Trần Thiện Dũng
Giới thiệu về bản thân
Câu1 Trong phần Đọc hiểu, hình tượng đất nước hiện lên thật đẹp đẽ và thiêng liêng, không chỉ là một khái niệm địa lý trừu tượng mà còn là biểu tượng của tình yêu, văn hóa, lịch sử và con người Việt Nam. Tác giả đã khắc họa đất nước qua những hình ảnh bình dị, gần gũi, có sức lay động lòng người, như "mũi dọc dừa" hay "màu da vàng như nắng", để thấy được vẻ đẹp mộc mạc, kiên cường và sức sống mãnh liệt của quê hương. Hình ảnh đất nước còn gắn liền với những giá trị nhân văn sâu sắc, tình yêu thương đồng bào, lòng tự hào dân tộc, và sự đoàn kết "trên dưới một lòng chống dịch thoát nguy", cho thấy sức mạnh phi thường của dân tộc Việt Nam khi cùng nhau vượt qua gian khó. Qua đó, đất nước hiện lên như một phần tâm hồn, máu thịt, là cội nguồn, là nơi neo đậu tinh thần, làm dấy lên trong lòng người đọc tình yêu Tổ quốc sâu sắc, niềm tin vào bản sắc dân tộc và niềm hy vọng vào tương lai tươi sáng của đất nước, làm cho hình tượng đất nước trở nên sống động, đầy tự hào và cảm xúc. Câu2 Lịch sử thường được định nghĩa là chuỗi sự kiện đã qua, được ghi chép lại trong sách vở. Nhưng liệu đó có phải là tất cả? Ý kiến "Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử" đã chạm đến cốt lõi của sự kết nối giữa con người và quá khứ, khẳng định rằng cảm xúc chân thật nhất, sâu sắc nhất không nằm ở những con số, ngày tháng, mà ở chính những con người đã sống, đã cống hiến, đã hy sinh để làm nên dòng chảy lịch sử ấy. Thật vậy, những bài giảng lịch sử, dù được trình bày một cách công phu, đôi khi vẫn có thể trở nên khô khan, xa vời. Các sự kiện, chiến thắng, thất bại có thể trở thành những thông tin đơn thuần nếu chúng ta thiếu đi sự đồng cảm, thiếu đi góc nhìn con người. Chúng ta có thể thuộc lòng ngày Khởi nghĩa, tên các vị tướng, nhưng có thể chưa thực sự cảm nhận được nỗi gian nan, thử thách, hay khát vọng cháy bỏng của những người trong cuộc. Lịch sử trở thành một bức tranh tĩnh lặng, thiếu đi hơi thở, thiếu đi linh hồn. Nhưng khi chúng ta nhìn vào những con người làm nên lịch sử, mọi thứ thay đổi. Xúc động ập đến khi ta nghĩ về Võ Thị Sáu, người nữ anh hùng trẻ tuổi với câu nói bất hủ trước khi hy sinh, về chị Võ Thị Sáu, người thanh niên dũng cảm, về những người lính Cảm Tử Hà Nội, hy sinh thân mình để bảo vệ từng tấc đất quê hương. Xúc động trào dâng khi ta hình dung công lao của các bậc vĩ nhân như Bác Hồ, những người đã dành trọn đời mình cho độc lập dân tộc. Những câu chuyện về lòng dũng cảm, sự hy sinh thầm lặng, ý chí kiên cường, tình yêu nước nồng nàn của họ đã biến những trang sách thành những thước phim sống động, khắc sâu vào tâm khảm mỗi người. Những con người ấy chính là linh hồn của lịch sử. Họ không chỉ là nhân chứng mà còn là nhân vật chính, là tác giả tạo nên những chương vàng son, bi tráng của dân tộc. Họ mang trong mình những khát vọng, nỗi đau, niềm tin và hành động cụ thể, giúp chúng ta hiểu rằng lịch sử không phải là thứ gì đó xa vời, mà là sự tiếp nối của những giá trị nhân văn, là tấm gương để thế hệ hôm nay soi chiếu và học tập. Hơn nữa, việc tập trung vào con người làm nên lịch sử giúp chúng ta nhận ra trách nhiệm của mình. Khi hiểu được sự hy sinh và cống hiến của lớp cha ông, chúng ta cảm thấy có trách nhiệm phải gìn giữ, phát huy những giá trị ấy, phải sống sao cho xứng đáng với những gì họ đã cống hiến. Lòng yêu nước không chỉ là lý thuyết suông mà được chuyển hóa thành hành động