Bùi Hoàng Giang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Bùi Hoàng Giang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

- Tình hình kinh tế:

+ Từ năm 1991 đến nay, nền kinh tế Nhật Bản vẫn chưa thoát trì trệ, xen lẫn giữa suy thoái tăng trưởng yếu ớt.

+ Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn là một trong những tâm kinh tế-tài chính lớn thế giới.

+ Năm 2010, vị thế nền kinh tế lớn thứ hai thế giới xác lập trong hơn bốn thập kỉ của Nhật Bản đã bị Trung Quốc vượt qua.

- Tình hình xã hội:

+ Nhật Bản là quốc gia có chất cuộc sống cao với hệ thống tế, chăm sóc sức khoẻ đảm bảo toàn diện.

+ Nhật Bản vẫn là quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao, đạt hơn 39.000 USD; chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức rất cao, đứng thứ 7 thế giới, tuổi thọ trung bình thuộc nhóm nước cao nhất thế giới (85 tuổi).

- Sự thành lập: Ý tưởng về Cộng đồng ASEAN xuất hiện từ rất sớm, ngay từ năm 1997, khi các nhà lãnh đạo thông qua Tầm nhìn ASEAN 2020. Ngày 31-12-2015, Cộng đồng ASEAN (AC) được thành lập.

- Mục tiêu tổng quát của ASEAN là: xây dựng tổ chức này trở thành một cộng đồng gắn kết về chính trị, liên kết về kinh tế, chia sẻ trách nhiệm xã hội và hợp tác rộng mở với bên ngoài, hoạt động theo luật lệ và hướng tới người dân.

- Để xây dựng Cộng đồng ASEAN, tháng 1-2009, các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN (2009-2015) cùng các kế hoạch triển khai với nhiều biện pháp và hoạt động cụ thể.

- Trụ cột của cộng đồng ASEAN:

+ Cộng đồng chính trị-an ninh (APSC): Tạo dựng môi trường hoà bình và an ninh ở khu vực, nâng hợp tác chính trị-an ninh ASEAN lên tầm cao mới

+ Cộng đồng kinh tế (AEC): Tạo ra một thị trường duy nhất, có sức cạnh tranh cao, phát triển đồng đều và hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu

+ Cộng đồng văn hóa-xã hội (ASCC): Nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy bình đẳng, công bằng, phát triển bền vững, tăng cường ý thức cộng đồng và bản sắc chung

Ý nghĩa:

Sự ra đời của Cộng đồng ASEAN là kết quả hợp tác ASEAN trong gần 50 năm, phản ánh mức độ liên kết của ASEAN ngày càng cao, chặt chẽ hơn và có vai trò quan trọng ở khu vực.

+ Tuy nhiên, Cộng đồng vẫn là sự “thống nhất trong đa dạng” vì vẫn còn sự khác biệt khá lớn giữa các nước thành viên.


a) THẾ MẠNH

Đặc điểm tự nhiên

Ảnh hưởng

- Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng châu thổ lớn nhất nước ta, địa hình thấp, bằng phẳng,.

→ Thuận lợi cho canh tác nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác.

- Đất phù sa sông có diện tích khoảng hơn 1 triệu ha, phân bố dọc sông Tiền, sông Hậu

→ Thích hợp trồng lúa và các loại cây trồng khác.

- Đất phèn có hơn 1,6 triệu ha, tập trung ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mau

→ Cải tạo để trồng lúa, cây ăn quả,...

- Đất mặn gần 1 triệu ha ở khu vực ven biển

→ Phát triển rừng ngập mặn, nuôi trồng thuỷ sản.

- Các loại đất khác ở khu vực biên giới Campuchia và trên các đảo

→ Trồng cây ăn quả và cây công nghiệp nhiệt đới.

- Khí hậu của vùng mang tính chất cận xích đạo

→ Phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới, tạo tiềm năng phát triển điện gió, điện mặt trời.

- Có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch dày đặc, lớn nhất là hệ thống sông Cửu Long với 2 nhánh lớn là sông Tiền và sông Hậu

→ Vai trò quan trọng về thuỷ lợi, giao thông đường sông và phát triển du lịch.

