Lê Thị Ánh
Giới thiệu về bản thân
Đề kiểm tra cuối học kì I - Đề số 1 SVIP
In bàiBài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (191)I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM)
Đọc văn bản sau:
Người bán mai vàng
Ngay cả ở đất Cố Đô, không mấy ai biết ở chân núi Ngũ Tây có một vườn mai vàng. Chủ vườn mai ấy là hai cha con ông già mù. Vườn mai có từ bao giờ không nhớ. Gốc cây sù sì, nổi u, nổi cục, rêu xanh bám từng đám, loang lổ, cổ kính. Khi nghe gió đông về, ông già mù rờ rờ từng cành cây bứt hết lá: “cho cây tụ nhựa”. Những ngày giá lạnh nhất, mặc chiếc áo dạ sờn, mái tóc bạc ghé tai vào gốc mai, ông nghe rõ cả dòng nhựa đang chảy âm thầm trong gốc mai cổ. Đôi bàn tay nhăn nheo, khô khẳng lần sờ từng mắt mầm, xem mầm đã nứt nanh đến đâu.
Những chùm nụ xanh lớn dần nôn nao hay chính lòng ông nôn nao. Tay ông mân mê, vuốt ve từng núm nụ không biết chán, cái láng lẩy của da nụ làm những ngón tay mê mẩn. Như không biết gió lạnh, suốt ngày ông quanh quẩn với từng gốc mai. Núm nụ đầu tiên, mới nhú màu cánh vàng hé nở, ông biết liền. Ngón tay ông đặt đúng vào cái nụ ấy. Ông nhận ra bằng hương thơm của hoa mai dẫn đường hay bằng linh cảm ông cũng không biết, chỉ biết rằng, ông đã đến đúng nụ hoa cần đến. Rồi mừng rỡ gọi con:
– Ra mà xem, Mai ơi, hoa sắp nở rồi!
Người con trai dù đang ăn, đang uống cũng bỏ, chạy nhào ra với cha. Lập tức anh cũng bị cái màu vàng óng ả vừa nứt hé ra kia hút hồn. Cả hai cha con không biết ai mê mải hơn ai. Cái tên Mai ông đặt cho con bắt đầu từ nỗi si mê ấy. […]
Mùa xuân năm ấy hai cha con chặt mai đem bán bên vỉa hè trước cổng Thương Bạc. Hai cha con ngủ lại giữ mai. Đêm hai mươi tám tết cuối năm đó, Mai gặp cô bé dắt mẹ đi ăn xin, bà mẹ bị cảm lạnh chết. Cô khóc đứt hơi. Ôm xác mẹ lăn lộn dưới mái ni-lông che bên cột đèn vườn hoa. Tiếng cô khóc kéo Mai lại. Nhóm từ thiện đường phố chôn cất cho bà mẹ. Cám cảnh, Mai nói với cô bé:
– Lan ơi – tên cô bé – đời ăn mày khổ lắm. Anh biết. Nhà anh rất nghèo, em có muốn về nhà ở với cha con anh không?
Trong lúc khốn cùng, có một bàn tay dắt, còn gì hơn. Lan đứng bán mai cùng cha con Mai, đến gần giao thừa mới về nhà. Tết ấy, nhà Mai vui hơn. Mai gắng sức nuôi thêm một người. Chỉ một năm sau, Lan đã có thể góp sức cùng anh nuôi nổi mình. Ba năm sau Lan trở thành một thiếu nữ xinh tươi. Hoàn toàn khác cô gái Mai nhặt được ở Thương Bạc. Hai người yêu nhau từ lúc nào. Già Mai bằng lòng cho hai người thành vợ thành chồng. Vườn mai vàng bên núi Ngũ Tây chứng giám cho đám cưới của họ. […]
Tình thương yêu trong gia đình vượt lên được cái nghèo. Già Mai chiêm nghiệm cả tối, nói được một câu với con dâu: “Đời không gì bằng chữ Tâm, Lan ạ. Con nhớ điều ấy cho ba.”. Lan sinh con trai. Ông nội lấy chữ Tâm đặt tên cho cháu. Cu Tâm ra đời vào những năm gian lao. Năm đầu trời đại hạn. Nước mặn trên sông Hương tràn lên tận bến Tuần. Lúa cháy. Từ thành phố xuôi về Thuận An, toàn thấy xe đi bán nước ngọt. Con suối chảy quanh năm trước vườn mai cạn khô. Xuôi xa một cây số dòng suối mới bắt đầu có nước lại. Mai và Lan cùi cụi suốt ngày gánh nước tưới mới cứu được vườn mai. Tết ấy mai mất mùa. Năm sau trời lạnh buốt. Ba cha con già Mai cắt cỏ ủ gốc, qua Tết mai mới chúm nụ. Lại thêm một năm trời giật mất miếng cơm. Mai thương cha, thương vợ. Trong nỗi quẫn trí, anh bật nảy một điều trong óc: “Những người trồng hoa ở Huế, họ sống bằng cách nào?”.
