểm). Nội dung của văn bản này là gì?

Câu 5 (1,0 điểm). Em hiểu như thế nào về câu: "Trong đời, có những điều ta đã lầm lỡ, không bao giờ còn có dịp để sửa chữa được nữa."?

Gemini đã nói

Chào bạn, một câu chuyện thật sự chạm đến lòng người về sự hối hận và lòng vị tha. Những dòng văn của Thanh Quế không chỉ là ký ức tuổi thơ mà còn là bài học về đạo đức theo ta suốt cuộc đời.

Dưới đây là phần giải đáp chi tiết cho các câu hỏi của bạn:

Câu 1: Thể loại của văn bản

Văn bản thuộc thể loại Truyện ngắn (cụ thể là truyện ngắn viết cho thiếu nhi).

Câu 2: Ngôi kể

Văn bản sử dụng ngôi kể thứ nhất (người kể chuyện xưng "tôi").

  • Tác dụng: Giúp câu chuyện trở nên chân thực, bộc lộ trực tiếp những suy nghĩ, cảm xúc và sự hối lỗi sâu sắc của nhân vật về lỗi lầm trong quá khứ.

Câu 3: Nhận xét về cốt truyện

Cốt truyện của văn bản đơn giản, đồng tâm, giàu kịch tính và mang tính giáo dục cao.

  • Sự kiện bước ngoặt: Việc bà Bảy qua đời ngay sau hành động sai trái của hai đứa trẻ đã đẩy cốt truyện lên cao trào, tạo ra sự thức tỉnh đột ngột.
  • Cấu trúc: Truyện đi từ giới thiệu bối cảnh → nảy sinh lòng tham (lỗi lầm) → sự thật phơi bày → nỗi ân hận kéo dài suốt đời.
  • Đặc điểm: Cách thắt nút và mở nút rất nhanh nhưng để lại dư vị ám ảnh, khiến người đọc phải suy ngẫm cùng nhân vật.

Câu 4: Nội dung của văn bản

Văn bản kể về câu chuyện hai cậu bé (nhân vật "tôi" và Bá) đã lừa bà cụ mù bán hàng (bà Bảy Nhiêu) bằng cách đưa giấy lộn thay cho tiền. Cái chết bất ngờ của bà cùng sự thật rằng bà biết mình bị lừa nhưng vẫn lặng lẽ chấp nhận đã trở thành nỗi ân hận khôn nguôi, một vết sẹo tâm hồn theo đuổi hai nhân vật cho đến tận lúc già. Qua đó, tác giả nhắn nhủ về lòng trung thực, sự tôn trọng người già và bài học về sự trả giá cho những lỗi lầm không thể cứu vãn.

Câu 5: Ý nghĩa câu nói "Trong đời, có những điều ta đã lầm lỡ, không bao giờ còn có dịp để sửa chữa được nữa."

Câu nói này chứa đựng một triết lý sống sâu sắc và có phần cay đắng:

  • Tính hữu hạn của thời gian và cơ hội: Có những lỗi lầm xảy ra khi đối phương không còn trên đời (như bà Bảy đã mất), khiến ta không bao giờ có thể nói lời xin lỗi hay đền bù trực tiếp.
  • Sức nặng của lương tâm: Lỗi lầm không thể sửa chữa sẽ trở thành "món nợ" tinh thần đeo bám con người suốt đời. Dù ta có thành đạt hay trưởng thành bao nhiêu, vết nhơ cũ vẫn còn đó.
  • Lời cảnh tỉnh: Nhắc nhở mỗi người cần phải suy nghĩ thấu đáo trước khi hành động, sống tử tế và trung thực trong từng khoảnh khắc, bởi có những sai lầm là "mãi mãi", không có nút "undo" (hoàn tác) trong cuộc đời thực.

Câu 1: Phân tích nhân vật Lê Phụng Hiểu (2,0 điểm)

Trong đoạn trích từ Lĩnh Nam chích quái, nhân vật Lê Phụng Hiểu hiện lên là một danh tướng văn võ song toàn, biểu tượng cho lòng trung thành và sức mạnh phi thường của con người thời Lý. Trước hết, tác giả khắc họa ông với vẻ ngoài uy dũng "cao 7 thước, râu ria rậm rạp" và sức mạnh cơ bắp kỳ diệu đến mức có thể "nhổ cây, bật rễ". Đây là lối xây dựng nhân vật mang màu sắc sử thi, biến ông trở thành một người hùng có tầm vóc lớn lao. Tuy nhiên, giá trị lớn nhất của Lê Phụng Hiểu nằm ở tinh thần trung quân ái quốc. Trong biến cố "Loạn Tam Vương", giữa lúc triều đình nguy khốn, ông đã không ngần ngại xông pha, dõng dạc luận tội những kẻ vong ân bội nghĩa ngay trước cửa thành. Hành động chém chết Vũ Đức Vương và truy đuổi các vương làm loạn không chỉ dẹp yên nội chiến mà còn khẳng định kỉ cương phép nước. Vua Lý Thái Tông đã không quá lời khi so sánh ông với danh tướng Kính Đức đời Đường. Lê Phụng Hiểu không chỉ là một võ tướng có sức mạnh cá nhân mà còn là tấm gương sáng về lòng chính nghĩa, góp phần bảo vệ sự ổn định của vương triều và nền độc lập của đất nước trong buổi đầu tự chủ.


