Nguyễn Thị Mai Phương

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Mai Phương
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

hãy như phần trên, đéo có phần giải thích

Cho hàm số y=(1−m)x2. Giao điểm của đồ thị hàm số và đường thẳng y=−x+3 có tung độ bằng 2. Thay y=2 vào phương trình đường thẳng y=−x+3: 2=−x+3⟹x=1 Vậy, giao điểm có tọa độ (1,2).

Điểm (1,2) thuộc đồ thị hàm số y=(1−m)x2, nên ta thay tọa độ điểm này vào phương trình hàm số: 2=(1−m)(1)2 2=1−m m=1−2 m=−1

Vậy, m=−1.

Gọi số người mà thành phố Gia Nghĩa xét nghiệm mỗi giờ theo kế hoạch là x (người). Tổng số người cần xét nghiệm là 10.000 người. Thời gian dự kiến để hoàn thành kế hoạch là x10000​ (giờ).

Thực tế, mỗi giờ xét nghiệm thêm được 50 người, nên số người xét nghiệm thực tế mỗi giờ là x+50 (người). Thời gian thực tế để hoàn thành là x+5010000​ (giờ).

Việc xét nghiệm hoàn thành sớm hơn kế hoạch 1 giờ, nên ta có phương trình: x10000​−x+5010000​=1

Quy đồng mẫu số và giải phương trình: x(x+50)10000(x+50)−10000x​=1 x2+50x10000x+500000−10000x​=1 x2+50x500000​=1 x2+50x=500000 x2+50x−500000=0

Sử dụng công thức nghiệm của phương trình bậc hai: x=2a−b±b2−4ac​​ x=2(1)−50±502−4(1)(−500000)​​ x=2−50±2500+2000000​​ x=2−50±2002500​​ x=2−50±1415.1​

Vì số người không thể là số âm, ta chọn nghiệm dương: x=2−50+1415.1​=21365.1​≈682.55 (người).

Đây là kết quả khi sử dụng số liệu 10.000 người. Tuy nhiên, theo đề bài, số người là 1.000.000 người. Vậy, ta sẽ giải lại bài toán với số liệu đúng:

Gọi số người mà thành phố Gia Nghĩa xét nghiệm mỗi giờ theo kế hoạch là x (người). Tổng số người cần xét nghiệm là 1.000.000 người. Thời gian dự kiến để hoàn thành kế hoạch là x1000000​ (giờ).

Thực tế, mỗi giờ xét nghiệm thêm được 50 người, nên số người xét nghiệm thực tế mỗi giờ là x+50 (người). Thời gian thực tế để hoàn thành là x+501000000​ (giờ).

Vì việc xét nghiệm hoàn thành sớm hơn kế hoạch 1 giờ, ta có phương trình: x1000000​−x+501000000​=1

Quy đồng mẫu số và giải phương trình: x(x+50)1000000(x+50)−1000000x​=1 x2+50x1000000x+50000000−1000000x​=1 x2+50x50000000​=1 x2+50x=50000000 x2+50x−50000000=0

Sử dụng công thức nghiệm của phương trình bậc hai: x=2a−b±b2−4ac​​ x=2(1)−50±502−4(1)(−50000000)​​ x=2−50±2500+200000000​​ x=2−50±200002500​​ x=2−50±14142.135...​

Vì số người không thể là số âm, ta chọn nghiệm dương: x=2−50+14142.135...​=214092.135...​≈7046 (người)

Đáp số: Theo kế hoạch, mỗi giờ thành phố Gia Nghĩa xét nghiệm được khoảng 7046 người.

Gọi số bộ quần áo phân xưởng phải may mỗi ngày theo kế hoạch là x (bộ). Thời gian quy định để hoàn thành kế hoạch là x900​ (ngày).

Thực tế, mỗi ngày phân xưởng may thêm 10 bộ, nên số bộ quần áo may được mỗi ngày là x+10 (bộ). Thời gian thực tế để hoàn thành kế hoạch là x+10900​ (ngày).

Phân xưởng hoàn thành kế hoạch trước 3 ngày, nên ta có phương trình: x900​−x+10900​=3

Quy đồng mẫu số, ta được: x(x+10)900(x+10)−900x​=3 x2+10x900x+9000−900x​=3 x2+10x9000​=3 9000=3(x2+10x) 3000=x2+10x x2+10x−3000=0

Sử dụng công thức nghiệm của phương trình bậc hai: x=2a−b±b2−4ac​​ x=2(1)−10±102−4(1)(−3000)​​ x=2−10±100+12000​​ x=2−10±12100​​ x=2−10±110​

Vì số bộ quần áo không thể là số âm, ta chọn nghiệm dương: x=2−10+110​=2100​=50 (bộ).