Ý nghĩ ấy kéo anh đi. Già Mai ở nhà trông cháu. Lan vào rừng kiếm củi, hái lá nón. Mai lần mò đến các gia đình trồng hoa. Lâu nay anh sống cam chịu, sống bó mình. Tự ti cũng có, buông thả cũng có. Anh bằng lòng sống đạm bạc ở một gia đình con con. Nhiều lúc không hơn người đi ở ẩn. Những vườn hoa của đồng nghiệp làm anh bừng tỉnh. Song tỏ tường rồi thì anh buồn.
Anh mang theo nỗi niềm ấy về nhà. Lan lựa lời, lúc có cha chồng, Lan mới dám hỏi:
– Răng anh buồn rứa?
Hết bữa cơm chiều, Mai mới nói được với cha và vợ:
– Mai vàng quý. Song chẳng ai sống được bằng vườn mai. Họ trồng cúc, trồng hồng, trồng tùng, trồng bách và cả trồng mai trong chậu nữa mới sống nổi bằng nghề hoa. Những người có vườn rộng họ trồng huệ, trồng lay ơn. Nghĩa là họ phải trồng tất cả những gì trồng được. Cách trồng, chúng ta đi học. Nhưng cái chúng ta thiếu là không có vốn. Không có vốn thì không thể nói mạnh được điều gì.
Không khí gia đình chùng hẳn xuống. Nỗi bất lực đè nặng lên họ. […] Ông già Mai lặng thinh. Vừa cõng cháu trên lưng, vừa lang thang trong vườn mai. Ông đếm từng cây mai một. Bàn tay xương xẩu rờ rẫm, vuốt ve chúng, như bàn tay già rờ rẫm đứa con xa lâu ngày gặp lại. Gió lạnh và mưa bay. Ông già đã nhận ra mùi hoa mai nở. Ông ngồi tựa cột ngửa mặt lên nhìn trời hít ngửi mùi hoa ngây ngất. Ông như nghe rõ từng tiếng lách tách của mỗi cánh hoa xòe nở. Ông tự nói với mình: “Đời mình sắp qua rồi. Đã đến đời con cháu. Vườn mai này sẽ là của chúng.”. […]
Ông nói:
– Cha bằng lòng cho con cưa nửa vườn mai, cưa cả cây, những cơ quan giàu có họ chẳng thích mua kiểu mai cây của mình đó sao. Ba bằng lòng cho các con, để các con có vốn ban đầu.
– Thật chứ ba? – Mai reo lên.
– Miễn sao vợ chồng con có hạnh phúc. Ngần ấy cũng đủ làm niềm vui tuổi già của ba rồi.
Đúng ngày cưa mai, ông già Mai dắt cháu lang thang khắp đồi núi Ngũ Tây. Ông kể cho cháu nghe, xưa kia, không phải đồi trọc như bây giờ, mà là những cánh rừng, mùa xuân về nở đầy hoa mai. Thằng bé nghe chẳng hiểu gì. Nó dắt ông hết mỏm đồi này sang mỏm đồi khác, còn ông già cứ kể. Đi thật xa và kể để ông khỏi nghe tiếng cưa đang cắt những cây mai có từng mảnh đời ông hóa thân trong đó. Sau đó là những đêm không ngủ. Ông lần ra vườn mai. Đặt bàn tay mình nơi nhát cây bị cắt. Nghe nhựa mai dính dính nơi bàn tay. Ông chết lặng đi và âm thầm khóc một mình. Ông những tưởng mình sẽ gục ngã cùng những cây mai bị cắt kia, song sức ông đã hồi sinh nhờ sự năng nổ của vợ chồng Mai, bắt được cái nhịp của cuộc sống mới bằng chính những cánh mai vàng.
(Nguyễn Quang Hà, Tạp chí Sông Hương, số ra tháng 2 năm 1995)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản trên.
Câu 2. Tóm tắt văn bản trong khoảng 5 đến 7 câu.
Câu 3. Nhận xét về nhân vật ông già Mai.
Câu 4. Em thích nhất chi tiết nào trong văn bản? Vì sao?