- Vùng có nhiều bãi triều rộng, diện tích mặt nước lớn trong nội địa

→ Phát triển nuôi thuỷ sản nước mặn, nước lợ, nước ngọt.

- Rừng tràm ở An Giang, Cà Mau, Kiên Giang, rừng ngập mặn ven biển các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang

→ Ý nghĩa lớn đối với môi trường, bảo tồn nguồn gen, đồng thời là cơ sở để phát triển du lịch sinh thái.

- Dầu mỏ và khí tự nhiên ở vùng thềm lục địa;

- Vật liệu xây dựng có: đá vôi, đá; sét, cao lanh

- Than bùn ở các khu vực đầm lầy, rừng ngập nước…

→ Phát triển đa dạng các ngành công nghiệp.

- Vùng biển rộng, nhiều đảo, sinh vật biển phong phú

→ Phát triển tổng hợp kinh tế biển.

HẠN CHẾ

- Khí hậu có một mùa khô sâu sắc

→ Thiếu nước ngọt cho các hoạt động kinh tế, cho sinh hoạt…

- Đồng bằng sông Cửu Long là vùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu

→ Gia tăng những hiện tượng thời tiết cực đoan và nước biển dâng

- Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Mê Công, nguồn nước sống phụ thuộc vào việc sử dụng nước của các quốc gia đầu nguồn

→ Khó khăn trong quản lí, sử dụng tổng hợp nguồn nước sống.

b)Các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu:

- Nhóm giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu:

+ Huy động cả hệ thống chính trị tập trung phòng, chống thiên tai do hạn hán, xâm nhập mặn gây ra. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến thông tin liên quan để các cơ quan và nhân dân chủ động bảo đảm nước sinh hoạt, sử dụng nước tiết kiệm, ổn định đời sống, sản xuất trước tác động tiêu cực của El Nino trong thời gian tới.

+ Tăng cường công tác dự báo khí tượng thủy văn, nguồn nước, xâm nhập mặn, phục vụ chỉ đạo, điều hành cấp nước phục vụ sản xuất và bảo đảm đủ nước dân sinh.

 + Xây dựng kế hoạch sử dụng nước hợp lý; ưu tiên cấp nước cho sinh hoạt, nước uống cho gia súc, nước tưới cho cây trồng lâu năm có giá trị kinh tế cao, nuôi trồng thủy sản và các khu công nghiệp; điều chỉnh cơ cấu sản xuất, theo hướng chuyển dịch mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thủy sản để phù hợp với điều kiện nguồn nước, bảo đảm hiệu quả kinh tế và an sinh xã hội; điều tiết nước các hồ chứa thủy điện để bổ sung nước cho hạ du vào những thời kỳ khô hạn, cần cân đối để bảo đảm nhu cầu sử dụng nước.

- Nhóm giải pháp giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu:

+ Chuyển đổi những diện tích lúa ven biển không hiệu quả, thường xuyên bị mặn uy hiếp, sang nuôi trồng thủy sản. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ hợp lý để giảm lượng nước tưới. Trồng rừng và bảo vệ rừng để hạn chế độ bốc hơi, chống xói mòn và giữ nước mặt.

+ Tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học vào ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu toàn diện, tổng thể về biến đổi khí hậu để giảm thiểu, hạn chế những tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu.

+ Có lộ trình, bước đi phù hợp để sớm đổi mới công nghệ sản xuất hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường, sử dụng có hiệu quả tài nguyên; nghiên cứu phát triển và tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến cho ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

+ Hoàn thiện cơ chế, chính sách về thu hút đầu tư và sử dụng thuế, phí sử dụng tài nguyên nước và xả thải nước bẩn bảo đảm công bằng và sử dụng tài nguyên nước có hiệu quả. Tăng cường và đa dạng hóa nguồn lực cho ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

+ Đẩy mạnh hợp tác với các nước có liên quan, các tổ chức và các diễn đàn quốc tế để bảo vệ các nguồn nước xuyên biên giới, tiếp cận công nghệ mới và huy động nguồn lực cho giảm phát thải khí nhà kính.

Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (9/1975) đề ra nhiệm vụ thống nhất đất nước về mặt Nhà nước nhằm đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân, phù hợp với quy luật phát triển cách mạng, và tạo cơ sở pháp lý vững chắc để quản lý tập trung, phát huy sức mạnh tổng hợp đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội sau khi thắng lợi về quân sự.  Thư Viện Pháp Luật +2 Các lý do cụ thể bao gồm:
  • Đã thống nhất về lãnh thổ nhưng chưa thống nhất về bộ máy: Sau ngày 30/4/1975, nước Việt Nam đã thống nhất về địa lý, nhưng vẫn tồn tại hai hình thức tổ chức nhà nước khác nhau (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở miền Nam).
  • Yêu cầu khách quan và cấp thiết: Việc thống nhất về mặt nhà nước là quy luật của cách mạng, là điều kiện tiên quyết để tạo sức mạnh tổng hợp, tập trung quản lý nền kinh tế, chính trị, và văn hóa trên phạm vi cả nước.
  • Nguyện vọng của nhân dân: Nhân dân hai miền có mong muốn cháy bỏng là sớm được sống dưới một mái nhà chung, thống nhất về mặt tổ chức nhà nước để khẳng định chủ quyền toàn vẹn.
  • Tạo cơ sở pháp lý: Đây là bước đi cần thiết để tiến tới bầu cử Quốc hội chung, thành lập Chính phủ thống nhất, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sự phát triển của nước nhà
Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (9/1975) đề ra nhiệm vụ thống nhất đất nước về mặt Nhà nước nhằm đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân, phù hợp với quy luật phát triển cách mạng, và tạo cơ sở pháp lý vững chắc để quản lý tập trung, phát huy sức mạnh tổng hợp đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội sau khi thắng lợi về quân sự.  Thư Viện Pháp Luật +2 Các lý do cụ thể bao gồm:
  • Đã thống nhất về lãnh thổ nhưng chưa thống nhất về bộ máy: Sau ngày 30/4/1975, nước Việt Nam đã thống nhất về địa lý, nhưng vẫn tồn tại hai hình thức tổ chức nhà nước khác nhau (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở miền Nam).
  • Yêu cầu khách quan và cấp thiết: Việc thống nhất về mặt nhà nước là quy luật của cách mạng, là điều kiện tiên quyết để tạo sức mạnh tổng hợp, tập trung quản lý nền kinh tế, chính trị, và văn hóa trên phạm vi cả nước.
  • Nguyện vọng của nhân dân: Nhân dân hai miền có mong muốn cháy bỏng là sớm được sống dưới một mái nhà chung, thống nhất về mặt tổ chức nhà nước để khẳng định chủ quyền toàn vẹn.
  • Tạo cơ sở pháp lý: Đây là bước đi cần thiết để tiến tới bầu cử Quốc hội chung, thành lập Chính phủ thống nhất, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sự phát triển của nước nhà
Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (9/1975) đề ra nhiệm vụ thống nhất đất nước về mặt Nhà nước nhằm đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân, phù hợp với quy luật phát triển cách mạng, và tạo cơ sở pháp lý vững chắc để quản lý tập trung, phát huy sức mạnh tổng hợp đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội sau khi thắng lợi về quân sự.  Thư Viện Pháp Luật +2 Các lý do cụ thể bao gồm:
  • Đã thống nhất về lãnh thổ nhưng chưa thống nhất về bộ máy: Sau ngày 30/4/1975, nước Việt Nam đã thống nhất về địa lý, nhưng vẫn tồn tại hai hình thức tổ chức nhà nước khác nhau (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở miền Nam).
  • Yêu cầu khách quan và cấp thiết: Việc thống nhất về mặt nhà nước là quy luật của cách mạng, là điều kiện tiên quyết để tạo sức mạnh tổng hợp, tập trung quản lý nền kinh tế, chính trị, và văn hóa trên phạm vi cả nước.
  • Nguyện vọng của nhân dân: Nhân dân hai miền có mong muốn cháy bỏng là sớm được sống dưới một mái nhà chung, thống nhất về mặt tổ chức nhà nước để khẳng định chủ quyền toàn vẹn.
  • Tạo cơ sở pháp lý: Đây là bước đi cần thiết để tiến tới bầu cử Quốc hội chung, thành lập Chính phủ thống nhất, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sự phát triển của nước nhà
Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (9/1975) đề ra nhiệm vụ thống nhất đất nước về mặt Nhà nước nhằm đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân, phù hợp với quy luật phát triển cách mạng, và tạo cơ sở pháp lý vững chắc để quản lý tập trung, phát huy sức mạnh tổng hợp đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội sau khi thắng lợi về quân sự.  Thư Viện Pháp Luật +2 Các lý do cụ thể bao gồm:
  • Đã thống nhất về lãnh thổ nhưng chưa thống nhất về bộ máy: Sau ngày 30/4/1975, nước Việt Nam đã thống nhất về địa lý, nhưng vẫn tồn tại hai hình thức tổ chức nhà nước khác nhau (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở miền Nam).
  • Yêu cầu khách quan và cấp thiết: Việc thống nhất về mặt nhà nước là quy luật của cách mạng, là điều kiện tiên quyết để tạo sức mạnh tổng hợp, tập trung quản lý nền kinh tế, chính trị, và văn hóa trên phạm vi cả nước.
  • Nguyện vọng của nhân dân: Nhân dân hai miền có mong muốn cháy bỏng là sớm được sống dưới một mái nhà chung, thống nhất về mặt tổ chức nhà nước để khẳng định chủ quyền toàn vẹn.
  • Tạo cơ sở pháp lý: Đây là bước đi cần thiết để tiến tới bầu cử Quốc hội chung, thành lập Chính phủ thống nhất, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sự phát triển của nước nhà

