Nguyễn Quỳnh Chi
Giới thiệu về bản thân
Mùa thu luôn là nguồn cảm hứng bất tận của thi ca Việt Nam. Nếu Nguyễn Khuyến có Thu điếu, Xuân Diệu có Đây mùa thu tới thì Hữu Thỉnh lại để lại dấu ấn với Sang thu - một bài thơ ngắn gọn mà tinh tế, sâu lắng. Tác phẩm không chỉ vẽ nên bức tranh thiên nhiên lúc giao mùa hạ - thu mà còn chất chứa những chiêm nghiệm sâu sắc về con người và cuộc đời. Hữu Thỉnh tên thật là Nguyễn Hữu Thỉnh, sinh năm 1942 tại huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, từng là lính xe tăng và tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường. Thơ Hữu Thỉnh giản dị, giàu cảm xúc, thường viết về con người, cuộc sống nông thôn và những rung động tinh tế trước thiên nhiên. Ông từng giữ chức Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Bài thơ _Sang thu_ được sáng tác cuối năm 1977, sau này in trong tập _Từ chiến hào đến thành phố_ năm 1991. Bài thơ ra đời trong một buổi sáng ở ngoại ô Hà Nội, khi đất nước vừa đi qua chiến tranh. Giữa khung cảnh thanh bình, nhà thơ chợt nhận ra những tín hiệu mong manh đầu tiên của mùa thu và ghi lại bằng cảm xúc bâng khuâng. Khổ thơ đầu là những cảm nhận tinh tế về tín hiệu sang thu. Từ “bỗng” mở đầu bài thơ diễn tả sự ngỡ ngàng, bất chợt. Thu về không ồn ào mà đến bằng “hương ổi” chín thơm phả vào trong “gió se” – làn gió heo may khô và lạnh nhẹ đặc trưng. Hình ảnh “sương chùng chình qua ngõ” được nhân hóa rất tài hoa. “Chùng chình” gợi dáng đi chậm rãi, nửa muốn đi nửa muốn ở, như sương còn lưu luyến mùa hạ. Tất cả khiến nhà thơ phải thốt lên một câu mang tính phỏng đoán: “Hình như thu đã về”. Cái “hình như” ấy cho thấy cảm giác mơ hồ, xao xuyến, chưa dám tin vào sự chuyển mình của đất trời. Sang khổ thơ thứ hai, không gian được mở rộng hơn với sông, chim, mây trời. Dòng sông không còn cuồn cuộn mà trở nên “dềnh dàng” – chậm rãi, thong thả như con người đã đi qua những sôi nổi. Trái ngược là cánh chim “bắt đầu vội vã” bay đi tránh rét. Đặc sắc nhất là hình ảnh: “Có đám mây mùa hạ / Vắt nửa mình sang thu”. Câu thơ đã hữu hình hóa ranh giới vô hình của hai mùa. Đám mây mềm mại như một dải lụa “vắt” ngang bầu trời, nửa còn vương hạ, nửa đã nghiêng về thu. Đó là khoảnh khắc giao mùa vừa cụ thể, vừa mơ hồ, đầy chất thơ. Khổ thơ cuối không chỉ tả cảnh mà còn gửi gắm suy tư. “Vẫn còn bao nhiêu nắng / Đã vơi dần cơn mưa” là quy luật của tự nhiên: nắng cuối hạ vẫn còn nồng nhưng mưa đã bớt. Từ đó, nhà thơ chiêm nghiệm: “Sấm cũng bớt bất ngờ / Trên hàng cây đứng tuổi”. “Sấm” là hình ảnh ẩn dụ cho những vang động, những biến cố, sóng gió bất thường của cuộc đời. “Hàng cây đứng tuổi” chỉ những con người từng trải. Khi đã trải qua bao thăng trầm, con người trở nên vững vàng, bình tĩnh hơn, không còn “bất ngờ” trước giông bão. Đây là triết lý sâu sắc Hữu Thỉnh rút ra từ chính cuộc đời người lính của mình.