Câu 5. Yếu tố “tình cảm gia đình” có ảnh hưởng như thế nào đến nhân vật Mai?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi nàyBài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (149)II. PHẦN VIẾT (6 ĐIỂM)
Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Mai trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bàn về lối sống thích khoe khoang, phô trương “ảo” những thứ không thuộc về mình của một bộ phận giới trẻ hiện nay.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này \(O L M © 2022\)Đề kiểm tra cuối học kì I - Đề số 1 SVIP
In bàiBài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (191)I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM)
Đọc văn bản sau:
Người bán mai vàng
Ngay cả ở đất Cố Đô, không mấy ai biết ở chân núi Ngũ Tây có một vườn mai vàng. Chủ vườn mai ấy là hai cha con ông già mù. Vườn mai có từ bao giờ không nhớ. Gốc cây sù sì, nổi u, nổi cục, rêu xanh bám từng đám, loang lổ, cổ kính. Khi nghe gió đông về, ông già mù rờ rờ từng cành cây bứt hết lá: “cho cây tụ nhựa”. Những ngày giá lạnh nhất, mặc chiếc áo dạ sờn, mái tóc bạc ghé tai vào gốc mai, ông nghe rõ cả dòng nhựa đang chảy âm thầm trong gốc mai cổ. Đôi bàn tay nhăn nheo, khô khẳng lần sờ từng mắt mầm, xem mầm đã nứt nanh đến đâu.
Những chùm nụ xanh lớn dần nôn nao hay chính lòng ông nôn nao. Tay ông mân mê, vuốt ve từng núm nụ không biết chán, cái láng lẩy của da nụ làm những ngón tay mê mẩn. Như không biết gió lạnh, suốt ngày ông quanh quẩn với từng gốc mai. Núm nụ đầu tiên, mới nhú màu cánh vàng hé nở, ông biết liền. Ngón tay ông đặt đúng vào cái nụ ấy. Ông nhận ra bằng hương thơm của hoa mai dẫn đường hay bằng linh cảm ông cũng không biết, chỉ biết rằng, ông đã đến đúng nụ hoa cần đến. Rồi mừng rỡ gọi con:
– Ra mà xem, Mai ơi, hoa sắp nở rồi!
Người con trai dù đang ăn, đang uống cũng bỏ, chạy nhào ra với cha. Lập tức anh cũng bị cái màu vàng óng ả vừa nứt hé ra kia hút hồn. Cả hai cha con không biết ai mê mải hơn ai. Cái tên Mai ông đặt cho con bắt đầu từ nỗi si mê ấy. […]
Mùa xuân năm ấy hai cha con chặt mai đem bán bên vỉa hè trước cổng Thương Bạc. Hai cha con ngủ lại giữ mai. Đêm hai mươi tám tết cuối năm đó, Mai gặp cô bé dắt mẹ đi ăn xin, bà mẹ bị cảm lạnh chết. Cô khóc đứt hơi. Ôm xác mẹ lăn lộn dưới mái ni-lông che bên cột đèn vườn hoa. Tiếng cô khóc kéo Mai lại. Nhóm từ thiện đường phố chôn cất cho bà mẹ. Cám cảnh, Mai nói với cô bé:
– Lan ơi – tên cô bé – đời ăn mày khổ lắm. Anh biết. Nhà anh rất nghèo, em có muốn về nhà ở với cha con anh không?
Trong lúc khốn cùng, có một bàn tay dắt, còn gì hơn. Lan đứng bán mai cùng cha con Mai, đến gần giao thừa mới về nhà. Tết ấy, nhà Mai vui hơn. Mai gắng sức nuôi thêm một người. Chỉ một năm sau, Lan đã có thể góp sức cùng anh nuôi nổi mình. Ba năm sau Lan trở thành một thiếu nữ xinh tươi. Hoàn toàn khác cô gái Mai nhặt được ở Thương Bạc. Hai người yêu nhau từ lúc nào. Già Mai bằng lòng cho hai người thành vợ thành chồng. Vườn mai vàng bên núi Ngũ Tây chứng giám cho đám cưới của họ. […]
Tình thương yêu trong gia đình vượt lên được cái nghèo. Già Mai chiêm nghiệm cả tối, nói được một câu với con dâu: “Đời không gì bằng chữ Tâm, Lan ạ. Con nhớ điều ấy cho ba.”. Lan sinh con trai. Ông nội lấy chữ Tâm đặt tên cho cháu. Cu Tâm ra đời vào những năm gian lao. Năm đầu trời đại hạn. Nước mặn trên sông Hương tràn lên tận bến Tuần. Lúa cháy. Từ thành phố xuôi về Thuận An, toàn thấy xe đi bán nước ngọt. Con suối chảy quanh năm trước vườn mai cạn khô. Xuôi xa một cây số dòng suối mới bắt đầu có nước lại. Mai và Lan cùi cụi suốt ngày gánh nước tưới mới cứu được vườn mai. Tết ấy mai mất mùa. Năm sau trời lạnh buốt. Ba cha con già Mai cắt cỏ ủ gốc, qua Tết mai mới chúm nụ. Lại thêm một năm trời giật mất miếng cơm. Mai thương cha, thương vợ. Trong nỗi quẫn trí, anh bật nảy một điều trong óc: “Những người trồng hoa ở Huế, họ sống bằng cách nào?”.
