Lương Thị Hiền
Giới thiệu về bản thân
Bài làm:
"Thứ bảy tuần này, lớp mình sẽ đi tham quan khu di tích lịch sử Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) theo kế hoạch dã ngoại của nhà trường". Khi nghe cô giáo chủ nhiệm thông báo như vậy, cả lớp cùng ồ lên. Theo lời cô, hoạt động này giúp học sinh tìm hiểu thêm về một di tích đặc biệt của thủ đô và bồi dưỡng tình yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc và ý thức trân trọng giá trị truyền thống. Tôi cũng như nhiều bạn không giấu nổi vẻ phấn khích, vì đây là lần đầu tiên được đến thăm khu di tích lịch sử Văn Miếu - Quốc Tử Giám nổi tiếng.
Từ sáng sớm, tất cả các bạn học sinh trong trường đều lần lượt tập trung tại sân trường để điểm danh, nhận băng rôn và nghe thầy cô dặn dò nội quy chuyến đi. 19 chiếc xe khách chở hơn 900 bạn học sinh xuất phát từ sân trường lúc 7 giờ sáng. Phía trước mỗi xe đều có một dải băng rôn màu trắng in dòng chữ màu đỏ "Học sinh trường THCS Thị trấn Nghĩa Đàn tham quan khu di tích lịch sử Văn Miếu - Quốc Tử Giám". Trên xe, cả lớp cùng nghe cô giáo giới thiệu về lộ trình tham quan và tham gia các trò chơi, văn nghệ sôi nổi.
Khi xe đến nơi, học sinh lần lượt xuống xe chỉnh đốn lại trang phục, tập trung theo sự chỉ dẫn của hướng dẫn viên. Đoàn lần lượt di chuyển vào tham quan Khuê Văn Các, vườn bia Tiến sĩ và làm lễ dâng hương tại điện Đại Thành.
Cô hướng dẫn viên cho biết, mốc thời gian khởi công quần thể là vào năm 1070. Văn Miếu - Quốc Tử Giám có năm lớp không gian dọc theo trục thần đạo trung tâm: Khu thứ nhất (từ cổng chính đến cổng Đại Trung); khu thứ hai (từ Đại Trung Môn đến Khuê Văn Các); khu thứ ba (Hồ Thiên Quang và 82 Bia Tiến sĩ); khu thứ tư (cổng Đại Thành và Bài đường); khu thứ năm (Nhà Thái Học). Những gì liên quan đến sự nghiệp giáo dục, y học và chính trị của ông thời nhà Trần cũng hết sức phong phú. Đó là tờ "Thất trảm sớ" - biểu tượng của lòng chính trực; triết lý giáo dục "Học đi đôi với hành", "Không phân biệt giàu nghèo"; tập sách "Y học yếu giải" - cống hiến cho nền y học nước nhà.
Tôi rất thích tập thơ "Tiều ẩn thi tập" - một di sản văn học tinh tế. Quốc Tử Giám đã để lại tập thơ chữ Hán "Tiều ẩn thi tập" (tập thơ của người tiều phu ẩn dật) và một số bài thơ chữ Nôm. Tôi thấy, thơ của ông không mang tính giáo điều, gò bó của Nho giáo, mà tràn ngập tình yêu thiên nhiên, phong cảnh khoáng đạt và ẩn chứa nỗi niềm đau đáu với vận mệnh của đất nước, của nhân dân.
Sau khi tự do chụp ảnh lưu niệm và một số cảnh yêu thích: Những con rùa đá cõng bia, tán cây cổ thụ xù xì, mặt hồ xanh rêu và màu đỏ của lầu gỗ. Chúng tôi lần lượt tham quan và làm lễ dâng hương tại điện Đại Thành. Từng tốp học sinh tự do tham quan khu vườn phía sau, mua quà lưu niệm và xin chữ tại khu vực hồ Văn.
Rời khu di tích, chúng tôi từng tốp lần lượt tập trung chụp ảnh lưu niệm với lớp và trường học trước cổng của khu di tích lịch sử Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Sau đó, cả đoàn tập trung ra xe để trở về trường.