Vậy, theo kế hoạch, mỗi ngày phân xưởng phải may 50 bộ quần áo.

Gọi vận tốc của xe máy là v (km/h). Vận tốc của ô tô là v+9 (km/h). Quãng đường từ Cao Bằng đến Bảo Lạc là 135 km.

Thời gian xe máy đi hết quãng đường là: txe maˊy​=v135​ (giờ). Thời gian ô tô đi hết quãng đường là: to^ to^​=v+9135​ (giờ).

Ô tô đến Bảo Lạc trước xe máy 45 phút, tức là thời gian ô tô đi ít hơn thời gian xe máy đi 45 phút. Ta có phương trình: txe maˊy​−to^ to^​=45 phút. Đổi 45 phút ra giờ: 45 phút =6045​ giờ =43​ giờ.

v135​−v+9135​=43​ v(v+9)135(v+9)−135v​=43​ v(v+9)135v+1215−135v​=43​ v2+9v1215​=43​

3(v2+9v)=1215×4 3v2+27v=4860 3v2+27v−4860=0

Chia cả hai vế cho 3: v2+9v−1620=0

Sử dụng công thức nghiệm của phương trình bậc hai: v=2a−b±b2−4ac​​ v=2×1−9±92−4×1×(−1620)​​ v=2−9±81+6480​​ v=2−9±6561​​ v=2−9±81​

Vì vận tốc không thể là số âm, ta chọn nghiệm dương: v=2−9+81​=272​=36 (km/h).

Vậy, vận tốc của xe máy là 36 km/h. Vận tốc của ô tô là 36+9=45 (km/h).

Đáp số: Vận tốc xe máy: 36 km/h Vận tốc ô tô: 45 km/h

Gọi vận tốc dự định của ô tô là v (km/h) và thời gian dự định là t (giờ). Theo đề bài, quãng đường AB dài 100 km, ta có phương trình: v×t=100 (1)

Trên thực tế, ô tô đi với vận tốc chậm hơn dự định 10 km/h, tức là vận tốc thực tế là v−10 (km/h). Thời gian đến B chậm hơn dự định 30 phút, tức là thời gian thực tế là t+0.5 (giờ). (Vì 30 phút = 0.5 giờ) Ta có phương trình: (v−10)×(t+0.5)=100 (2)

Từ (1), ta rút ra t=v100​. Thay vào (2), ta được: (v−10)×(v100​+0.5)=100 100+0.5v−v1000​−5=100 0.5v−v1000​−5=0

Nhân cả hai vế với v để khử mẫu: 0.5v2−1000−5v=0 0.5v2−5v−1000=0

Nhân cả hai vế với 2 để đơn giản hóa: v2−10v−2000=0

Sử dụng công thức nghiệm của phương trình bậc hai: v=2a−b±b2−4ac​​ v=2×110±(−10)2−4×1×(−2000)​​ v=210±100+8000​​ v=210±8100​​ v=210±90​

Vì vận tốc không thể là số âm, ta chọn nghiệm dương: v=210+90​=2100​=50 (km/h).

Vậy, vận tốc dự định của ô tô là 50 km/h. Thời gian dự định của ô tô là: t=v100​=50100​=2 (giờ).

Đáp số: Vận tốc dự định: 50 km/h Thời gian dự định: 2 giờ.

Gọi vận tốc dự định của ô tô là v (km/h) và thời gian dự định là t (giờ). Theo đề bài, quãng đường AB dài 100 km, ta có phương trình: v×t=100 (1)

Trên thực tế, ô tô đi với vận tốc chậm hơn dự định 10 km/h, tức là vận tốc thực tế là v−10 (km/h). Thời gian đến B chậm hơn dự định 30 phút, tức là thời gian thực tế là t+0.5 (giờ). (Vì 30 phút = 0.5 giờ) Ta có phương trình: (v−10)×(t+0.5)=100 (2)

Từ (1), ta rút ra t=v100​. Thay vào (2), ta được: (v−10)×(v100​+0.5)=100 100+0.5v−v1000​−5=100 0.5v−v1000​−5=0

Nhân cả hai vế với v để khử mẫu: 0.5v2−1000−5v=0 0.5v2−5v−1000=0

Nhân cả hai vế với 2 để đơn giản hóa: v2−10v−2000=0

Sử dụng công thức nghiệm của phương trình bậc hai: v=2a−b±b2−4ac​​ v=2×110±(−10)2−4×1×(−2000)​​ v=210±100+8000​​ v=210±8100​​ v=210±90​

Vì vận tốc không thể là số âm, ta chọn nghiệm dương: v=210+90​=2100​=50 (km/h).