Ý nghĩ ấy kéo anh đi. Già Mai ở nhà trông cháu. Lan vào rừng kiếm củi, hái lá nón. Mai lần mò đến các gia đình trồng hoa. Lâu nay anh sống cam chịu, sống bó mình. Tự ti cũng có, buông thả cũng có. Anh bằng lòng sống đạm bạc ở một gia đình con con. Nhiều lúc không hơn người đi ở ẩn. Những vườn hoa của đồng nghiệp làm anh bừng tỉnh. Song tỏ tường rồi thì anh buồn.
Anh mang theo nỗi niềm ấy về nhà. Lan lựa lời, lúc có cha chồng, Lan mới dám hỏi:
– Răng anh buồn rứa?
Hết bữa cơm chiều, Mai mới nói được với cha và vợ:
– Mai vàng quý. Song chẳng ai sống được bằng vườn mai. Họ trồng cúc, trồng hồng, trồng tùng, trồng bách và cả trồng mai trong chậu nữa mới sống nổi bằng nghề hoa. Những người có vườn rộng họ trồng huệ, trồng lay ơn. Nghĩa là họ phải trồng tất cả những gì trồng được. Cách trồng, chúng ta đi học. Nhưng cái chúng ta thiếu là không có vốn. Không có vốn thì không thể nói mạnh được điều gì.
Không khí gia đình chùng hẳn xuống. Nỗi bất lực đè nặng lên họ. […] Ông già Mai lặng thinh. Vừa cõng cháu trên lưng, vừa lang thang trong vườn mai. Ông đếm từng cây mai một. Bàn tay xương xẩu rờ rẫm, vuốt ve chúng, như bàn tay già rờ rẫm đứa con xa lâu ngày gặp lại. Gió lạnh và mưa bay. Ông già đã nhận ra mùi hoa mai nở. Ông ngồi tựa cột ngửa mặt lên nhìn trời hít ngửi mùi hoa ngây ngất. Ông như nghe rõ từng tiếng lách tách của mỗi cánh hoa xòe nở. Ông tự nói với mình: “Đời mình sắp qua rồi. Đã đến đời con cháu. Vườn mai này sẽ là của chúng.”. […]
Ông nói:
– Cha bằng lòng cho con cưa nửa vườn mai, cưa cả cây, những cơ quan giàu có họ chẳng thích mua kiểu mai cây của mình đó sao. Ba bằng lòng cho các con, để các con có vốn ban đầu.
– Thật chứ ba? – Mai reo lên.
– Miễn sao vợ chồng con có hạnh phúc. Ngần ấy cũng đủ làm niềm vui tuổi già của ba rồi.
Đúng ngày cưa mai, ông già Mai dắt cháu lang thang khắp đồi núi Ngũ Tây. Ông kể cho cháu nghe, xưa kia, không phải đồi trọc như bây giờ, mà là những cánh rừng, mùa xuân về nở đầy hoa mai. Thằng bé nghe chẳng hiểu gì. Nó dắt ông hết mỏm đồi này sang mỏm đồi khác, còn ông già cứ kể. Đi thật xa và kể để ông khỏi nghe tiếng cưa đang cắt những cây mai có từng mảnh đời ông hóa thân trong đó. Sau đó là những đêm không ngủ. Ông lần ra vườn mai. Đặt bàn tay mình nơi nhát cây bị cắt. Nghe nhựa mai dính dính nơi bàn tay. Ông chết lặng đi và âm thầm khóc một mình. Ông những tưởng mình sẽ gục ngã cùng những cây mai bị cắt kia, song sức ông đã hồi sinh nhờ sự năng nổ của vợ chồng Mai, bắt được cái nhịp của cuộc sống mới bằng chính những cánh mai vàng.
(Nguyễn Quang Hà, Tạp chí Sông Hương, số ra tháng 2 năm 1995)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản trên.
Câu 2. Tóm tắt văn bản trong khoảng 5 đến 7 câu.