Trên đường về, dường như ai cũng trầm lắng hơn, cảm thấy lắng đọng và tự hào, vừa lưu luyến vì những trải nghiệm đáng nhớ, vừa thêm trân trọng truyền thống hiếu học và giá trị văn hóa của dân tộc. Có bạn xì xào nói chuyện về những ấn tượng sâu sắc của mình về chuyến đi. Có người mở điện thoại xem lại mấy bức ảnh đã chụp những cảnh yêu thích. Tôi cũng mua được một chiếc bút tre mộc mạc. Theo lời cô giáo, về trường, chúng tôi sẽ viết, vẽ về những gì đã để lại ấn tượng sâu sắc nhất qua chuyến tham quan. Vậy thì tôi sẽ dùng chính chiếc bút tre ấy để viết một bài văn chia sẻ những điều mang lại ấn tượng, kỉ niệm đáng nhớ qua chuyến đi, bởi vì Văn Miếu - Quốc Tử Giám là biểu tượng của truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo của dân tộc. Hơn nữa, chuyến tham quan giúp tôi nhận ra cần nỗ lực học tập, rèn luyện đạo đức để kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp ấy.
Bài làm:
Việc giữ niềm hy vọng trước khó khăn của cuộc đời đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của mỗi chúng ta. Bởi hy vọng giúp con người không bị nhấn chìm bởi sự tuyệt vọng, sợ hãi hay bi quan khi đối mặt với nghịch cảnh. Hơn nữa, niềm tin vào tương lai tốt đẹp còn có thể kích thích tư duy tìm kiếm giải pháp, biến áp lực thành động lực để hành động thay vì bỏ cuộc. Hy vọng giúp con người xây dựng một tinh thần, một nghị lực sống vững chắc, trở nên kiên cường hơn, bền bỉ hơn và sẵn sàng đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã để tiếp tục theo đổi mục tiêu. Người có hy vọng luôn nhìn thấy cơ hội trong khó khăn, thấy được "ánh sáng" ở "cuối đường hầm", từ đó duy trì được thái độ sống tích cực. Vì vậy, có thể nói, niềm hy vọng trước khó khăn, thử thách chính là chìa khóa vàng để mở ra cánh cửa hạnh phúc và thành công cho mỗi cuộc đời.
Trong bài thơ, tác giả đã bộc lộ tâm trạng đợm buồn, trầm lắng do nhớ quê nhà. Qua đó, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước sâu đậm của nhân vật trữ tình.
Câu 1:
Bài thơ "cảnh ngày hè" được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật
câu 2:
Hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn câu thơ đầu là "hòe lục đùn đùn", "tán rợp giương", "thạch lựu hiên", "hồng liên trì".
Câu 3:
Tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ được dùng trong câu thơ là:
+ Làm nổi bật sự ồn ào của làng chài lưới, sự inh ỏi của tiếng ve lúc mặt trời sắp lặn.
+ Gợi không khí xôn xao, ồn ào, náo nhiệt.
Câu 4:
Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ sự ao ước, mong muốn có được chiếc đàn của vua Thuấn để đàn một khúc Nam phong và tình cảm thương dân, yêu nước, chỉ cần dân giàu, hạnh phúc và bình an là đủ.
Câu 5:
Chủ đề của bài thơ:
+ Cảnh thiên nhiên ngày hè.
+ Tình yêu nhân dân, đất nước sâu đậm của nhân vật trữ tình.
Em xác định như vậy căn cứ vào hai dòng thơ cuối và nhan đề.
Câu 6:
Bài làm:
Việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của mỗi chúng ta. Bởi nó không chỉ đẩy lùi lối sống vô cảm và xây dựng một tinh thần, một nghị lực sống vững chắc trong mỗi người. Người ta cũng yêu nước, yêu quê hương từ những điều bình dị quanh mình, từ cây thạch lựu ở hiên nhà, cây hòe lục đến tiếng ve kêu râm ran. Ngoài ra, khi biết giữ gìn tinh thần lạc quan, tận hưởng những điều bình dị quanh mình, tâm hồn ta sẽ trở nên nhẹ nhõm, thanh thản hơn và hoàn toàn không phải lo ngại điều gì. Vì vậy, em tự nhủ bản thân phải biết giữ gìn tinh thần lạc quan, ổn định và tận hưởng những điều bình dị xung quanh mình để dễ dàng vượt qua mọi thử thách, nghịch cảnh, để cuộc sống hàng ngày trở nên tốt đẹp, hạnh phúc hơn; học tập, rèn luyện và nuôi dưỡng ước mơ tốt hơn.