Vậy, vận tốc dự định của ô tô là 50 km/h. Thời gian dự định của ô tô là: t=v100​=50100​=2 (giờ).

Đáp số: Vận tốc dự định: 50 km/h Thời gian dự định: 2 giờ.

Gọi chiều rộng của khu vườn hình chữ nhật là w (m). Khi đó, chiều dài của khu vườn là 3w (m). Diện tích toàn bộ khu vườn là: Svườn​=w×3w=3w2 (m2).

Khi làm một lối đi xung quanh vườn rộng 1,5 m, kích thước của phần đất còn lại để trồng trọt sẽ là: Chiều rộng mới: w′=w−2×1.5=w−3 (m). Chiều dài mới: l′=3w−2×1.5=3w−3 (m).

Diện tích phần đất để trồng trọt là: Strọt​=w′×l′=(w−3)(3w−3) (m2). Theo đề bài, diện tích đất còn lại để trồng trọt là 4329 m2. (w−3)(3w−3)=4329 3(w−3)(w−1)=4329 (w−3)(w−1)=34329​ (w−3)(w−1)=1443

Mở ngoặc ra, ta được phương trình bậc hai: w2−w−3w+3=1443 w2−4w+3−1443=0 w2−4w−1440=0

Sử dụng công thức nghiệm của phương trình bậc hai: w=2a−b±b2−4ac​​ w=2×1−(−4)±(−4)2−4×1×(−1440)​​ w=24±16+5760​​ w=24±5776​​ w=24±76​

Vì w là chiều rộng nên w>0, ta chọn nghiệm dương: w=24+76​=280​=40 (m).

Chiều rộng của khu vườn là 40 m. Chiều dài của khu vườn là 3×40=120 (m).

Vậy, kích thước của khu vườn là: chiều rộng 40 m và chiều dài 120 m.

Gọi chiều rộng mảnh đất là w (m). Chiều dài mảnh đất là w+7 (m).

Theo định lý Pytago, ta có phương trình: w2+(w+7)2=132 w2+w2+14w+49=169 2w2+14w−120=0 w2+7w−60=0 (w+12)(w−5)=0

Vì w là độ dài nên w>0. Suy ra w−5=0, vậy w=5 (m).

Chiều rộng mảnh đất là 5 m. Chiều dài mảnh đất là 5+7=12 (m).

Diện tích mảnh đất là: S=5×12=60 (m$^2$).

Đáp số: 60 m$^2$.

Bài thơ “Bộ đội về làng” của tác giả Hoàng Trung Thông là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện tình cảm gắn bó giữa người lính và quê hương, đồng thời khắc họa hình ảnh đẹp đẽ của cuộc sống bình dị nơi làng quê Việt Nam. Qua bài thơ, tác giả không chỉ thể hiện niềm vui mừng của người dân khi đón bộ đội trở về mà còn gửi gắm những suy tư sâu sắc về tình yêu quê hương, đất nước.

Chủ đề chính của bài thơ là niềm vui và sự hạnh phúc khi bộ đội trở về sau những tháng ngày xa cách. Mở đầu bài thơ, tác giả đã sử dụng hình ảnh “Các anh về” để nhấn mạnh sự trở về của những người lính. Câu thơ này không chỉ đơn thuần là thông báo mà còn mang theo niềm vui, sự phấn khởi của cả một làng quê. Hình ảnh “Mái ấm nhà vui” và “Tiếng hát câu cười” tạo nên không khí rộn ràng, ấm áp, thể hiện sự đoàn tụ, sum vầy của gia đình và cộng đồng. Điều này cho thấy, bộ đội không chỉ là những người chiến sĩ mà còn là những người con, người cháu trở về với quê hương, mang theo niềm vui và hạnh phúc.

Tác giả cũng khéo léo khắc họa hình ảnh của những người lính trong mắt trẻ em và người lớn. Hình ảnh “Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau” thể hiện sự ngưỡng mộ, yêu mến của thế hệ trẻ đối với những người lính. Điều này không chỉ thể hiện tình cảm gia đình mà còn là sự kết nối giữa các thế hệ, giữa quá khứ và hiện tại. Hình ảnh “Mẹ già bịn rịn áo nâu” gợi lên sự xúc động, thể hiện tình cảm thiêng liêng của người mẹ dành cho con. Sự trở về của bộ đội không chỉ là niềm vui mà còn là sự trân trọng, yêu thương của những người ở lại.