Câu 3. Nhận xét về nhân vật ông già Mai.
Câu 4. Em thích nhất chi tiết nào trong văn bản? Vì sao?
Câu 5. Yếu tố “tình cảm gia đình” có ảnh hưởng như thế nào đến nhân vật Mai?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi nàyBài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (149)II. PHẦN VIẾT (6 ĐIỂM)
Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Mai trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bàn về lối sống thích khoe khoang, phô trương “ảo” những thứ không thuộc về mình của một bộ phận giới trẻ hiện nay.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này \(O L M © 2022\)
Đề kiểm tra cuối học kì I - Đề số 3 SVIP
In bài Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (91)(4 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5.
Sè sè nấm đất bên đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Rằng: “Sao trong tiết thanh minh,
Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”
Vương Quan mới dẫn gần xa:
“Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi(1).
Nổi danh tài sắc một thì,
Xôn xao ngoài cửa, hiếm gì yến anh.
Phận hồng nhan có mong manh(2),
Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương(3).
Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
Thuyền tình(4) vừa ghé tới nơi,
Thì đà trâm gãy, bình rơi(5) bao giờ.
Buồng không lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.
Khóc than khôn xiết sự tình,
Khéo vô duyên bấy là mình với ta.
Đã không duyên trước chăng mà,
Thì chi chút ước gọi là duyên sau.
Sắm sanh nếp tử(6) xe châu(7),
Vùi nông một nấm(8), mặc dầu cỏ hoa.
Trải bao thỏ lặn, ác tà(9),
Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm!"
Lòng đâu sẵn mối thương tâm,
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa(10):
"Đau đớn thay, phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung."
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Chú thích:
(1) Ca nhi: Gái hát, cũng như ta nói ả đào.
(2) Phận hồng nhan có mong manh: Ý nói số phận mong manh của người con gái đẹp.
(3) Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương: Ý nói đang giữa tuổi xuân thì người đẹp chết.
(4) Thuyền tình: Người khách viễn phương đến tìm Đạm Tiên.
(5) Trâm gãy, bình rơi: Ý nói người đã chết, lấy ý tứ từ câu thơ Đường: Nhất phiến tình chu phương đáo ngạn / Bình trâm hoa chiết dĩ đa thì (Một lá thuyền tình vừa tới bến / Bình rơi hoa gãy đã từ lâu).
(6) Nếp tử: Áo quan làm bằng gỗ tử.
(7) Xe châu: Linh xa có treo rèm châu, ý nói linh xa lịch sự sang trọng.
(8) Vùi nông một nấm: Ý chỉ một nấm mồ thấp, sát mặt đất.
(9) Thỏ lặn, ác tà: Thỏ đại diện cho Mặt Trăng, ác là con quạ, cùng nghĩa với chữ "ô", chỉ Mặt Trời.
(10) Châu sa: Ý chỉ nước mắt rơi xuống. Sách xưa chép rằng: Xưa có giống người ở giữa biển gọi là Giao nhân – một thứ cá hình người. Giống người này khóc thì nước mắt đọng lại, kết thành hạt ngọc.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2. Chỉ ra một điển tích, điển cố được sử dụng trong văn bản.
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ sau:
Sè sè nấm đất bên đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Câu 4. Nhận xét về hệ thống từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản.
Câu 5. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, Thúy Kiều đã có tâm trạng, cảm xúc gì? Điều này cho thấy Thúy Kiều là người con gái như thế nào?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi nàyBài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (76)Câu 1. (2 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Đạm Tiên trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bàn về lối sống thực dụng của giới trẻ hiện nay.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Đề kiểm tra cuối học kì I - Đề số 3 SVIP
In bài Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (91)(4 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5.
Sè sè nấm đất bên đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Rằng: “Sao trong tiết thanh minh,
Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”
Vương Quan mới dẫn gần xa:
“Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi(1).
Nổi danh tài sắc một thì,
Xôn xao ngoài cửa, hiếm gì yến anh.
Phận hồng nhan có mong manh(2),
Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương(3).
Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
Thuyền tình(4) vừa ghé tới nơi,
Thì đà trâm gãy, bình rơi(5) bao giờ.
Buồng không lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.
Khóc than khôn xiết sự tình,
Khéo vô duyên bấy là mình với ta.
Đã không duyên trước chăng mà,
Thì chi chút ước gọi là duyên sau.
Sắm sanh nếp tử(6) xe châu(7),
Vùi nông một nấm(8), mặc dầu cỏ hoa.
Trải bao thỏ lặn, ác tà(9),
Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm!"
Lòng đâu sẵn mối thương tâm,
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa(10):
"Đau đớn thay, phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung."