cụ thể: học tập, lao động, cống hiến, bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta không chỉ biết về lịch sử mà còn sống và làm cho lịch sử tiếp tục được viết nên bởi thế hệ mình. Để lịch sử không còn là những bài giảng đơn thuần, chúng ta cần những phương pháp giáo dục sâu sắc hơn: những câu chuyện kể, những thước phim tài liệu, những chuyến thăm di tích, những hoạt động thực tế. Chúng ta cần biến những nhân vật lịch sử thành người bạn, người thầy, truyền cảm hứng từ những tấm gương ấy. Tóm lại, ý kiến trên hoàn toàn chính xác. Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử khô khan, mà xúc động trước những con người làm nên lịch sử. Bởi lẽ, chính những con người ấy, với những phẩm chất phi thường, đã thắp lên ngọn lửa của lòng tự hào, truyền cảm hứng và định hướng cho chúng ta sống
Đề tham khảo số 2 Bài GV giao Bài 1 Đọc bài thơ sau: Đất nước Tôi đi như bốc lên trên bụi đường số Một Qua gạch vụn hai bên, người đang tới dựng nhà, Nhịp cầu mới vươn tay kéo nhịp cầu đã sập Cây nham nhở tàn tro vừa kịp nhú nhành hoa... Tôi gặp khắp nơi những bàn tay vun quén Tôi thuộc đến như in những vóc dáng cần cù Đất nước dám hy sinh tất cả dành Kháng chiến Ngày thắng giặc hôm nay, sẽ đủ sức làm bù. Mỗi em bé phút này tung tăng vào lớp Một Đều sinh trong thời có triệu tấn bom rơi, Mỗi cô gái thu này bắt đầu may áo cưới Đều đã đứng lên từ công sự bom vùi! Đâu tiếng ru à ơi qua nghìn làng sơ tán? Đêm thức trắng không đèn, chuyến phà chật mùa mưa? Kỷ niệm vẫn theo ta, diết da và loé sáng, Truyền sức sống hôm qua vào sức sống bây giờ! Những thế hệ chiến tranh sẽ còn nguyên âm hưởng Trong thế hệ hoà bình nối tiếp lớn theo nhau... Gió lại thổi vào thu... Qua tất thảy khổ đau và vui sướng, Vị ngọt vẫn theo ta, từ Tháng Tám ban đầu! (Trích Đất nước, Bằng Việt, Đất sau mưa, NXB Tác phẩm mới, 1977, tr.8) Câu 1: Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của đoạn trích. Câu 2: Đoạn thơ trên thể hiện cảm xúc gì của nhân vật trữ tình? Câu 3: Phân tích ý nghĩa của một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ sau: Mỗi em bé phút này tung tăng vào lớp Một Đều sinh trong thời có triệu tấn bom rơi, Mỗi cô gái thu này bắt đầu may áo cưới Đều đã đứng lên từ công sự bom vùi! Câu 4: Theo em, “vị ngọt” trong câu thơ cuối của đoạn trích là vị của điều gì? Vị ngọt đó có được từ đâu? Câu 5: Từ nội dung của đoạn trích, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về ý nghĩ của lòng yêu nước. Câu1 Thể thơ tự do. Câu2 Bài thơ thể hiện tình yêu nước dâng trào mãnh liệt của nhân vật trữ tình khi chứng kiến đất nước hòa bình, hạnh phúc sau chiến tranh. Câu3 Tác dụng của phép điệp từ "Mỗi" và "Đều" là nhấn mạnh rằng tất cả những người con đất Việt đều đã được sinh ra và lớn lên một cách kiên cường dưới thời chiến tranh bom đạn, đồng thời tăng tính liên kết và tạo nhịp điệu cho đoạn thơ. Câu 4 "Vị ngọt" trong câu thơ cuối của đoạn trích là vị ngọt của một đất nước thanh bình, hạnh phúc, không có chiến tranh. Vị ngọt đó có được từ nỗ lực sống và chiến đấu của tất cả người dân trên mọi miền Tổ quốc. Câu 5 Lòng yêu nước là một tình cảm thiêng liêng, cao quý, là nguồn sức mạnh to lớn giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đặc biệt là trong thời kỳ chiến tranh. Lòng yêu nước được thể hiện qua những hành động cụ thể như nỗ lực học tập, lao động, cống hiến cho sự phát triển của đất nước và bảo vệ nền hòa bình, độc lập dân tộc.