Bài làm:
"Thứ bảy tuần này, lớp mình sẽ đi tham quan khu di tích lịch sử Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) theo kế hoạch dã ngoại của nhà trường". Khi nghe cô giáo chủ nhiệm thông báo như vậy, cả lớp cùng ồ lên. Theo lời cô, hoạt động này giúp học sinh tìm hiểu thêm về một di tích đặc biệt của thủ đô và bồi dưỡng tình yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc và ý thức trân trọng giá trị truyền thống. Tôi cũng như nhiều bạn không giấu nổi vẻ phấn khích, vì đây là lần đầu tiên được đến thăm khu di tích lịch sử Văn Miếu - Quốc Tử Giám nổi tiếng.
Từ sáng sớm, tất cả các bạn học sinh trong trường đều lần lượt tập trung tại sân trường để điểm danh, nhận băng rôn và nghe thầy cô dặn dò nội quy chuyến đi. 19 chiếc xe khách chở hơn 900 bạn học sinh xuất phát từ sân trường lúc 7 giờ sáng. Phía trước mỗi xe đều có một dải băng rôn màu trắng in dòng chữ màu đỏ "Học sinh trường THCS Thị trấn Nghĩa Đàn tham quan khu di tích lịch sử Văn Miếu - Quốc Tử Giám". Trên xe, cả lớp cùng nghe cô giáo giới thiệu về lộ trình tham quan và tham gia các trò chơi, văn nghệ sôi nổi.
Khi xe đến nơi, học sinh lần lượt xuống xe chỉnh đốn lại trang phục, tập trung theo sự chỉ dẫn của hướng dẫn viên. Đoàn lần lượt di chuyển vào tham quan Khuê Văn Các, vườn bia Tiến sĩ và làm lễ dâng hương tại điện Đại Thành.
Cô hướng dẫn viên cho biết, mốc thời gian khởi công quần thể là vào năm 1070. Văn Miếu - Quốc Tử Giám có năm lớp không gian dọc theo trục thần đạo trung tâm: Khu thứ nhất (từ cổng chính đến cổng Đại Trung); khu thứ hai (từ Đại Trung Môn đến Khuê Văn Các); khu thứ ba (Hồ Thiên Quang và 82 Bia Tiến sĩ); khu thứ tư (cổng Đại Thành và Bài đường); khu thứ năm (Nhà Thái Học). Những gì liên quan đến sự nghiệp giáo dục, y học và chính trị của ông thời nhà Trần cũng hết sức phong phú. Đó là tờ "Thất trảm sớ" - biểu tượng của lòng chính trực; triết lý giáo dục "Học đi đôi với hành", "Không phân biệt giàu nghèo"; tập sách "Y học yếu giải" - cống hiến cho nền y học nước nhà.
Tôi rất thích tập thơ "Tiều ẩn thi tập" - một di sản văn học tinh tế. Quốc Tử Giám đã để lại tập thơ chữ Hán "Tiều ẩn thi tập" (tập thơ của người tiều phu ẩn dật) và một số bài thơ chữ Nôm. Tôi thấy, thơ của ông không mang tính giáo điều, gò bó của Nho giáo, mà tràn ngập tình yêu thiên nhiên, phong cảnh khoáng đạt và ẩn chứa nỗi niềm đau đáu với vận mệnh của đất nước, của nhân dân.
Sau khi tự do chụp ảnh lưu niệm và một số cảnh yêu thích: Những con rùa đá cõng bia, tán cây cổ thụ xù xì, mặt hồ xanh rêu và màu đỏ của lầu gỗ. Chúng tôi lần lượt tham quan và làm lễ dâng hương tại điện Đại Thành. Từng tốp học sinh tự do tham quan khu vườn phía sau, mua quà lưu niệm và xin chữ tại khu vực hồ Văn.