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Chú thích:
(1) Ca nhi: Gái hát, cũng như ta nói ả đào.
(2) Phận hồng nhan có mong manh: Ý nói số phận mong manh của người con gái đẹp.
(3) Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương: Ý nói đang giữa tuổi xuân thì người đẹp chết.
(4) Thuyền tình: Người khách viễn phương đến tìm Đạm Tiên.
(5) Trâm gãy, bình rơi: Ý nói người đã chết, lấy ý tứ từ câu thơ Đường: Nhất phiến tình chu phương đáo ngạn / Bình trâm hoa chiết dĩ đa thì (Một lá thuyền tình vừa tới bến / Bình rơi hoa gãy đã từ lâu).
(6) Nếp tử: Áo quan làm bằng gỗ tử.
(7) Xe châu: Linh xa có treo rèm châu, ý nói linh xa lịch sự sang trọng.
(8) Vùi nông một nấm: Ý chỉ một nấm mồ thấp, sát mặt đất.
(9) Thỏ lặn, ác tà: Thỏ đại diện cho Mặt Trăng, ác là con quạ, cùng nghĩa với chữ "ô", chỉ Mặt Trời.
(10) Châu sa: Ý chỉ nước mắt rơi xuống. Sách xưa chép rằng: Xưa có giống người ở giữa biển gọi là Giao nhân – một thứ cá hình người. Giống người này khóc thì nước mắt đọng lại, kết thành hạt ngọc.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2. Chỉ ra một điển tích, điển cố được sử dụng trong văn bản.
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ sau:
Sè sè nấm đất bên đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Câu 4. Nhận xét về hệ thống từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản.
Câu 5. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, Thúy Kiều đã có tâm trạng, cảm xúc gì? Điều này cho thấy Thúy Kiều là người con gái như thế nào?
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi nàyBài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (76)Câu 1. (2 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Đạm Tiên trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bàn về lối sống thực dụng của giới trẻ hiện nay.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi nàyYou said:
Đề kiểm tra cuối học kì I - Đề số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (29)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM)
Đọc đoạn trích sau:
Trích đoạn nằm ở phần 3 của tác phẩm, từ câu 2738 – 2940 (có lược một đoạn)
Kim Trọng tìm Kiều
Nỗi nàng tai nạn đã đầy,
Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.
Từ ngày muôn dặm phù tang,
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.
Vội sang vườn Thuý dò la,
Nhìn phong cảnh cũ, nay đà khác xưa.
Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa,
Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời.
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
Xập xoè én liệng lầu không,
Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.
Cuối tường gai gốc mọc đầy,
Đi về, này những lối này ngày xưa.
Chung quanh lặng ngắt như tờ,
Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?
Láng giềng có kẻ sang chơi,
Lân la sẽ hỏi một hai sự tình.
Hỏi ông, ông mắc tụng đình,
Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha.
Hỏi nhà, nhà đã dời xa,
Hỏi chàng Vương với cùng là Thuý Vân.
Đều là sa sút, khó khăn,
Thuê may, bán viết, kiếm ăn lần hồi.
Điều đâu sét đánh lưng trời,
Thoắt nghe, chàng thoắt rụng rời xiết bao!
Vội han di trú nơi nao,
Đánh đường, chàng mới tìm vào tận nơi.
Nhà tranh, vách đất tả tơi,
Lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa.
Một sân đất cỏ dầm mưa,
Càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn dường!
Đánh liều lên tiếng ngoài tường,
Chàng Vương nghe tiếng, vội vàng chạy ra.
Dắt tay vội rước vào nhà,
Mái sau, viên ngoại ông bà ra ngay.
Khóc than kể hết niềm tây:
“Chàng ôi! Biết nỗi nước này cho chưa?
Kiều nhi phận mỏng như tờ,
Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!
Gặp cơn gia biến lạ dường,
Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.
Dùng dằng khi bước chân ra,
Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.
Trót lời nặng với lang quân,
Mượn con em nó Thuý Vân thay lời.
Gọi là trả chút nghĩa người,
Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên!
Kiếp này duyên đã phụ duyên,
Dạ đài còn biết, sẽ đền lai sinh.
Mấy lời ký chú đinh ninh,
Ghi lòng để dạ, cất mình ra đi.
Phận sao bạc bấy, Kiều nhi!
Chàng Kim về đó, con thì đi đâu?”
Ông bà càng nói càng đau,
Chàng càng nghe nói, càng dàu như dưa.
Vật mình vẫy gió, tuôn mưa,
Dầm dề giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai.
Đau đòi đoạn, ngất đòi thôi,
Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê.