Thành công của bài thơ đến từ thể thơ năm chữ ngắn gọn, nhịp điệu chậm, lắng sâu. Hình ảnh thơ mộc mạc, dân dã mà giàu sức gợi: hương ổi, gió se, sương, sông, chim, mây, nắng, mưa, sấm. Biện pháp nhân hóa được sử dụng tài tình khiến thiên nhiên như có linh hồn: sương “chùng chình”, sông “dềnh dàng”, mây “vắt nửa mình”. Giọng thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, từ miêu tả đến biểu cảm, từ cảm nhận đến suy tư triết lý. Sang thu là một nốt nhạc trong trẻo, ngân vang trong bản hòa ca thơ thu của dân tộc. Bằng tâm hồn nhạy cảm và ngòi bút tài hoa, Hữu Thỉnh đã nắm bắt cái khoảnh khắc mong manh của đất trời để rồi từ đó nói lên quy luật của đời người. Bài thơ khiến ta thêm yêu thiên nhiên, biết sống chậm lại để cảm nhận những chuyển biến tinh tế của tạo vật, và thêm trân trọng sự bình thản, vững vàng của con người khi đã đi qua giông bão cuộc đời.
Qua nhân vật Tư, ta thấy hoàn cảnh sống có tác động ghê gớm: nó có thể đày đọa thể xác, làm tổn thương tinh thần, đẩy con người vào bi kịch. Đặc biệt, sự bất công, lạnh lùng của xã hội phong kiến và tình thân đã khiến những đứa con vợ lẽ như Tư phải chịu nhiều cay đắng. Song, tác phẩm cũng cho thấy bản chất lương thiện của con người không dễ bị hoàn cảnh xóa bỏ. Tình thương mẹ, lòng biết ơn bạn bè và chút tự trọng còn sót lại trong Tư là minh chứng cho điều đó. Từ đó, văn bản gợi lên niềm xót thương cho những số phận nhỏ bé và sự trân trọng tình người trong cảnh khốn cùng. Đồng thời nhắc nhở mỗi chúng ta cần có cái nhìn cảm thông với người khác và phải luôn nỗ lực vươn lên để không bị hoàn cảnh khuất phục.
Ý Nghĩa:
1. "Lỉnh" Là động từ, chỉ hành động lẩn tránh thật nhanh, chuồn đi nơi khác để trốn tránh việc gì đó
2. "Cáu ghét" Là tính từ, chỉ trạng thái vừa bực tức, khó chịu, vừa có cảm giác ghét bỏ, không ưa. Thường dùng để diễn tả thái độ của trẻ con hoặc khi nói về việc gì đó làm mình khó chịu. 3. "Nhớn nhác" Là tính từ láy, tả dáng vẻ ngơ ngác, láo liên, nhìn dáo dác hết chỗ này đến chỗ khác vì sợ sệt, lạ lẫm hoặc đang tìm kiếm, chờ đợi ai.
Trong bài đọc cảnh ngày hè, các từ “đùn đùn”, “giương”, “phun” có tác dụng: 1. "đùn đùn" – từ láy tượng hình gợi tả tán hoè lớp lớp, liên tiếp nở bung ra, chồng lên nhau rất dày, sum suê.
2. "giương" – động từ mạnh, gợi hình ảnh tán hoè xoè rộng, vươn cao như chiếc ô, chiếc lọng đang căng ra che rợp cả khoảng sân.
3. "phun" – động từ mạnh, gợi tả sắc đỏ của hoa lựu nở bung, tuôn trào, tràn đầy sức sống như có sinh khí đang phun ra. Tác dụng chung: Cả ba từ đều là động từ, từ láy giàu sức gợi hình, gợi cảm. Chúng khắc hoạ bức tranh thiên nhiên mùa hè căng tràn sức sống, khỏe khoắn, đang ở độ sung mãn nhất. Cảnh vật không tĩnh mà vận động mạnh mẽ, đầy nội lực. Qua đó thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, tinh thần lạc quan và sức sống dồi dào của Nguyễn Trãi. => Làm cho bức tranh ngày hè hiện lên sinh động, rực rỡ, có hồn và tràn đầy sức sống.
Qua Bài Đọc cảnh ngày hè,vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi được thể hiện: 1. Yêu thiên nhiên, yêu sự sống: Tinh tế cảm nhận vẻ đẹp rực rỡ, tràn đầy sức sống của mùa hè qua từng màu sắc, âm thanh, hương vị. Tâm hồn giao hòa với tạo vật.
2. Tấm lòng ưu ái với dân, với nước: Dù đang trong cảnh nhàn nhã "hóng mát", ông vẫn đau đáu ước mong "Dân giàu đủ khắp đòi phương". Lấy niềm vui của dân làm niềm vui của mình.