Câu 2: Nghị luận về việc giới trẻ "nghiện" mạng xã hội (4,0 điểm)

Bài văn tham khảo:

Trong kỷ nguyên số, mạng xã hội (Facebook, TikTok, Instagram...) đã trở thành một phần không thể thiếu của cuộc sống. Tuy nhiên, sự phát triển bùng nổ này cũng kéo theo một hiện tượng đáng báo động: nhiều bạn trẻ dành quá nhiều thời gian cho thế giới ảo mà lãng quên đi những giá trị thực tế của cuộc đời.

Mạng xã hội giống như một "ma trận" đầy lôi cuốn với những video ngắn, những dòng trạng thái đầy màu sắc và những nút "Like" ảo diệu. Việc quá đắm chìm vào màn hình điện thoại khiến giới trẻ rơi vào tình trạng "sống mòn". Hệ lụy đầu tiên là sự sa sút trong học tập và công việc. Khi sự tập trung bị xẻ nhỏ bởi những thông báo tin nhắn, tư duy chiều sâu sẽ dần biến mất. Không chỉ vậy, sức khỏe thể chất cũng bị đe dọa nghiêm trọng bởi lối sống thụ động, thiếu rèn luyện, dẫn đến các bệnh về mắt, cột sống và tình trạng mất ngủ kéo dài.

Đáng ngại hơn, mạng xã hội đang làm rạn nứt các mối quan hệ thực chất. Thật nghịch lý khi chúng ta có thể nhắn tin với một người lạ cách nửa vòng trái đất nhưng lại không thể nói một câu ấm áp với cha mẹ đang ngồi ngay bên cạnh. Những bữa cơm gia đình không còn tiếng cười mà thay vào đó là sự im lặng, nơi mỗi thành viên đều theo đuổi một thế giới riêng trên màn hình điện thoại. Việc thiếu giao tiếp trực tiếp khiến kỹ năng xã hội của giới trẻ bị mai một, dễ rơi vào trạng thái cô đơn, trầm cảm hoặc hội chứng "sợ bị bỏ rơi" (FOMO).

Để giải quyết vấn đề này, mỗi bạn trẻ cần xây dựng cho mình một "chế độ ăn kiêng kỹ thuật số" (Digital Detox). Hãy học cách quản lý thời gian, ưu tiên cho những hoạt động thực tế như đọc sách, chơi thể thao và đặc biệt là dành thời gian chất lượng bên người thân. Mạng xã hội chỉ nên là một công cụ hỗ trợ giao tiếp chứ không thể thay thế cuộc sống thực. Cha mẹ và nhà trường cũng cần định hướng, tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa hấp dẫn để kéo học sinh ra khỏi màn hình ảo.

Tóm lại, cuộc sống thực tại ngoài kia với những trải nghiệm sống động luôn có giá trị hơn ngàn lượt tương tác ảo. Đừng để mạng xã hội trở thành "kẻ đánh cắp thời gian" và tâm hồn bạn. Hãy ngẩng đầu lên, tắt màn hình và bắt đầu cảm nhận hơi thở của cuộc sống thực ngay hôm nay.

Câu 1. Thể loại

  • Thể loại: Truyện truyền kỳ (hoặc truyện dân gian mang yếu tố lịch sử, được chép trong tập Lĩnh Nam chích quái).

Câu 2. Các chi tiết tưởng tượng kì ảo

  • Thần núi Đồng Cổ hiện hình báo mộng: Lần thứ nhất thần xin theo vua đánh giặc Chiêm Thành; lần thứ hai báo mộng về âm mưu làm phản của ba vương (Dực Thánh Vương, Đông Chinh Vương, Vũ Đức Vương).
  • Sức mạnh của Lê Phụng Hiểu: "Nhổ cây, bật cả rễ" khiến đối phương khiếp sợ (chi tiết phóng đại, kì ảo hóa sức mạnh nhân vật lịch sử).
  • Sự ứng nghiệm của lời báo mộng: Nội loạn dẹp yên đúng như những gì thần đã chỉ dẫn trong mơ.