Câu 1:Bài thơ “Bến đò ngày mưa” của Anh Thơ là một bức tranh quê tĩnh lặng, buồn bã và đầy chất thơ, được khắc họa bằng những hình ảnh chân thực và sinh động. Ngay từ những câu thơ đầu, khung cảnh hiện lên u ám, ướt át với “tre rũ rợi”, “chuối bơ phờ”, dòng sông “dầm mưa” và con thuyền “đậu trơ vơ” – tất cả đều như thấm đẫm nỗi cô quạnh. Không gian ấy càng trở nên lặng lẽ với hình ảnh bến vắng, quán hàng không người, bác lái hút thuốc lặng thinh, bà hàng ho khan trong giá lạnh. Tác giả khéo léo gợi tả nỗi nhọc nhằn của người dân quê khi “thúng đội đầu như đội cả trời mưa”, cho thấy cuộc sống vất vả và lặng thầm của họ. Nhịp thơ chậm rãi, ngôn ngữ giàu hình ảnh, gợi cảm đã làm nổi bật không khí âm u, lạnh lẽo và buồn tẻ của một ngày mưa vùng quê. Qua bài thơ, Anh Thơ không chỉ vẽ nên cảnh vật mà còn gửi gắm nỗi niềm xót xa, thương cảm cho những con người nhỏ bé trong cuộc sống thường nhật nơi thôn dã.

Câu 22:

Quê hương là nơi mỗi con người cất tiếng khóc chào đời, là miền đất đầu tiên nâng bước ta trên hành trình làm người. Trong dòng chảy không ngừng của cuộc sống hiện đại, con người có thể đi rất xa, sống ở nhiều vùng đất khác nhau, nhưng quê hương vẫn luôn hiện diện như một phần máu thịt, âm thầm chi phối suy nghĩ, tình cảm và cách sống của mỗi người. Bởi vậy, vai trò của quê hương đối với cuộc đời con người là vô cùng sâu sắc và bền vững.

