Nguyễn Thị Yến Nhi (11/10)
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
phương thức biểu đạt chính : Biểu cảm
Câu 2:
Nhân vật “tôi” vốn là một đóa hoa (cây bông)
Câu 3:
Biện pháp tu từ: Ẩn dụ (kết hợp với điệp).
• Phân tích:
• “Sợi chỉ” là hình ảnh ẩn dụ cho con người nhỏ bé.
• “Nhiều đồng bang”, “hợp nhau sợi dọc, sợi ngang” → ẩn dụ cho sự đoàn kết.
• Nhờ đó tạo nên “tấm vải mỹ miều” → biểu tượng cho thành quả lớn lao
Câu 4:
• Đặc tính của sợi chỉ: nhỏ bé, mảnh mai, tưởng như yếu ớt, dễ đứt.
• Sức mạnh của sợi chỉ: nằm ở khả năng liên kết, kết nối. Khi đứng riêng lẻ thì yếu, nhưng khi đan kết lại (hoặc gắn kết các phần khác) thì tạo nên sự bền chặt, chắc chắn và có giá trị lớn
Câu 5:
Bài thơ giúp em nhận ra một bài học ý nghĩa rằng trong cuộc sống, dù mỗi người có nhỏ bé, bình thường đến đâu thì vẫn có giá trị riêng. Giống như sợi chỉ tuy mỏng manh nhưng khi biết gắn kết với những sợi khác lại có thể tạo nên tấm vải bền chắc và đẹp đẽ. Vì vậy, em hiểu rằng sức mạnh không nằm ở sự to lớn của từng cá nhân mà nằm ở tinh thần đoàn kết và sự đồng lòng. Từ đó, em sẽ biết trân trọng bản thân mình hơn, đồng thời sống chan hòa, biết hợp tác và giúp đỡ mọi người xung quanh để cùng nhau tạo nên những điều tốt đẹp hơn trong cuộc sống
Bài làm :
Câu 1 : Trong văn học trung đại Việt Nam , hình tượng người phụ nữ thường hiện lên với vẻ đẹp đức hạnh , sự thuỷ chung nhưng cũng gắn liền với nhiều bi kịch đau xót . " Người liệt nữ ở An Ấp " của Đoàn Thị Điểm đã khắc hoạ thành công hình ảnh nhân vật " phu nhân " - một hiện tượng tiêu biểu cho người phụ nữ thời phong kiến với nhiều phẩm chất đáng trân trọng . Trước hết , bà là người tài sắc vẹn toàn , không chỉ đoan trang , khéo léo mà còn giỏi văn thơ , hiểu lễ nghĩa , luôn cư xử đúng mực với chồng . Đặc biệt , phu nhân mang vẻ đẹp nổi bật của lòng thuỷ chung , son sắt trong tình nghĩa vợ chồng . Khi chồng đi xa sứ , bà một lòng lo lắng , đau buồn tới sinh bệnh , rồi khi hay tin chồng mất nơi đất khách quê người , bà thương tiếc khôn nguôi , sống trong nổi cô đơn , tuyệt vọng. Ngay cả khi được mọi ngườ khuyên giải nhưng bà vẫn không nguôi ngoai mất chồng , đến cuối bà chọn cái chết để giữ trọn nghĩa tình . Hành động ấy thể hiện sự thuỷ chung tuyệt đối mà bà dành cho đối phương và cho thấy sự bi kịch của số phận người phụ nữ bị ràng buộc bởi phong tục thời ấy . Qua hình ảnh nhân vật " phu nhân " , tác giả muốn này tỏ sự ca ngợi đối với đức hạnh của người phụ nữ , đồng thời gợi lên niềm xót xa cho thân phận họ trong xã hội xưa.
