Thào Văn Bằng
Giới thiệu về bản thân
Một số điển tích, điển cố của văn bản: mắt xanh, non sông một chèo, phỉ nguyên sánh phượng
Văn bản kể về việc Từ Hải gặp Thúy Kiều nơi chốn lầu xanh. Biết được hoàn cảnh đau thương của Kiều cũng như cảm phục trước tấm lòng kính trọng và sắc đẹp tuyệt trân của nàng, người anh hùng đã quyết định chuộc nàng ra và lấy nàng làm vợ
Câu 1: Sự việc trong văn bản là về việc Lê Tương
Dực dọa giết Vũ Như Tô vì không xây Cửu Trùng
Đài nhưng Vũ Như Tô kiên quyết giữ vững quan điểm rồi thậm chí còn sỉ mắng tên hôn quân, cuối cùng Vũ Như Tô chấp nhận xây Cửu Trùng Đài sau khi Lê Tương Dực đồng ý với các điều kiện của ông.
Câu 2: Vũ Như Tô yêu câu Lê Tương Dực cho những người thợ về việc đài phải được xây theo đúng bản vẽ của ông cũng như triều đình phải quý trọng công lao xây dựng của những người thợ và phải có trọng đãi xứng đáng.
Câu 3:
- Các chỉ dẫn sân khấu : (cười găn), (lòng tự tin của
Vũ làm cho vua kinh ngạc), (mừng rỡ), (đến lần túi
Vũ Như Tô ... một quyển sổ dày), (khinh bỉ), ...
- Tác dụng với người đọc : giúp người đọc hiểu rõ hơn tâm trạng, tính cách của nhân vật thông qua hành động, cử chỉ để từ đó giúp cảm nhận rõ hơn về câu chuyện.
Câu 4: Văn bản thể hiện xung đột giữa Lê Tương
Dực với Vũ Như Tô về việc xây dựng Cửu Trùng Đài khi Lê Tương Dực muốn xây dựng một lâu đài thật nguy nga, tráng lệ để làm nơi ăn chơi hưởng lạc còn
Vũ Như Tô thì đề cao vẻ đẹp nghệ thuật cùng quyền lợi của người thợ.
Câu 5: Trong văn bản, ta thấy được lời nói của Vũ Như Tô mang đầy sự mạnh mẽ, quyết đoán. Dù cho có bị tên hôn quân dọa giết, ông vẫn tỏ ra không một chút sợ hãi mà còn sỉ mắng ngược lại. Ông cũng rất thẳng thắn nói ra quan điểm của mình và nêu rõ mong muốn của bản thân cùng quyền lợi của người thợ. Qua đó, ta thấy được ở con người ông một khí chất kiên cường, hết lòng vì nghệ thuật. Dù vậy, ông cũng đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng khi lợi dụng bạo chúa để thể hiện tài năng khiến bản thân gặp tai hoạ về sau
Truyện ngắn "Hai lần chết" của nhà văn Thạch Lam đã để lại cho em một ấn tượng sâu sắc về nhân vật
Dung đây đáng thương, bất hạnh. Là phận con gái trong gia đình nghèo, nàng đã bị cha mẹ đối xử bất công ngay từ khi còn bé. Chính những bất công phải cam chịu ngay từ tấm bé đã khiến trong nàng sinh ra tính chỉ biết an phận, nhẫn nại. Đến khi lấy chồng, nàng lại tiếp tục bị gia đình chồng hắt hủi, phải làm biết bao công việc mà đổi lại vẫn chỉ là sự coi khinh.