Thấy chàng đau nỗi biệt ly,
Nhận ngừng, ông mới vỗ về giải khuyên:
“Bây giờ ván đã đóng thuyền,
Đã đành phận bạc, khôn đền tình chung!
Quá thương chút nghĩa đèo bòng,
Nghìn vàng thân ấy, dễ hòng bỏ sao?”
Dỗ dành, khuyên giải trăm chiều,
Lửa phiền càng dập, càng khêu mối phiền.
Thề xưa giở đến kim hoàn,
Của xưa lại giở đến đàn với hương.
Sinh càng trông thấy, càng thương,
Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.
Rằng: “Tôi trót quá chân ra,
Để cho đến nỗi trôi hoa, dạt bèo.
Cùng nhau thề thốt đã nhiều,
Những điều vàng đá, phải điều nói không!
Chưa chăn gối, cũng vợ chồng,
Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang?
Bao nhiêu của, mấy ngày đàng,
Còn tôi, tôi gặp mặt nàng mới thôi!”
Nỗi thương nói chẳng hết lời,
Tạ từ, sinh mới sụt sùi trở ra.
[…]
Rắp mong treo ấn từ quan,
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua.
Dấn mình trong áng can qua,
Vào sinh ra tử, hoạ là thấy nhau.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, NXB Văn học, 2022)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Văn bản Kim Trọng tìm Kiều kể về việc gì?
Câu 2. Xác định một số hình ảnh thơ tả thực trong văn bản Kim Trọng tìm Kiều.
Câu 3. Phân tích cảm xúc của Kim Trọng khi chứng kiến khung cảnh nhà Thuý Kiều sau nửa năm gặp lại.
Câu 4. Chỉ ra và phân tích hiệu quả của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ sau:
Sinh càng trông thấy, càng thương
Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.
Câu 5. Tình cảm của Kim Trọng dành cho Thuý Kiều được thể hiện như thế nào? Phân tích một số câu thơ tiêu biểu thể hiện rõ tình cảm ấy.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (25)
II. PHẦN VIẾT (6 ĐIỂM)
Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn văn bản sau thuộc phần Đọc hiểu.
Khóc than kể hết niềm tây:
“Chàng ôi! Biết nỗi nước này cho chưa?
Kiều nhi phận mỏng như tờ,
Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!
Gặp cơn gia biến lạ dường,
Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.
Dùng dằng khi bước chân ra,
Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.
Trót lời nặng với lang quân,
Mượn con em nó Thuý Vân thay lời.
Gọi là trả chút nghĩa người,
Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên!
Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ về những giải pháp nuôi dưỡng tâm hồn con người trong thời đại số.
Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
ChatGPT said:
Dưới đây là đáp án gợi ý đầy đủ – ngắn gọn, đúng trọng tâm cho tất cả các câu hỏi của đề.
BÀI 1. ĐỌC HIỂU (4 điểm)
Câu 1. Văn bản Kim Trọng tìm Kiều kể về việc gì?
Đoạn trích kể về việc Kim Trọng sau khi trở về liền đến tìm Thuý Kiều, phát hiện nàng đã bán mình cứu cha. Chàng chứng kiến cảnh gia đình Kiều sa sút, nghe rõ sự thật đau lòng và đau đớn, quyết tâm lên đường tìm người yêu.
Câu 2. Xác định một số hình ảnh thơ tả thực trong đoạn trích.
Một số hình ảnh tả thực:
- “Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa”
- “Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời”
- “Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày”
- “Nhà tranh, vách đất tả tơi / Lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa”
Các hình ảnh này miêu tả trực tiếp khung cảnh tiêu điều, xơ xác của nhà Kiều.
Câu 3. Phân tích cảm xúc của Kim Trọng khi chứng kiến cảnh nhà Kiều.
Kim Trọng bàng hoàng, đau xót khi thấy cảnh cũ đã thay đổi, nhà cửa hoang tàn. Chàng thất vọng, ngậm ngùi, tràn đầy thương nhớ và lo lắng cho Kiều. Cảnh vật vắng lặng càng khiến nỗi đau trong lòng chàng thêm quặn thắt.
Câu 4. Chỉ ra và phân tích hiệu quả nghệ thuật trong câu thơ:
“Sinh càng trông thấy, càng thương / Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.”
- Biện pháp nghệ thuật: điệp từ “càng… càng”, kết hợp phép đối ý và nghệ thuật tả tâm trạng.