3. Phong thái ung dung, lạc quan: Giữa thiên nhiên căng tràn, ông giữ cốt cách thanh cao của một kẻ sĩ, vẫn nặng lòng vì nước vì dân. => Tâm hồn Nguyễn Trãi là sự kết hợp giữa chất nghệ sĩ tinh tế và nhân cách lớn của một nhà tư tưởng, nhà chính trị luôn lo cho dân cho nước.
Tuổi thơ ai cũng có một miền ký ức để thương, để nhớ. Với Tế Hanh, miền ký ức ấy chính là làng chài ven biển Quảng Ngãi, nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn ông. Bài thơ _Quê hương_ được sáng tác năm 1939 khi nhà thơ mới 18 tuổi, đang học xa nhà. Bằng tình yêu sâu nặng và nỗi nhớ da diết, Tế Hanh đã vẽ nên một bức tranh quê hương lao động khoẻ khoắn, tươi sáng và đầy chất thơ. Đó là một trong những bài thơ hay nhất viết về đề tài quê hương trong phong trào Thơ mới.
Bài thơ mở đầu bằng lời giới thiệu mộc mạc mà đầy tự hào về làng chài của mình: “Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới: / Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông”. Câu thơ như một lời kể chân thành, cho thấy vị trí gắn bó máu thịt với sông nước, biển cả.
Cảnh đoàn thuyền ra khơi được Tế Hanh miêu tả vừa khỏe khoắn vừa lãng mạn. Trong buổi “sớm mai hồng”, khi “trời trong, gió nhẹ”, những người “trai tráng” cường tráng bơi thuyền đi đánh cá. Hình ảnh con thuyền hiện lên dũng mãnh qua phép so sánh “Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã” cùng các động từ mạnh “hăng, phăng, vượt”. Đặc sắc nhất là hình ảnh “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng / Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…”. Nhà thơ đã lấy cái vô hình là “hồn làng” để cụ thể hóa cho cánh buồm, khiến nó không còn là vật vô tri mà mang khát vọng, linh hồn của cả quê hương. Động từ “rướn” gợi tư thế chủ động, kiêu hãnh vươn ra biển lớn. Nếu cảnh ra khơi hăm hở, mạnh mẽ thì cảnh đoàn thuyền trở về lại tấp nập, ấm no. Bến đỗ “ồn ào” đón ghe về với “cá đầy ghe”, “cá tươi ngon thân bạc trắng”. Lời cảm tạ “Nhờ ơn trời biển lặng” thể hiện tấm lòng chất phác của ngư dân. Vẻ đẹp của người lao động hiện lên qua “làn da ngăm rám nắng”, qua “thân hình nồng thở vị xa xăm” mặn mòi của biển. Tế Hanh còn nhân hóa con thuyền: “Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm / Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”. Con thuyền cũng như con người, biết “mỏi” sau chuyến đi dài, đang lặng im nghỉ ngơi. Chi tiết này cho thấy sự thấu hiểu và gắn bó sâu sắc của nhà thơ với quê hương. Khổ cuối là tiếng lòng trực tiếp, da diết của người con xa xứ: “Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ”. Nỗi nhớ hiện lên rất cụ thể qua “Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi, / Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi”. Đặc biệt nhất là câu thơ “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!”. “Mùi nồng mặn” là mùi của biển, của cá, của mồ hôi, là mùi vị riêng của quê hương đã thấm vào máu thịt, thành nỗi nhớ không thể nào quên. Với thể thơ tám chữ phóng khoáng, hình ảnh thơ tươi sáng, giàu sức gợi cùng các biện pháp so sánh, nhân hóa đặc sắc, Tế Hanh đã dựng lên một bức tranh quê hương lao động vừa khỏe khoắn vừa thơ mộng. _Quê hương_ không chỉ là bài ca về vẻ đẹp của làng chài mà còn là tiếng lòng yêu thương, nhớ nhung tha thiết của một người con xa quê. Đọc bài thơ, mỗi chúng ta càng thêm yêu và tự hào về quê hương mình, dù đó chỉ là một làng chài nhỏ bé ven biển miền Trung.