Bên cạnh đó, tác giả cũng không quên nhắc đến hoàn cảnh sống của quê hương. Câu thơ “Làng tôi nghèo / Mái lá nhà tre” thể hiện sự giản dị, mộc mạc của cuộc sống nơi làng quê. Dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhưng tình cảm của người dân dành cho bộ đội vẫn rất lớn lao. Hình ảnh “Nhà lá đơn sơ / Tấm lòng rộng mở” cho thấy sự hiếu khách, lòng mến khách của người dân nơi đây. Họ sẵn sàng chia sẻ những gì mình có, dù là nhỏ bé, với những người lính trở về.

Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ không chỉ nằm ở ngôn ngữ giản dị, gần gũi mà còn ở cách sử dụng hình ảnh và âm thanh. Những hình ảnh cụ thể, sinh động như “nồi cơm nấu dở”, “bát nước chè xanh” không chỉ tạo ra không khí ấm cúng mà còn gợi lên những kỷ niệm đẹp về cuộc sống thường ngày. Âm thanh của “tiếng hát câu cười” và “xôn xao làng bé nhỏ” tạo nên một bản hòa ca của niềm vui, sự đoàn tụ.

Tóm lại, bài thơ “Bộ đội về làng” của Hoàng Trung Thông không chỉ là một tác phẩm thể hiện niềm vui của người dân khi đón bộ đội trở về mà còn là một bức tranh sống động về tình yêu quê hương, đất nước. Qua đó, tác giả đã khéo léo gửi gắm những suy tư về tình cảm gia đình, cộng đồng và những giá trị nhân văn sâu sắc trong cuộc sống. Bài thơ là một minh chứng cho sức mạnh của tình yêu quê hương, lòng biết ơn đối với những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Câu 1: Thông tin chính mà tác giả muốn truyền tải đến qua văn bản này: giải thích hiện tượng bão, nguyên nhân và tác hại của bão.

Câu 2: Sự khác nhau của bão và mắt bão:

– Bão: Không khí bị nhiễu động mạnh, có sức phá hủy lớn.

– Mắt bão: Một vùng có thời tiết đa phần là bình yên, điều này làm cho mắt bão là nơi có gió không lớn, trời quang mây tạnh.

Câu 3:

a) Thành phần biệt lập của câu trên: phụ chú "những mắt bão siêu nhỏ (mắt bão lỗ kim)"

b) Kiểu câu trong câu “Nhắc tới bão là nhắc tới những kí ức đau buồn mà chúng ta phải gánh chịu, những hậu quả đáng tiếc do bão đã gây ra cho chúng ta là cực kì lớn.” là kiểu câu kể (trần thuật)

Câu 4:

– Trong phần Nguyên nhân hình thành bão, tác giả đã triển khai thông tin bằng cách đưa ra nhiều góc nhìn khác nhau trong quá trình lí giải nguyên nhân hình thành bão (nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan).

– Hiệu quả của cách trình bày thông tin:

+ Giúp người đọc nhận thức đầy đủ về những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng bão.

+ Giúp bài viết có tính khách quan, khoa học, thể hiện được nghiên cứu sâu rộng của người viết.

Câu 5:

– Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh mắt bão và thành mắt bão.

– Tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ: Hỗ trợ biểu đạt thông tin trong văn bản, giúp người đọc tiếp nhận thông tin một cách trực quan.

Câu 6:

Với góc nhìn của một người trẻ, để hạn chế những ảnh hưởng nghiêm trọng của bão, chúng ta cần chủ động trang bị kiến thức về phòng chống thiên tai và kỹ năng ứng phó. Thay vì thụ động chờ đợi, hãy tích cực tham gia các buổi tập huấn, diễn tập do địa phương tổ chức để biết cách sơ tán an toàn và bảo vệ tài sản. Đồng thời, mỗi cá nhân nên chung tay bảo vệ môi trường, trồng cây gây rừng để tạo "tấm lá chắn xanh" tự nhiên, giảm thiểu sức tàn phá của gió bão và lũ lụt. Sử dụng thông tin từ các bản tin dự báo thời tiết chính xác, kịp thời là vô cùng quan trọng để chuẩn bị tốt nhất. Cuối cùng, việc nâng cao ý thức cộng đồng, hỗ trợ lẫn nhau trong và sau bão sẽ giúp chúng ta cùng vượt qua khó khăn, giảm thiểu tối đa thiệt hại do hiện tượng tự nhiên tàn khốc này gây ra.