Rời khu di tích, chúng tôi từng tốp lần lượt tập trung chụp ảnh lưu niệm với lớp và trường học trước cổng của khu di tích lịch sử Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Sau đó, cả đoàn tập trung ra xe để trở về trường.
Trên đường về, dường như ai cũng trầm lắng hơn, cảm thấy lắng đọng và tự hào, vừa lưu luyến vì những trải nghiệm đáng nhớ, vừa thêm trân trọng truyền thống hiếu học và giá trị văn hóa của dân tộc. Có bạn xì xào nói chuyện về những ấn tượng sâu sắc của mình về chuyến đi. Có người mở điện thoại xem lại mấy bức ảnh đã chụp những cảnh yêu thích. Tôi cũng mua được một chiếc bút tre mộc mạc. Theo lời cô giáo, về trường, chúng tôi sẽ viết, vẽ về những gì đã để lại ấn tượng sâu sắc nhất qua chuyến tham quan. Vậy thì tôi sẽ dùng chính chiếc bút tre ấy để viết một bài văn chia sẻ những điều mang lại ấn tượng, kỉ niệm đáng nhớ qua chuyến đi, bởi vì Văn Miếu - Quốc Tử Giám là biểu tượng của truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo của dân tộc. Hơn nữa, chuyến tham quan giúp tôi nhận ra cần nỗ lực học tập, rèn luyện đạo đức để kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp ấy.
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ tài danh bậc nhất của văn học trung đại Việt Nam, nổi tiếng với phong cách thơ thể hiện tình cảm thiết tha gắn bó với quê hương và ẩn chứa tâm sự yêu nước cùng nỗi u uẩn trước thời thế. Bài thơ "bạn đến chơi nhà" được sáng tác vào khoảng năm 1884, trong thời gian Nguyễn Khuyến cáo quan về ở ẩn tại quê nhà. Bài thơ là 1 kiệt tác mẫu mực của thơ Đường luật Việt Nam.
Ngay khi người bạn tri kỉ của Nguyễn Khuyến đến chơi nhà, cũng là lúc tác giả nhận ra rằng đã một thời gian dài không được gặp và dành thời gian cho người bạn ấy:
"Đã bấy lâu nay bác tới nhà."
Khi sự việc người bạn đến thăm nhà diễn ra, "đã bấy lâu nay" - hoàn cảnh xa cách lâu ngày mới gặp lại, dễ khơi gợi sự nhớ nhung và cô đơn ở tác giả. Đối diện với sự việc ấy, tâm trạng nhà thơ không khỏi ngỡ ngàng khi người bạn bất ngờ đến nhà chơi.
Từ cái nhìn bao quát về sự việc người bạn đến thăm nhà, tầm mắt của nhà thơ dịch chuyển cận cảnh hơn để tìm kiếm những sự vật bình dị và bức tranh thiên nhiên hiện lên một cách hồn nhiên, thơ mộng và yên bình:
" Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,"
Hình tượng con người và cuộc sống nơi đây hiện lên thật thưa thớt, ít ỏi. Tác giả đã khắc họa hình ảnh "trẻ thời đi vắng" và "chợ thời xa", gợi lên sự thiếu vắng của những người con cháu và sự xa xôi trên con đường đi chợ. Trong nhà Nguyễn Khuyến có một cái "ao sâu", nhưng nước đã cạn và hoàn toàn không có cá; còn có cả "vườn rộng", nhưng rào lại thưa thớt nên rất khó để bắt được gà. Ngoài ra, trong khuôn viên "vườn" nhà của Nguyễn Khuyến cây "cải" nhưng lại hết, "cà" thì "mới nụ", "bầu" cũng vừa "rụng rốn", "mướp" đang còn "đương hoa", đến cả "trầu" cũng không có để tiếp khách. Sự tài hoa của nhà thơ nằm ở phép đối đầy sáng tạo ở bốn câu: "Ao sâu nước cả, khôn chài cá,/ Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà./ Cải chửa ra cây, cà mới nụ,/ Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.". Phép đối này nhằm làm cho câu thơ trở nên cân đối, hài hòa, tạo tính nhạc cho câu thơ; nhấn mạnh, tô đậm hoàn cảnh thiếu thốn, nghèo khó của tác giả. Sự xuất hiện của một tình huống bất ngờ, dí dỏm: Mọi sự vật đều có nhưng đang ở dạng tiềm năng, chưa thể sử dụng. Ngược lại, nó bộc lộ tình cảm chân thành, mộc mạc của tác giả, phản chiếu chính tâm trạng bất lực mà lạc quan của nhân vật trữ tình.