Trong bài đọcđọc ảnh ngày hè, các từ “đùn đùn”, “giương”, “phun” có tác dụng: 1. "đùn đùn" – từ láy tượng hình gợi tả tán hoè lớp lớp, liên tiếp nở bung ra, chồng lên nhau rất dày, sum suê. 2. "giương" – động từ mạnh, gợi hình ảnh tán hoè xoè rộng, vươn cao như chiếc ô, chiếc lọng đang căng ra che rợp cả khoảng sân. 3. "phun" – động từ mạnh, gợi tả sắc đỏ của hoa lựu nở bung, tuôn trào, tràn đầy sức sống như có sinh khí đang phun ra. Tác dụng chung: Cả ba từ đều là động từ, từ láy giàu sức gợi hình, gợi cảm. Chúng khắc hoạ bức tranh thiên nhiên mùa hè căng tràn sức sống, khỏe khoắn, đang ở độ sung mãn nhất. Cảnh vật không tĩnh mà vận động mạnh mẽ, đầy nội lực. Qua đó thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, tinh thần lạc quan và sức sống dồi dào của Nguyễn Trãi. => Làm cho bức tranh ngày hè hiện lên sinh động, rực rỡ, có hồn và tràn đầy sức sống.
Qua BàiBài Đọc cảnh ngày hè, vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi được thể hiện: 1. Yêu thiên nhiên, yêu sự sống: Tinh tế cảm nhận vẻ đẹp rực rỡ, tràn đầy sức sống của mùa hè qua từng màu sắc, âm thanh, hương vị. Tâm hồn giao hòa với tạo vật. 2. Tấm lòng ưu ái với dân, với nước: Dù đang trong cảnh nhàn nhã "hóng mát", ông vẫn đau đáu ước mong "Dân giàu đủ khắp đòi phương". Lấy niềm vui của dân làm niềm vui của mình. 3. Phong thái ung dung, lạc quan: Giữa thiên nhiên căng tràn, ông giữ cốt cách thanh cao của một kẻ sĩ, vẫn nặng lòng vì nước vì dân. => Tâm hồn Nguyễn Trãi là sự kết hợp giữa chất nghệ sĩ tinh tế và nhân cách lớn của một nhà tư tưởng, nhà chính trị luôn lo cho dân cho nước.
Trong bài _Cảnh ngày hè_, các từ “đùn đùn”, “giương”, “phun” có tác dụng: 1. "đùn đùn" – từ láy tượng hình gợi tả tán hoè lớp lớp, liên tiếp nở bung ra, chồng lên nhau rất dày, sum suê. 2. "giương" – động từ mạnh, gợi hình ảnh tán hoè xoè rộng, vươn cao như chiếc ô, chiếc lọng đang căng ra che rợp cả khoảng sân. 3. "phun" – động từ mạnh, gợi tả sắc đỏ của hoa lựu nở bung, tuôn trào, tràn đầy sức sống như có sinh khí đang phun ra. Tác dụng chung: Cả ba từ đều là động từ, từ láy giàu sức gợi hình, gợi cảm. Chúng khắc hoạ bức tranh thiên nhiên mùa hè căng tràn sức sống, khỏe khoắn, đang ở độ sung mãn nhất. Cảnh vật không tĩnh mà vận động mạnh mẽ, đầy nội lực. Qua đó thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, tinh thần lạc quan và sức sống dồi dào của Nguyễn Trãi. => Làm cho bức tranh ngày hè hiện lên sinh động, rực rỡ, có hồn và tràn đầy sức sống.
Tố Hữu được mệnh danh là “lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam”. Thơ ông luôn song hành cùng những chặng đường lịch sử dân tộc, là tiếng nói của lẽ sống lớn, tình cảm lớn. Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954 đã đi vào lịch sử như một bản anh hùng ca “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc thắng lợi chín năm kháng chiến chống Pháp. Hòa trong niềm vui chung của cả dân tộc, Tố Hữu đã viết bài “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” như một khúc tráng ca để ngợi ca, tôn vinh những người làm nên kỳ tích ấy. Đoạn trích từ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên… đến …lên chiến trường tiếp viện” là phần đặc sắc nhất của bài thơ, đã dựng lên tượng đài bi tráng mà hào hùng về anh bộ đội Cụ Hồ. Mở đầu đoạn thơ là tiếng reo vui không thể kìm nén: “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên / Chiến sĩ anh hùng”. Hai câu thơ ngắn, nhịp điệu nhanh và dồn dập, điệp từ “chiến sĩ” vang lên như một lời tung hô trang trọng. Từ cảm thán “hoan hô” được đặt ở đầu câu tạo nên không khí náo nức, thể hiện niềm tự hào và biết ơn sâu sắc của nhà thơ, cũng là của cả dân tộc đối với những người