Câu1 Hình ảnh “muối của rừng” trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp gợi lên một ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó không chỉ là loài hoa trắng hiếm hoi, vị mặn, nở ba mươi năm một lần, mà còn là biểu tượng cho sự tinh khiết, bao dung và lòng nhân ái của tự nhiên. Khi ông Diểu tha chết cho con khỉ, rừng liền “kết muối” như phần thưởng cho tấm lòng nhân hậu. “Muối của rừng” chính là phần tinh túy mà thiên nhiên ban tặng cho con người biết sống tử tế, biết yêu thương. Giữa một xã hội đầy toan tính, vị “mặn” của lương tri và tình người càng trở nên quý giá. Con người chỉ thực sự thanh thản khi giữ được cho mình một tâm hồn trong sáng, biết trân trọng sự sống quanh mình. Thông điệp mà Nguyễn Huy Thiệp gửi gắm qua “muối của rừng” là lời nhắc nhở: hãy sống nhân nghĩa, hài hòa với thiên nhiên, vì đó chính là nền tảng của hạnh phúc và bình yên Câu2 Cùng với sự thành công thái quá của con người trong lĩnh vực công nghiệp – dịch vụ, khoa học kĩ thuật thì nó cũng gây áp lực cho vấn đề môi trường của thế giới. Ở Việt Nam, bên cạnh những vấn đề nhức nhối như hiện tượng xả nước thải trực tiếp ra sông suối, khai thác sa khoáng làm ô nhiễm nguồn nước, còn có một hiện tượng phổ biến làm ô nhiễm môi trường, đó là vứt rác bừa bãi. Có những người ngồi bên hồ chỉ là hồ đẹp nổi tiếng, người ta cũng tiện tay vứt rác xuống. Xả rác bừa bãi là thói quen của nhiều người. Trong trường học, nhiều học sinh sau khi ăn quà không để rác vào sọt mà vứt lung tung trên sàn lớp, sân trường. Nhiều túi ni lông, giấy thải bay tứ tung nhìn rất bẩn và khó chịu. Ở một số gia đình, khi có xe đổ rác thì không mang rác ra xe mà khi xe đi qua rồi lại vứt ở góc tường, trước ngõ hay gần nơi họ sống. Một số người đi xe gắn máy, xe buýt, ô tô. Sau khi dùng thứ gì đó thì vứt luôn vỏ đựng xuống lòng đường. Hay một số người ăn kém, uống nước ngọt bên đường sẵn sàng vứt luôn que kem vỏ chai gần nơi họ ngồi. Và còn biết bao người thiếu ý thức bảo vệ môi trường. Họ vứt rác bừa bãi thành thói quen, xả rác bừa bãi nơi công cộng, đường phố. Vậy, nguyên nhân của hành động thiếu văn hóa này xuất phát từ đâu? Khách quan, có thể thấy việc tuyên truyền, giáo dục ý thức cho người dân của các cơ quan chuyên trách đối với việc bảo vệ môi trường chưa thực sự cao. Các qui định xử phạt lại thiếu và chưa thật nghiêm khắc. Về chủ quan, ta thấy rất nhiều người không có ý thức bảo vệ môi trường tiện tay thì vứt, cốt sao sạch nhà mình, còn ngoài đường ra sao thì kệ. Họ đâu ý thức rằng những việc làm tưởng như rất bình thường, đó lại có tác hại lớn thế nào đến môi trường sống của chính họ và những người xung quanh. Vứt rác bừa bãi gây ra hậu quả vô cùng lớn. Hành động này làm xấu cảnh quan thiên nhiên gây mất mĩ quan đường phố. Nguy hại hơn, nó làm cho môi trường sống của chúng ta lại ô nhiễm: Vứt rác ra sông hồ làm ô nhiễm nguồn nước, chôn rác không phân hủy làm ô nhiễm đất, làm ô nhiễm không khí, ô nhiễm tầm nhìn. Gây ảnh hưởng xấu đến các loài sinh vật chứ không kể riêng con người. Sức khỏe của con người suy giảm, dễ mắc các bệnh về hô hấp, về tiêu hóa, ung thư. Các loại sinh vật sống ở biển, hồ sẽ chết vì nuốt phải rác không phân hủy, chết vì nguồn nước quá ô nhiễm gây hoang mang cộng đồng. Bởi vậy, chúng ta phải có những giải pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng này. Ở Sing-ga-po, những người vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng dù là rác rất nhỏ như mẩu thuốc lá hay vỏ kẹo cao su. Cũng bị phạt rất nặng. Đó chính là một kinh nghiệm mà đất nước ta cần học tập. Cần có những hình thức xử phạt thật nghiêm hành động này. Bên cạnh đó, các ban ngành chính quyền, các cơ quan chức năng, đoàn thể. Cần đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho người dân để họ không vứt rác bừa bãi. Mặt khác chúng ta cần tích cực trồng cây xanh, phủ đồi trọc giữa môi trường Xanh – Sạch – Đẹp. Tóm lại, vứt rác bừa bãi là hành vi thể hiện trình độ văn hóa của mỗi người – Để không bị đánh giá là vô văn hóa, giữ gìn vệ sinh trong sạch, chúng ta nên vứt rác đúng chỗ. [Sửa]