Trước hết, quê hương góp phần hình thành nhân cách và đời sống tâm hồn của mỗi cá nhân. Những năm tháng tuổi thơ gắn bó với quê hương để lại dấu ấn lâu dài trong tâm trí con người. Từ cảnh sắc thiên nhiên, nếp sinh hoạt đến những mối quan hệ gia đình, làng xóm, tất cả đều tác động trực tiếp đến cách con người cảm nhận thế giới xung quanh. Chính trong không gian ấy, con người học được những bài học đầu tiên về đạo làm người: biết kính trên nhường dưới, biết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Những giá trị ấy, dù trải qua thời gian và biến động xã hội, vẫn trở thành nền tảng vững chắc cho nhân cách con người.

Không chỉ là nơi nuôi dưỡng tuổi thơ, quê hương còn là điểm tựa tinh thần trong suốt cuộc đời. Khi trưởng thành, con người phải đối diện với nhiều thử thách, cạnh tranh và cả những mất mát không thể tránh khỏi. Trong những khoảnh khắc mệt mỏi hay thất bại, ký ức về quê hương lại trở thành nguồn an ủi lớn lao. Hình ảnh mái nhà đơn sơ, con đường quen thuộc hay bữa cơm gia đình ấm áp giúp con người tìm lại sự bình yên trong tâm hồn. Chính sự gắn bó ấy giúp con người thêm nghị lực để vượt qua khó khăn và tiếp tục vững bước trên con đường đã chọn.

Lãng mạn


Bên cạnh đó, quê hương còn là động lực thúc đẩy con người sống có trách nhiệm và khát vọng cống hiến. Tình yêu quê hương khơi dậy ý thức về nguồn cội, khiến con người không chỉ nghĩ cho riêng mình mà còn hướng đến lợi ích chung. Nhiều người dù đi xa vẫn luôn mong muốn đóng góp trí tuệ, công sức để xây dựng quê hương ngày càng phát triển. Khi mỗi cá nhân biết gắn thành công của bản thân với sự đổi thay tích cực của quê hương, cuộc đời họ trở nên có ý nghĩa hơn, không chỉ đối với bản thân mà còn đối với cộng đồng.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay, vẫn tồn tại những biểu hiện đáng lo ngại khi một số người thờ ơ, vô cảm hoặc coi nhẹ giá trị quê hương. Lối sống thực dụng, chạy theo lợi ích cá nhân khiến họ dễ quên đi cội nguồn đã nuôi dưỡng mình. Đây là thái độ cần được phê phán, bởi sự thiếu gắn bó với quê hương không chỉ làm nghèo nàn đời sống tinh thần mà còn phản ánh sự thiếu hụt về nhân cách và trách nhiệm xã hội.

Có thể khẳng định rằng, quê hương giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc đời mỗi con người. Quê hương là nơi hình thành nhân cách, là điểm tựa tinh thần và là nguồn động lực để con người sống tốt đẹp, có ích hơn. Biết trân trọng quê hương chính là biết trân trọng chính mình, biết giữ gìn cội nguồn để từ đó vững vàng bước tới tương lai.

Câu 1.

Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.


Câu 2.

Đề tài: Cảnh bến đò trong một ngày mưa.


Câu 3.

Biện pháp tu từ điệp từ “mưa” được lặp lại nhiều lần tạo âm hưởng trầm buồn, nhấn mạnh không gian ướt át, lạnh lẽo, góp phần làm nổi bật vẻ vắng vẻ, hiu quạnh của bến đò ngày mưa.


Câu 4.

Bức tranh bến đò ngày mưa được miêu tả qua các hình ảnh: tre rũ rượi, chuối bơ phờ, dòng sông trôi rào rạt, con thuyền đậu trơ vơ, bến vắng, quán hàng không khách, bác lái ghé buồm hút điếu, bà hàng ho sặc sụa, người đi chợ đội mưa… Những hình ảnh ấy gợi cảm giác ảm đạm, lạnh lẽo, buồn vắng nhưng rất chân thực và gần gũi.


Câu 5.

Qua bức tranh bến đò ngày mưa, bài thơ gợi lên tâm trạng buồn man mác, trầm lắng, một nỗi cô đơn, hiu quạnh trước cảnh vật thấm đẫm mưa.