lính. Cách gọi “chiến sĩ Điện Biên” đã nâng hình ảnh người lính từ một cá nhân cụ thể thành biểu tượng chung cho cả một tập thể anh hùng. Đi vào những câu tiếp theo, Tố Hữu đã tái hiện lại hiện thực chiến trường vô cùng khốc liệt để làm nổi bật lên vẻ đẹp của ý chí và nghị lực. Hình ảnh “đầu nung lửa sắt” là một cách nói khoa trương, ca ngợi ý chí thép, bản lĩnh kiên cường của người lính trước bom đạn quân thù. “Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt / Máu trộn bùn non” là những câu thơ đã vẽ lại cả một chiến dịch trường kỳ, gian khổ. Chuỗi động từ mạnh như “khoét núi, ngủ hầm” cùng với những hình ảnh chân thực “mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non” cho thấy điều kiện sống và chiến đấu cực kỳ thiếu thốn, hiểm nguy. Thế nhưng, trên nền hiện thực khắc nghiệt đó, chân lý đã được khẳng định một cách đanh thép: “Gan không núng / Chí không mòn!”. Câu thơ được ngắt làm hai vế ngắn, sử dụng dấu chấm than như một lời thề, một lời tuyên ngôn về tinh thần không gì khuất phục được của quân đội ta. Cảm xúc của bài thơ được đẩy lên đến cao trào khi tác giả nhắc đến sự hy sinh anh dũng của những người đồng chí: “Những đồng chí thân chôn làm giá súng / Đầu bịt lỗ châu mai / Băng mình qua núi thép gai / Ào ào vũ bão, / Những đồng chí chèn lưng cứu pháo / Nát thân, nhắm mắt, còn ôm…”. Đây chính là những hình ảnh về các anh hùng Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo đã đi vào lịch sử. Tố Hữu không gọi tên riêng của từng người mà dùng cụm từ “những đồng chí” để khái quát hóa, biến sự hy sinh của cá nhân thành phẩm chất cao đẹp của cả một đoàn quân. Nhịp thơ ở đoạn này trở nên nhanh và dồn dập hơn, từ láy “ào ào” đã gợi tả được khí thế tiến công như vũ bão của quân ta. Đặc biệt, câu thơ “Nát thân, nhắm mắt, còn ôm…” được bỏ lửng với dấu ba chấm đã tạo ra một khoảng lặng đầy ám ảnh. Nó cho thấy người chiến sĩ dù đã hy sinh, thân thể không còn nguyên vẹn nhưng đến giây phút cuối cùng vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Đó chính là biểu hiện cao đẹp nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vẻ đẹp của sự bi tráng. Khép lại đoạn trích, Tố Hữu khẳng định sức mạnh của tập thể và niềm tin tất thắng: “Những bàn tay xẻ núi lăn bom / Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện”. Hình ảnh “bàn tay xẻ núi lăn bom” vừa mang tính hiện thực, vừa mang tính lãng mạn, cho thấy sức mạnh của con người có thể chiến thắng cả thiên nhiên và bom đạn của kẻ thù. Trạng từ “Nhất định” được đặt ở đầu câu vang lên như một lời thề, một sự khẳng định chắc chắn cho quyết tâm sắt đá và niềm tin vào ngày toàn thắng của dân tộc. Thành công của đoạn thơ không chỉ ở nội dung mà còn ở nghệ thuật đặc sắc. Tố Hữu đã sử dụng thể thơ tự do với những câu thơ dài ngắn linh hoạt, tạo nên một nhịp điệu khi sôi nổi hào hùng, khi lại trầm lắng xót xa. Các biện pháp nghệ thuật như điệp ngữ “Những đồng chí”, phép liệt kê, khoa trương cùng với giọng điệu sử thi đã góp phần tạc nên bức chân dung tập thể người lính Điện Biên vừa chân thực, vừa lớn lao, kỳ vĩ. Tóm lại, đoạn trích “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” là một khúc tráng ca bất hủ về người lính. Qua ngòi bút đầy cảm xúc và tài hoa, Tố Hữu không chỉ giúp người đọc thấy được một chiến thắng vĩ đại của lịch sử, mà quan trọng hơn, ông đã lý giải được cội nguồn làm nên chiến thắng ấy. Đó chính là máu, là mồ hôi, là sự hy sinh anh dũng và ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của những con người bình dị mà vĩ đại. Âm hưởng ngợi ca của bài thơ cho đến hôm nay vẫn còn ngân vang, trở thành lời nhắc nhở thế hệ trẻ phải luôn sống xứng đáng với sự hy sinh của cha ông đi trước.