Câu 3. Sự việc chính

Văn bản kể về việc Thần núi Đồng Cổ hiển linh báo mộng giúp vua Lý Thái Tông đánh thắng giặc Chiêm Thành và dẹp tan cuộc phản loạn của ba vương (Loạn Tam Vương), dẫn đến việc nhà vua lập đền thờ và định ra lễ thề "Minh Chủ" hằng năm để răn đe kẻ bất trung.

Câu 4. Ý nghĩa việc Vua Lý Thái Tông hai lần mơ gặp thần

  • Về nội dung: Khẳng định sự phò trợ của thần linh đối với vương triều nhà Lý, cho thấy nhà vua là người có "thiên mệnh", được thần thánh ủng hộ.
  • Về nghệ thuật: Tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện; giúp nối kết các sự kiện lịch sử (đánh Chiêm Thành, dẹp nội loạn) với yếu tố tâm linh.
  • Về tư tưởng: Thể hiện niềm tin của người xưa vào sự giao thoa giữa con người và thần linh, đồng thời nhấn mạnh tính chính nghĩa của vua Lý Thái Tông.

Câu 5. Chủ đề

  • Chủ đề: Ngợi ca sự hiển linh của thần núi Đồng Cổ trong việc bảo vệ đất nước và triều đình; đồng thời đề cao lòng trung quân ái quốc, tinh thần dẹp loạn giữ gìn kỉ cương đất nước của vua tôi nhà Lý (đặc biệt là Lê Phụng Hiểu).

Câu 1: Cảm nghĩ về cảm hứng chủ đạo và chủ đề bài thơ (2,0 điểm)

Bài thơ “Bến đò ngày mưa” của Anh Thơ đã chạm đến trái tim người đọc bởi cảm hứng chủ đạo là nỗi buồn man mác, sầu muộn trước cảnh sắc thiên nhiên và niềm thương cảm sâu sắc đối với cuộc sống lam lũ của con người nơi làng quê. Chủ đề của tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc miêu tả một bức tranh thiên nhiên tĩnh lặng, ảm đạm mà còn len lỏi vào từng ngóc ngách của đời sống sinh hoạt dân dã. Với ngòi bút quan sát tinh tế, tác giả đã thi vị hóa những hình ảnh đời thường như tre "rũ rợi", chuối "bơ phờ" hay quán hàng "xo ro" dưới mưa lạnh. Cảm hứng ấy không bi lụy mà toát lên vẻ đẹp của sự bình lặng, một cái nhìn trìu mến dành cho quê hương ngay cả trong những lúc tiêu sơ nhất. Qua đó, bài thơ khẳng định chủ đề về vẻ đẹp tĩnh lặng, xơ xác nhưng đầy chân thực của làng quê Việt Nam xưa, đồng thời thể hiện tâm hồn nhạy cảm, giàu lòng trắc ẩn của nữ sĩ Anh Thơ trước những kiếp người nhỏ bé đang "dầm mình" trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn.


Câu 2:

Trong dòng chảy hối hả của cuộc đời, có một nơi luôn bình yên để ta tìm về, một điểm tựa tinh thần vững chãi mà không gì có thể thay thế được, đó chính là quê hương. Quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra và lớn lên, mà còn là linh hồn, là nguồn cội nuôi dưỡng nhân cách và định hình giá trị của mỗi con người.

Trước hết, quê hương chính là nôi nuôi dưỡng tâm hồn. Từ lời ru ngọt ngào của mẹ, hương thơm của cánh đồng lúa chín đến những trò chơi dân gian thuở thiếu thời, tất cả đã thấm sâu vào máu thịt, tạo nên bản sắc riêng của mỗi cá nhân. Những kỷ niệm đẹp đẽ nơi làng quê giúp con người hình thành lòng nhân ái, sự vị tha và gắn kết cộng đồng. Quê hương dạy ta biết yêu thương những điều bình dị nhất, từ đó xây dựng nên một tâm hồn phong phú và giàu cảm xúc.

Bên cạnh đó, quê hương còn là điểm tựa tinh thần, là "bến đỗ" bình yên sau những bão giông của cuộc sống. Giữa thế giới đầy rẫy những áp lực và toan tính, hình ảnh quê hương hiện lên như một miền cổ tích, giúp ta xoa dịu nỗi đau và tìm lại sự cân bằng. Dù đi đâu, về đâu, dù thành đạt hay thất bại, quê hương vẫn luôn dang rộng vòng tay đón đợi đứa con xa xứ trở về với sự bao dung vô bờ bến. Lòng yêu quê hương cũng chính là động lực để con người nỗ lực phấn đấu, cống hiến sức mình để xây dựng mảnh đất chôn rau cắt rốn ngày càng giàu đẹp.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, một bộ phận giới trẻ đang dần quên đi gốc gác, mải mê chạy theo những giá trị vật chất xa hoa mà thờ ơ với cội nguồn. Đó là một lối sống đáng phê phán, bởi "người trung thành với quê hương nhất là người thành công nhất". Sống thiếu tình yêu quê hương, con người sẽ trở nên lạc lõng, trống rỗng và dễ dàng gục ngã trước những cám dỗ.