Câu 2 :
Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc , đất nước Việt Nam chưa bao giờ thiếu vắng những kẻ sĩ mang trong mình hoài bão lớn , lấy vận mệnh quốc gia làm lẽ sống . Ở họ , trí tuệ không chỉ làm công cụ để mưu cầu lợi danh cá nhân mà còn à trách nhiệm thiêng liêng đối với non sông , đất nước . Hình tuọng Đinh Hoàn trong văn bản " Người liệt nữ ở An Ấp " - một kẻ sĩ sẵn sàng gác lại tình cảm , dấn thân vì việc nước - đã gợi lên nhiều suy nghĩ sâu sắc về trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước , không chỉ
Bài làm :
Câu 1 : Trong văn học trung đại Việt Nam , hình tượng người phụ nữ thường hiện lên với vẻ đẹp đức hạnh , sự thuỷ chung nhưng cũng gắn liền với nhiều bi kịch đau xót . " Người liệt nữ ở An Ấp " của Đoàn Thị Điểm đã khắc hoạ thành công hình ảnh nhân vật " phu nhân " - một hiện tượng tiêu biểu cho người phụ nữ thời phong kiến với nhiều phẩm chất đáng trân trọng . Trước hết , bà là người tài sắc vẹn toàn , không chỉ đoan trang , khéo léo mà còn giỏi văn thơ , hiểu lễ nghĩa , luôn cư xử đúng mực với chồng . Đặc biệt , phu nhân mang vẻ đẹp nổi bật của lòng thuỷ chung , son sắt trong tình nghĩa vợ chồng . Khi chồng đi xa sứ , bà một lòng lo lắng , đau buồn tới sinh bệnh , rồi khi hay tin chồng mất nơi đất khách quê người , bà thương tiếc khôn nguôi , sống trong nổi cô đơn , tuyệt vọng. Ngay cả khi được mọi ngườ khuyên giải nhưng bà vẫn không nguôi ngoai mất chồng , đến cuối bà chọn cái chết để giữ trọn nghĩa tình . Hành động ấy thể hiện sự thuỷ chung tuyệt đối mà bà dành cho đối phương và cho thấy sự bi kịch của số phận người phụ nữ bị ràng buộc bởi phong tục thời ấy . Qua hình ảnh nhân vật " phu nhân " , tác giả muốn này tỏ sự ca ngợi đối với đức hạnh của người phụ nữ , đồng thời gợi lên niềm xót xa cho thân phận họ trong xã hội xưa.
Câu 2 :
Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc , đất nước Việt Nam chưa bao giờ thiếu vắng những kẻ sĩ mang trong mình hoài bão lớn , lấy vận mệnh quốc gia làm lẽ sống . Ở họ , trí tuệ không chỉ làm công cụ để mưu cầu lợi danh cá nhân mà còn à trách nhiệm thiêng liêng đối với non sông , đất nước . Hình tuọng Đinh Hoàn trong văn bản " Người liệt nữ ở An Ấp " - một kẻ sĩ sẵn sàng gác lại tình cảm , dấn thân vì việc nước - đã gợi lên nhiều suy nghĩ sâu sắc về trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước , không chỉ
câu 1)
Bài làm :
Trong đoạn trích, diễn biến tâm lí của ông giáo Thứ được thể hiện khá rõ qua những suy nghĩ và cảm xúc khi đứng trước cảnh nghèo khó của gia đình. Lúc đầu, Thứ chỉ thấy cuộc sống của mình quá mệt mỏi, quanh năm chỉ lo cơm áo mà chẳng có niềm vui gì. Nhưng càng nghĩ, Thứ càng nhận ra những gánh nặng mình đang mang và cả tương lai tối tăm phía trước. Khi về quê, chứng kiến bữa cơm của cả nhà chỉ có rau, trong khi mình lại có một đĩa cá kho, Thứ bắt đầu cảm thấy ngượng ngùng và thương mẹ, thương vợ, thương các em. Tâm trạng ấy lên đến đỉnh điểm khi Thứ phải ngồi ăn một mình bát cơm lồng, còn mọi người đều nhịn đói. Lúc ấy, miếng cơm nghẹn lại khiến Thứ rơi nước mắt. Qua diễn biến tâm lí đó, ta thấy Thứ là người sống nội tâm, giàu tình thương và biết suy nghĩ cho người khác. Dù nghèo khổ và bất lực trước cuộc đời, Thứ vẫn giữ được sự tử tế và lòng trắc ẩn. Chính những điều đó làm nhân vật trở nên đáng thương nhưng cũng rất đáng trân trọng
caau 1) ngôi thứ ba
câu 2)
Điểm nhìn của người kể chuyện đặt vào nhân vật Thứ.
Giúp người đọc thấy rõ những suy nghĩ, cảm xúc thầm kín và nỗi đau âm ỉ bên trong Thứ.
câu 3
Nước mắt của Thứ ứa ra khi ăn cơm vì Thứ quá thương gia đình mình: bà, mẹ, vợ và các em đều đói khổ mà vẫn cố nhường phần ăn cho Thứ. Thứ cảm thấy tội lỗi và xót xa khi mình được ăn trong lúc người khác đáng được ăn hơn. Sự nghẹn ngào ấy khiến Thứ vừa ăn vừa rơi nước mắt
câu 4
Qua nhân vật ông giáo Thứ, Nam Cao phản ánh cuộc sống nghèo túng, bế tắc và mòn mỏi của tầng lớp trí thức nghèo trong xã hội cũ, đồng thời bày tỏ sự cảm thông đối với những con người lương thiện nhưng phải sống trong cảnh cơm áo đè nặng