Tủi nhục quá, nàng đành phải trốn về quê với hy vọng tìm được sự cảm thông từ cha mẹ. Nào ngờ, chính mẹ đẻ của nàng còn nỡ lòng bỏ mặc nàng và còn không muốn nhận nàng làm con nữa. Đau đớn tột cùng, nàng ra sông định tự tử thì lại được người khác cứu giúp. Trên đường về nhà chồng, nhìn bóng dòng sông chảy ra xa cùng với cảnh người hai bên đường bàn tán thì thào, cô đã biết được cái chết thật sự của mình. Từ câu truyện của cô, ta thấy được ở con người cô một tâm hồn nhỏ bé, trong sáng mà phải chịu nhiều đau thương. Dù có phải chịu nhiều bất công từ khi còn nhỏ lẫn cả khi về nhà chồng, cô vẫn không một lời oán trách hay dám đứng lên phản kháng dù chỉ một chút. Khi vào lúc tuyệt vọng quá, cô đành lựa chọn cái chết nhưng kết quả lại không được. Cuối cùng, cô chỉ đành ngậm ngùi chấp nhận số phận. Có thể thấy, hy vọng về tình mẫu tử vẫnluôn nhen nhóm trong lòng cô khi dù cho có bị bố mẹ đối xử bất công ngay khi còn nhỏ nhưng đối với cô, bố mẹ cô vẫn luôn là niềm tin duy nhất để cô trở về khi bị nhà chồng hắt hủi. Chính khoảnh khắc mà mẹ ruột ruồng bỏ cô đã khiến cô hoàn toàn tuyệt vọng và hiểu rằng sẽ không có lối thoát nào ngoài cái chết cho bản thân. Nhờ việc xây dựng tình huống gây cấn, sáng tạo nhân vật qua lời nói và hành động của tác phẩm mà ta có thể thấy được số phận bất hạnh của nhân vật Dung. Số phận bất hạnh ấy cũng là số phận chung của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến khi họ luôn bị trói buộc bởi những quan niệm lạc hậu đến từ định kiến xã hội và trong cả chính gia đình mà không có sự tự do lựa chọn hạnh phúc đích thực. Qua đó, khát vọng lớn lao về một xã hội bình đẳng, nhân đạo lại trở nên cao cả hơn bao giờ hết
Câu 2
Hôn nhân dưới sự áp đặt của cha mẹ: Hạnh phúc mong manh
Hôn nhân là một sự kiện trọng đại trong cuộc đời mỗi người, đánh dấu bước ngoặt trong hành trình xây dựng hạnh phúc cá nhân. Tuy nhiên, ở một số gia đình, quyết định này lại không hoàn toàn thuộc về người trong cuộc mà chịu sự chi phối, thậm chí là áp đặt từ phía cha mẹ. Việc cha mẹ áp đặt con cái trong hôn nhân, dù xuất phát từ những lo lắng hay kỳ vọng nào, cũng tiềm ẩn nhiều hệ lụy tiêu cực, đe dọa đến hạnh phúc bền vững của cả một gia đình.
Trước hết, cần khẳng định rằng tình yêu và hôn nhân là quyền tự do cá nhân, được pháp luật và đạo đức xã hội tôn trọng. Mỗi người trưởng thành có quyền tự quyết định người bạn đời, xây dựng mối quan hệ dựa trên tình cảm, sự đồng điệu và tôn trọng lẫn nhau. Sự can thiệp, áp đặt từ bên ngoài, đặc biệt là từ cha mẹ, có thể xâm phạm đến quyền tự do cơ bản này. Cha mẹ có thể có những kinh nghiệm sống, những quan điểm riêng về một người bạn đời "tốt," nhưng những tiêu chí đó chưa chắc đã phù hợp với mong muốn, tính cách và nhu cầu thực tế của con cái.
Thực tế cho thấy, những cuộc hôn nhân được sắp đặt, áp đặt thường thiếu đi nền tảng tình yêu vững chắc. Con cái có thể miễn cưỡng chấp nhận sự lựa chọn của cha mẹ vì lòng hiếu thảo, vì không muốn làm buồn lòng đấng sinh thành, hoặc thậm chí vì áp lực kinh tế, địa vị xã hội mà gia đình mang lại. Tuy nhiên, sự thiếu vắng tình yêu và sự tự nguyện sẽ khiến cuộc sống hôn nhân trở nên gượng gạo, lạnh lẽo, thậm chí dẫn đến những xung đột, bất hạnh không đáng có. Hai người sống chung dưới một mái nhà nhưng tâm hồn xa cách, không có sự sẻ chia, thấu hiểu, liệu có thể xây dựng một gia đình hạnh phúc?
Hơn nữa, việc cha mẹ áp đặt hôn nhân còn tạo ra những rào cản trong mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ. Khi con cái cảm thấy không được tôn trọng quyết định cá nhân, cảm thấy bị ép buộc phải sống theo ý muốn của người khác, sự tin tưởng và gắn kết trong gia đình có thể bị rạn nứt. Con cái có thể cảm thấy oán trách, xa lánh cha mẹ, dẫn đến những mâu thuẫn âm ỉ, kéo dài, gây tổn thương cho cả hai bên. Thay vì là những người đồng hành, chia sẻ, cha mẹ vô tình trở thành người gây áp lực, tạo ra gánh nặng tâm lý cho con cái.
Bên cạnh đó, những cuộc hôn nhân không xuất phát từ tình yêu thường khó có được sự bền vững. Khi đối diện với những khó khăn, thử thách trong cuộc sống gia đình, sự thiếu hụt tình cảm sẽ khiến vợ chồng dễ dàng nản lòng, buông xuôi. Họ không có đủ động lực và sự gắn kết để cùng nhau vượt qua sóng gió. Hậu quả là những cuộc hôn nhân đổ vỡ, gây ra những tổn thương sâu sắc cho cả người trong cuộc và những người thân xung quanh, đặc biệt là con cái (nếu có).