Mọi cảm xúc bị dồn nén suốt chuyến đi cuối cùng đã vỡ òa, đẩy tâm trạng bất lực của nhà thơ lên đến đỉnh điểm ở câu thơ cuối:
" Bác đến chơi đây, ta với ta."
Cụm từ "ta với ta" chính là Nguyễn Khuyến và người bạn. Tuy là hai người khác nhau nhưng đã hòa nhập thành một trong sự đồng điệu của tâm hồn. Lúc này, họ không còn khoảng cách, không cần giá trị vật chất. Đó cũng chính là tâm trạng bất lực mà vui vẻ, hạnh phúc và lạc quan của tác giả, ngay cả khi không có một thứ gì để tiếp khách.
Bên cạnh giá trị nội dung sâu sắc, "bạn đến chơi nhà" còn là một "viên ngọc sáng" về mặt nghệ thuật nhờ vào cách sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật điêu luyện, linh hoạt. Bài thơ tuân thủ nghiêm ngặt, chuẩn mực về cả luật, niêm và vần với các vần bằng kết thúc ở cuối câu 1, 2, 4, 6, 8 vô cùng nhịp nhàng: nhà-xa-gà-hoa-ta. Cấu trúc bốn phần Đề-Thực-Luận-Kết mạch lạc và có sự sáng tạo. Các vế đối ở câu 3-4 và câu 5-6 đạt đến độ hoàn mỹ, cân đối cao.
Tóm lại, "bạn đến chơi nhà" xứng đáng được coi là tác phẩm đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khuyến, đồng thời là "viên ngọc sáng", kiệt tác mẫu mực bậc nhất của thơ Đường luật trong nền văn học trung đại Việt Nam. Tác giả không chỉ khắc họa thành công bức tranh thiên nhiên hoang sơ, sự vật giản dị, mà còn nêu lên một tình bạn vô cùng cao đẹp, chân thành và trong sáng. Đọc bài thơ, bản thân mỗi chúng ta không khỏi khâm phục trước một tình bạn đẹp được xây dựng vững chắc trên sự thấu hiểu, tôn trọng và đồng điệu tâm hồn, hoàn toàn bỏ qua những toan tính hay vật chất. Tác phẩm "bạn đến chơi nhà" sẽ mãi là một thanh âm trầm mặc, quý phái reo rắt trong lòng các thế hệ độc giả mai sau.
Trong cuộc đời mỗi can người, có ai lại không được sinh ra và lớn lên tại quê hương của mình, ai mà lại không phải "kết bạn" với tuổi thơ? Trong tuổi thơ đầy hoài niệm ấy, không thể thiếu đi sự góp mặt của những nét vẻ đẹp thiên nhiên, những ngày trưa hè nắng oi ả hay những người bạn đầy tình nghĩa. Dẫu tuổi thơ ấy có đau khổ hay hạnh phúc, nó cũng chính là một phần quan trọng trong cuộc đời mỗi chúng ta. Có thể nói, sự trân trọng của ta với tuổi thơ cũng chính là lòng yêu quê hương sâu đậm. Tuy nhiên, lòng yêu thương quê hương ấy lại bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt và giản dị nhất, từ những món ăn dân giã đến những người hàng xóm trọng tình nghĩa. Vì vậy, lòng yêu quê hương, đất nước không ở đâu xa xôi, mà nó bắt nguồn từ những điều nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống hằng ngày.
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ hiện lên thật hồn nhiên, thơ mộng và yên bình với những cảnh vật, sự vật vô cùng gần gũi, đó là: "mưa phùn"; "mía cạnh giậu tre"; "khoai trong đám cỏ"