- Hiệu quả: Làm nổi bật sự tăng tiến trong cảm xúc của Kim Trọng: càng nghe và chứng kiến sự thật, tình thương đối với Kiều càng sâu nặng; đồng thời nỗi đau, sự phẫn uất cũng tăng lên. Cặp từ chỉ nội tạng (“gan”, “ruột”) diễn tả nỗi đau đến tận cùng, rất chân thật và mãnh liệt.
Câu 5. Phân tích tình cảm của Kim Trọng dành cho Thuý Kiều qua đoạn trích.
- Chung thuỷ, sâu nặng: Chàng đau đớn “vật mình vẫy gió, tuôn mưa”, “tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê”.
- Xót thương vô hạn: Nghe tin Kiều bán mình, Kim Trọng đau như “sét đánh lưng trời”.
- Quyết tâm tìm Kiều: “Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua / Vào sinh ra tử, hoạ là thấy nhau.”
→ Tình yêu của Kim Trọng vừa tha thiết, vừa bền bỉ, vượt qua mọi ngăn trở.
BÀI 2. VIẾT (6 điểm)
Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật đoạn trích.
Đoạn văn mẫu tham khảo (≈ 200 chữ):
Đoạn trích thể hiện sâu sắc bi kịch của Thuý Kiều đồng thời bộc lộ nỗi đau của gia đình nàng trước mối tình đẹp nhưng dở dang của con gái. Nội dung nổi bật là hoàn cảnh éo le của Kiều: gặp cơn gia biến buộc nàng phải bán mình cứu cha, đành lỗi lời thề với Kim Trọng và nhờ Thuý Vân thay mình trả nghĩa. Lời kể của cha mẹ Kiều chứa đầy nỗi xót xa, bất lực, thể hiện tình thương vô bờ đối với con. Qua đây, Nguyễn Du lên án xã hội phong kiến bất công đã đẩy con người vào bi kịch. Về nghệ thuật, đoạn thơ mang đậm giọng điệu bi ai, xót thương; nhiều từ ngữ gợi cảm như “phận mỏng như tờ”, “cực trăm nghìn nỗi”, “dằng dặc muôn đời” diễn tả nỗi đau triền miên. Nghệ thuật kể chuyện xen tả tình giúp cảm xúc thêm sâu lắng. Giọng điệu nhân đạo, thấu cảm của Nguyễn Du bao phủ toàn bộ đoạn thơ. Tác phẩm khắc họa thành công nỗi đau của Kiều và gia đình, đồng thời bộc lộ tư tưởng nhân đạo cao đẹp của tác giả.
Câu 2. Bài văn nghị luận 400 chữ: Giải pháp nuôi dưỡng tâm hồn con người trong thời đại số.
Bài viết mẫu (≈ 400 chữ):
Trong thời đại số, con người được tiếp xúc với nguồn thông tin vô cùng phong phú nhưng đồng thời phải đối mặt với nguy cơ tâm hồn bị khô cứng trước nhịp sống vội vã. Vì vậy, việc nuôi dưỡng một đời sống tinh thần lành mạnh trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Trước hết, mỗi người cần biết lựa chọn và sử dụng công nghệ một cách tỉnh táo. Thay vì chìm đắm vào mạng xã hội, chúng ta nên hình thành thói quen sử dụng Internet để học hỏi, mở rộng hiểu biết và kết nối tích cực. Bên cạnh đó, đọc sách luôn là một giải pháp bền vững để nuôi dưỡng tâm hồn. Sách giúp con người chiêm nghiệm, sống chậm lại và phát triển khả năng đồng cảm. Một giải pháp khác là giữ gìn các mối quan hệ gia đình – bạn bè; những cuộc trò chuyện trực tiếp luôn mang lại sự ấm áp mà thế giới ảo không thay thế được. Đồng thời, mỗi cá nhân nên dành thời gian cho thiên nhiên và trải nghiệm thực tế, bởi đó là nguồn năng lượng tinh thần mạnh mẽ giúp con người cân bằng. Cuối cùng, nuôi dưỡng đời sống nội tâm qua việc thực hành các thói quen tốt như thiền, viết nhật ký, hoạt động nghệ thuật cũng giúp tâm hồn thêm phong phú. Như vậy, để không bị cuốn trôi trong dòng chảy công nghệ, con người cần chủ động bảo vệ và nuôi dưỡng tâm hồn bằng những giá trị chân thật, nhân văn. Chính sự hài hoà giữa công nghệ và đời sống tinh thần sẽ giúp chúng ta sống trọn vẹn và ý nghĩa hơn trong thời đại số.
Nếu bạn muốn mình viết lại theo dung lượng ngắn – dài hơn, hoặc theo hướng văn phong của học sinh giỏi/khá/trung bình, cứ nói nhé!