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một cách khách quan rằng, đôi khi sự lo lắng của cha mẹ xuất phát từ tình thương và mong muốn con cái có một cuộc sống ổn định, hạnh phúc. Họ có thể nhìn thấy những rủi ro, những khó khăn mà con cái chưa lường trước được. Nhưng thay vì áp đặt, cha mẹ nên đóng vai trò là người định hướng, chia sẻ kinh nghiệm, giúp con cái có cái nhìn đa chiều và đưa ra quyết định sáng suốt nhất. Sự tôn trọng quyền tự do cá nhân của con cái vẫn là yếu tố then chốt để duy trì một mối quan hệ gia đình và hạnh phúc.
Tóm lại, việc cha mẹ áp đặt con cái trong hôn nhân là một hành động đi ngược lại quyền tự do cá nhân và tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ra bất hạnh cho cả con cái và gia đình. Hôn nhân chỉ thực sự bền vững và hạnh phúc khi được xây dựng trên nền tảng tình yêu, sự tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau. Cha mẹ nên tin tưởng vào khả năng lựa chọn của con cái, đồng hành và hỗ trợ con cái trên hành trình xây dựng hạnh phúc riêng, thay vì áp đặt và quyết định thay cho chúng. Chỉ khi đó, mái ấm gia đình mới thực sự là nơi bình yên và hạnh phúc cho tất cả các thành viên.
Câu 1: Thể loại : Truyện ngắn
Câu 2: Đề tài: số phận đau khổ và bất công của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Câu 3: Trong văn bản, cùng với ngôi kế thứ ba mà người kế chuyện vừa kế lại câu chuyện, vừa như nhập tâm vào nhân vật. Điều này giúp người đọc phần nào hiểu được sự đồng điệu trong suy nghĩ và tâm hồn của người kể với nhân vật và giúp cho mạch truyện trở nên thống nhất chặt chẽ, sâu sắc và đầy cảm xúc.
Câu 4: Đoạn trích trên đã cho thấy sự đau đớn, tuyệt vọng và bế tắc trong tâm hồn của Dung. Nàng đau đớn vì không gì có thể cứu rỗi được bản thân ngoài cái chết với hình ảnh dòng sông gợi lên cái chết là một sự giải thoát. Nàng tuyệt vọng, bế tắc vì giờ đây khi về nhà chồng thì "mới hắn là chết đuối" và mọi thứ đều không còn gì có thể cứu rỗi được nàng nữa, đó mới chính là cái chết thật sự với hình ảnh dòng sông tượng trưng cho cái chết.
Câu 5: Thông qua số phận đáng thương của nàng
Dung, tác giả đã thể hiện một tình cảm sâu sắc với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Tình cảm ấy chứa chan biết bao sự cảm thông, chia sẻ với số phận bất hạnh mà họ phải chịu đựng với những quan niệm lạc hậu. Từ đó, thực trạng xã hội phong kiến đầy bất công, đau khổ được phơi bày và lên án kịch liệt. Qua đó, tác giả đặt ra cho chúng ta bài học về tình thương yêu, sự bình đăng trong cuộc sống trở nên cao quý biết nhường nào để giúp mỗi người có được một cuộc đời hạnh phúc trọn vẹn.
Cuộc sống của chúng ta, chúng ta nên tự giác hoạch định, không nên dựa dẫm hay ỷ lại vào ai. Có thể thấy, việc sống tự lập ở thế chủ động có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với con người. Tự lập là tự giác làm những việc của bản thân mình mà không đợi ai nhắc nhở, chê trách.