Câu1 Giải thích: Luận đề này khái quát nội dung chính, là tiền đề để triển khai các luận điểm làm rõ vẻ đẹp của thiên nhiên và sự thức tỉnh của con người trong tác phẩm. Câu 2 Ông Diểu là một người đàn ông phức tạp, đầy mâu thuẫn, nhưng cũng rất đáng thương". Câu3 Answer: Nội dung và nhan đề có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất. Giải thích: Nhan đề "Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp" khái quát chủ đề, còn nội dung văn bản triển khai các luận điểm (vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp hướng thiện,...) để làm sáng tỏ và cụ thể hóa nhan đề đó. Câu 4 Biện pháp tu từ liệt kê có tác dụng nhấn mạnh sự đối lập giữa vẻ đẹp thiên nhiên và sự can thiệp thô bạo của con người. Giải thích: Việc liệt kê hàng loạt các hình ảnh, âm thanh trong thiên nhiên (chim xanh, gà rừng, khỉ, núi non, hang động, rừng xanh) nhằm làm nổi bật sự đa dạng, hùng vĩ và tĩnh lặng của tự nhiên. Sự đối lập với tiếng súng săn, tiếng kêu buồn thảm, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con làm nổi bật sự tàn phá, đau đớn do con người gây ra. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên và hành động sai trái của mình. Câu 5 Mục đích của người viết là phân tích, làm nổi bật những giá trị nghệ thuật và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm "Muối của rừng". Giải thích: Quan điểm: Người viết có quan điểm đề cao vẻ đẹp của thiên nhiên, sự thức tỉnh lương tri của con người và cái đẹp hướng thiện. Tình cảm: Tác giả thể hiện tình cảm trân trọng đối với thiên nhiên, đồng cảm với những nhân vật biết hướng thiện, và phê phán hành động phá hoại môi trường. Người viết sử dụng các luận điểm, lý lẽ và bằng chứng chặt chẽ từ tác phẩm để thuyết phục người đọc về những giá trị này.
Câu1 Giải thích: Luận đề này khái quát nội dung chính, là tiền đề để triển khai các luận điểm làm rõ vẻ đẹp của thiên nhiên và sự thức tỉnh của con người trong tác phẩm. Câu 2 Ông Diểu là một người đàn ông phức tạp, đầy mâu thuẫn, nhưng cũng rất đáng thương". Câu3 Answer: Nội dung và nhan đề có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất. Giải thích: Nhan đề "Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp" khái quát chủ đề, còn nội dung văn bản triển khai các luận điểm (vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp hướng thiện,...) để làm sáng tỏ và cụ thể hóa nhan đề đó. Câu 4 Biện pháp tu từ liệt kê có tác dụng nhấn mạnh sự đối lập giữa vẻ đẹp thiên nhiên và sự can thiệp thô bạo của con người. Giải thích: Việc liệt kê hàng loạt các hình ảnh, âm thanh trong thiên nhiên (chim xanh, gà rừng, khỉ, núi non, hang động, rừng xanh) nhằm làm nổi bật sự đa dạng, hùng vĩ và tĩnh lặng của tự nhiên. Sự đối lập với tiếng súng săn, tiếng kêu buồn thảm, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con làm nổi bật sự tàn phá, đau đớn do con người gây ra. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên và hành động sai trái của mình. Câu 5 Mục đích của người viết là phân tích, làm nổi bật những giá trị nghệ thuật và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm "Muối của rừng". Giải thích: Quan điểm: Người viết có quan điểm đề cao vẻ đẹp của thiên nhiên, sự thức tỉnh lương tri của con người và cái đẹp hướng thiện. Tình cảm: Tác giả thể hiện tình cảm trân trọng đối với thiên nhiên, đồng cảm với những nhân vật biết hướng thiện, và phê phán hành động phá hoại môi trường. Người viết sử dụng các luận điểm, lý lẽ và bằng chứng chặt chẽ từ tác phẩm để thuyết phục người đọc về những giá trị này.