Tóm lại, quê hương là món quà vô giá mà mỗi chúng ta cần phải trân trọng và giữ gìn. Như Đỗ Trung Quân đã từng viết: "Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người". Hãy để tình yêu quê hương trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động, để dù ở bất cứ đâu, chúng ta vẫn luôn mang trong mình niềm tự hào về nguồn cội và bản sắc dân tộc.

Câu 1: Cảm nghĩ về cảm hứng chủ đạo và chủ đề bài thơ (2,0 điểm)

Bài thơ “Bến đò ngày mưa” của Anh Thơ đã chạm đến trái tim người đọc bởi cảm hứng chủ đạo là nỗi buồn man mác, sầu muộn trước cảnh sắc thiên nhiên và niềm thương cảm sâu sắc đối với cuộc sống lam lũ của con người nơi làng quê. Chủ đề của tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc miêu tả một bức tranh thiên nhiên tĩnh lặng, ảm đạm mà còn len lỏi vào từng ngóc ngách của đời sống sinh hoạt dân dã. Với ngòi bút quan sát tinh tế, tác giả đã thi vị hóa những hình ảnh đời thường như tre "rũ rợi", chuối "bơ phờ" hay quán hàng "xo ro" dưới mưa lạnh. Cảm hứng ấy không bi lụy mà toát lên vẻ đẹp của sự bình lặng, một cái nhìn trìu mến dành cho quê hương ngay cả trong những lúc tiêu sơ nhất. Qua đó, bài thơ khẳng định chủ đề về vẻ đẹp tĩnh lặng, xơ xác nhưng đầy chân thực của làng quê Việt Nam xưa, đồng thời thể hiện tâm hồn nhạy cảm, giàu lòng trắc ẩn của nữ sĩ Anh Thơ trước những kiếp người nhỏ bé đang "dầm mình" trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn.


Câu 2: Ý nghĩa của quê hương đối với cuộc đời mỗi con người (4,0 điểm)

Bài văn tham khảo:

Trong dòng chảy hối hả của cuộc đời, có một nơi luôn bình yên để ta tìm về, một điểm tựa tinh thần vững chãi mà không gì có thể thay thế được, đó chính là quê hương. Quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra và lớn lên, mà còn là linh hồn, là nguồn cội nuôi dưỡng nhân cách và định hình giá trị của mỗi con người.

Trước hết, quê hương chính là nôi nuôi dưỡng tâm hồn. Từ lời ru ngọt ngào của mẹ, hương thơm của cánh đồng lúa chín đến những trò chơi dân gian thuở thiếu thời, tất cả đã thấm sâu vào máu thịt, tạo nên bản sắc riêng của mỗi cá nhân. Những kỷ niệm đẹp đẽ nơi làng quê giúp con người hình thành lòng nhân ái, sự vị tha và gắn kết cộng đồng. Quê hương dạy ta biết yêu thương những điều bình dị nhất, từ đó xây dựng nên một tâm hồn phong phú và giàu cảm xúc.

Bên cạnh đó, quê hương còn là điểm tựa tinh thần, là "bến đỗ" bình yên sau những bão giông của cuộc sống. Giữa thế giới đầy rẫy những áp lực và toan tính, hình ảnh quê hương hiện lên như một miền cổ tích, giúp ta xoa dịu nỗi đau và tìm lại sự cân bằng. Dù đi đâu, về đâu, dù thành đạt hay thất bại, quê hương vẫn luôn dang rộng vòng tay đón đợi đứa con xa xứ trở về với sự bao dung vô bờ bến. Lòng yêu quê hương cũng chính là động lực để con người nỗ lực phấn đấu, cống hiến sức mình để xây dựng mảnh đất chôn rau cắt rốn ngày càng giàu đẹp.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, một bộ phận giới trẻ đang dần quên đi gốc gác, mải mê chạy theo những giá trị vật chất xa hoa mà thờ ơ với cội nguồn. Đó là một lối sống đáng phê phán, bởi "người trung thành với quê hương nhất là người thành công nhất". Sống thiếu tình yêu quê hương, con người sẽ trở nên lạc lõng, trống rỗng và dễ dàng gục ngã trước những cám dỗ.

Tóm lại, quê hương là món quà vô giá mà mỗi chúng ta cần phải trân trọng và giữ gìn. Như Đỗ Trung Quân đã từng viết: "Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người". Hãy để tình yêu quê hương trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động, để dù ở bất cứ đâu, chúng ta vẫn luôn mang trong mình niềm tự hào về nguồn cội và bản sắc dân tộc.