Ngoài ra, tự lập còn mang nghĩa tự làm lấy, tự giải quyết công việc của mình, tự lo liệu, tạo dựng cuộc sống cho riêng mình, không trông chờ, dựa dẫm phụ thuộc vào gia đình hay người khác. Còn sống ở thế chủ động là việc mỗi người luôn biết làm chủ cuộc sống của mình, đề ra mục tiêu và thực hiện chúng một cách hoàn thiện, không để người khác phải nhắc nhở những công việc liên quan đến bản thân mình. Sống ở thế chủ động có ý nghĩa to lớn đối với cuộc sống con người, nó làm cho con người năng động hơn, sáng tạo hơn, giúp ích rất nhiều cho cuộc sống. Mỗi con người chỉ được sống một lần, chúng ta cần sống có ước mơ, biết vươn lên để thực hiện mục tiêu mà bản thân mình đề ra trước hết tạo của cải vật chất để nuôi sống bản thân, sau để cống hiến cho xã hội. Người sống ở thế chủ động sẽ lường trước được những khó khăn cũng như thuận lợi của cuộc sống, từ đó biết nắm bắt mọi cơ hội tốt hơn người sống ở thế bị động.Trong cuộc sống, mỗi con người ai cũng sẽ có lúc gặp phải khó khăn, gian khổ, trắc trở. Nếu chúng ta không ngừng hi vọng về một tương lai tươi sáng hơn, một cuộc sống tốt đẹp hơn ở phía trước, chúng ta sẽ có động lực để cố gắng vươn lên, vượt qua khó khăn ở thực tại. Người sống ở thế chủ động sẽ được mọi người yêu quý, tín nhiệm, tin tưởng và học tập theo, từ đó truyền được nguồn cảm hứng, những thông điệp tốt đẹp đến với mọi người, tạo ra một xã hội tốt đẹp hơn.
Tuy nhiên trong xã hội vẫn còn có nhiều người sống ở thế bị động, không có mục tiêu, không biết lường trước cuộc sống, khi có chuyện không may xảy đến không biết ứng phó. Lại có những người sống ỷ lại, dựa dẫm vào người khác mà không cố gắng trong cuộc sống của chính mình,… những người này đáng chỉ trích. Mỗi người chỉ được sống một lần duy nhất, chúng ta hãy sống, tự làm chủ cuộc sống của mình, hướng đến những điều tốt đẹp để cuộc sống thêm ý nghĩa hơn
Trong bài thơ "Tống biệt hành," hình tượng "người khách" hiện lên với vẻ đẹp vừa lãng mạn, hào hoa, vừa chất chứa nỗi buồn ly biệt sâu sắc. Ngay từ những câu thơ đầu, "người khách" đã được khắc họa với dáng vẻ "áo xanh," "tay xách bầu rượu," một hình ảnh tiêu biểu cho những người lãng tử, coi trọng tình nghĩa và tự do. Sự xuất hiện của "người khách" mang đến một không gian chia ly nhuốm màu cổ điển, gợi nhớ đến những cuộc tiễn đưa trong văn chương xưa.
Tuy nhiên, ẩn sau vẻ ngoài phóng khoáng ấy là một tâm hồn nhạy cảm và nặng trĩu ưu tư. Cử chỉ "khua tay" như muốn níu giữ thời gian, cùng với ánh mắt "buồn không nói," diễn tả sâu sắc sự quyến luyến, bịn rịn khi phải chia xa. "Người khách" không chỉ là một cá nhân cụ thể mà còn mang tính biểu tượng cho những tâm hồn đẹp, những người trân trọng những khoảnh khắc gặp gỡ và cảm thấy xót xa trước sự tan vỡ của những mối giao tình. Hình tượng "người khách" đã góp phần tạo nên một không khí vừa trang trọng, vừa da diết cho bài thơ, làm nổi bật nỗi buồn chia ly, một trong những chủ đề永恆 của thi ca.
Qua văn bản, em thấy được rằng sống ở đời cần phải biết ra đi vì nghĩa lớn và sẵn sàng hy sinh bản thân vì mục tiêu đã đề ra. Cùng với đó, cần phải biết trân trọng, ngưỡng mộ những người biết hy sinh vì nghĩa lớn. Bởi lẽ, nghĩa lớn không chỉ giúp con người tôi luyện bản thân trở nên cứng răn hơn mà đôi khi còn có thể giúp ích cho người khác. Vì lẽ đó, nếu chúng ta biết hy sinh và quý trọng nghĩa lớn thì cuộc sống sẽ trở nên có ý nghĩa hơn và tươi đẹp hơn với những lý tưởng, khát vọng cao quý.
Hình ảnh "tiếng sóng" trong văn bản gợi lên một cảm xúc trào dâng khó tả trong người đưa tiễn với người ra đi trong buổi chia tay. Cảm xúc đó tựa như cơn sóng mạnh mẽ tuôn trào đầy sức sống như tô đậm sự lưu luyến giữa người với người dành cho nhau.
Đó chính là một cảm xúc hết sức xao động gợi lên cảm giác không yên bình trong lòng mỗi nhân vật.
Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường: kết hợp từ bất bình thường ("không thắm",
"không vàng vọt", "hoàng hôn trong mắt trong")
- Tác dụng: làm cho câu thơ thêm sinh động và gợi hình, gợi cảm. Gợi lên một khung cảnh chia tay đầy lưu luyến qua đó làm nổi bật tình cảm sâu sắc giữa người đi xa với người đưa tiễn dành cho nhau.