Vi Chu Hải Hà
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Văn bản được viết bằng thể thơ lục bát.
Câu 2:
- Đây là lời thoại trực tiếp của nhân vật (Thuý Kiều).
- Kiểu lời thoại trực tiếp giúp thể hiện rõ cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật, tạo sự chân thực và sinh động.
Câu 3:
- Các từ láy: sè sè, dầu dầu, dầm dầm, đầm đầm, lạnh ngắt, lờ mờ…+)Gợi hình ảnh cụ thể (nấm đất nhỏ bé, ngọn cỏ úa vàng, dấu xe ngựa phủ rêu…).
+) Gợi âm thanh, sắc thái cảm xúc (dầu dầu, dầm dầm, đầm đầm → diễn tả nỗi buồn thương, nước mắt rơi).
- Tác dụng: Tăng tính biểu cảm, khắc họa không khí tang thương, hiu quạnh của cảnh mộ Đạm Tiên và tâm trạng đau xót của Thuý Kiều.
Câu 4:
- Tâm trạng, cảm xúc:
- Xót xa, thương cảm cho số phận bạc mệnh của Đạm Tiên.
- Đồng cảm sâu sắc với nỗi đau của người phụ nữ tài sắc nhưng yểu mệnh.
- Rơi nước mắt (“dầm dầm châu sa”) và thốt lên lời than thở cho phận đàn bà.
- Điều này cho thấy Thuý Kiều là người con gái:
- Có trái tim nhân hậu, giàu tình thương.
- Nhạy cảm, dễ xúc động trước cảnh đời bất hạnh.
- Ý thức về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Câu 5:
Qua đoạn trích về số phận bạc mệnh của Đạm Tiên, em rút ra bài học rằng mỗi người cần biết trân trọng cuộc sống và sống nhân ái, yêu thương. Cuộc đời vốn mong manh, phận người lại nhiều bất trắc, vì vậy ta phải biết đồng cảm, sẻ chia với những số phận bất hạnh xung quanh mình. Đồng thời, cần trân trọng giá trị của bản thân, sống có ý nghĩa, làm điều tốt để không uổng phí tuổi xuân. Bài học ấy giúp em nhận thức rõ hơn trách nhiệm của mình trong việc sống nhân văn, biết yêu thương và bảo vệ những giá trị tốt đẹp trong xã hội.