Nguyễn Hoàng Phương Mai

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Hoàng Phương Mai
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Cần tiêm vaccine phòng cúm mỗi năm nhưng chỉ cần tiêm vaccine quai bị một lần trong đời (hoặc theo phác đồ cơ bản) vì những lý do sau: 1. Đối với bệnh Cúm Sự biến đổi của virus: Virus cúm có khả năng thay đổi cấu trúc kháng nguyên rất nhanh và liên tục. Mỗi năm, các chủng virus cúm mới thường xuất hiện, khiến kháng thể từ vaccine của năm trước không còn khả năng nhận diện và tiêu diệt chúng hiệu quả. Thời gian miễn dịch: Khả năng miễn dịch do vaccine cúm tạo ra thường giảm dần theo thời gian (thường chỉ kéo dài khoảng 6-12 tháng). 2. Đối với bệnh Quai bị Tính ổn định của virus: Virus gây bệnh quai bị có cấu trúc kháng nguyên rất ổn định, ít thay đổi qua nhiều năm. Trí nhớ miễn dịch: Vaccine quai bị giúp cơ thể tạo ra trí nhớ miễn dịch bền vững. Một khi hệ miễn dịch đã nhận diện được loại virus này, nó có thể bảo vệ cơ thể trong một thời gian rất dài, thường là suốt đời.

Các lĩnh vực ứng dụng của vi sinh vật: Vi sinh vật được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: Nông nghiệp, Công nghiệp thực phẩm, Y học, và Xử lý môi trường. 2. Ví dụ cụ thể: Công nghiệp thực phẩm: Sử dụng vi khuẩn lactic để muối dưa, làm sữa chua; sử dụng nấm men để làm bánh mì, sản xuất bia rượu. Y học: Sử dụng vi khuẩn hoặc nấm để sản xuất thuốc kháng sinh (ví dụ: nấm Penicillium sản xuất Penicillin), sản xuất vaccine hoặc vitamin. Nông nghiệp: Sử dụng vi sinh vật để sản xuất phân bón vi sinh, thuốc trừ sâu sinh học. Môi trường: Sử dụng vi sinh vật để phân hủy rác thải hữu cơ, xử lý nước thải hoặc các sự cố tràn dầu.

Sự sinh trưởng của vi sinh vật chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, độ pH, ánh sáng và nồng độ các chất dinh dưỡng. Dựa vào các hiểu biết này, ta có thể bảo quản thực phẩm bằng cách tạo ra môi trường bất lợi cho chúng, cụ thể như: phơi khô (giảm độ ẩm), ướp muối hoặc đường (tạo áp suất thẩm thấu), cất giữ trong tủ lạnh (hạ nhiệt độ) hoặc hút chân không (loại bỏ oxy) để ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây hỏng thức ăn.

Sự khác biệt cơ bản giữa hai nhóm nằm ở độ phức tạp của cấu trúc tế bào. Vi sinh vật nhân sơ (như vi khuẩn) chủ yếu sinh sản vô tính thông qua hình thức phân đôi là chính, ngoài ra còn có nảy chồi và tạo bào tử đốt; quá trình này diễn ra đơn giản, không có tơ vô sắc. Trong khi đó, vi sinh vật nhân thực (như nấm, tảo, động vật nguyên sinh) có hình thức sinh sản đa dạng hơn, bao gồm cả vô tính (nguyên phân, nảy chồi, bào tử vô tính) và hữu tính (hình thành bào tử hữu tính thông qua giảm phân và thụ tinh). Điểm mấu chốt là sinh vật nhân thực có quá trình nguyên phân và giảm phân thực thụ, giúp duy trì và biến dị di truyền phức tạp hơn so với nhân sơ.

Quá trình nhân lên của virus trong tế bào chủ gồm 5 giai đoạn: hấp phụ (bám vào thụ thể tế bào), xâm nhập (đưa bộ gene vào trong), tổng hợp (dùng nguyên liệu chủ để tạo acid nucleic và protein), lắp ráp (hình thành các hạt virus mới) và phóng thích ra ngoài. Cơ chế gây bệnh chủ yếu do virus trực tiếp phá hủy tế bào khi nhân lên, chiếm dụng nguồn dinh dưỡng làm rối loạn chức năng mô hoặc kích thích hệ miễn dịch gây phản ứng viêm quá mức, dẫn đến các tổn thương đặc trưng cho cơ thể vật chủ

Có nhiều ứng dụng quan trọng trong thực tiễn, đặc biệt là trong y học và nông nghiệp. Trong y học, chúng được dùng làm vector trong liệu pháp gene để chữa bệnh di truyền, sản xuất vaccine phòng bệnh, hoặc dùng thực phẩm thể để tiêu diệt vi khuẩn kháng thuốc. Trong nông nghiệp, virus được sử dụng để sản xuất thuốc trừ sâu sinh học, giúp diệt trừ sâu bệnh mà không gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, chúng còn là công cụ gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, chúng còn là công cụ đắc lực trong kĩ thuật di truyền để chuyển gene, giúp tạo ra các giống chất lượng cao.

1:Số nucleotide mỗi loại của đoanh DNA đó là:

+Adenine(A):2000 nucleotide

+ Thymine(T):2000 nucleotide

+Guanine(G):2500 nucleotide

+Cytosine(X):2500 nucleotide

2:Số nucleotide mỗi loại của mạch thứ 2 là:

+Adenine(A2):850 nucleotide

+Thymine(T2):1150 nucleotide

+Guanine(G2):1610 nucleotide

+Cytosine(X2):890 nucleotide

1: Phân tử nước có cấu trúc góc, với nguyên tử oxy ở trung tâm liên kết 2 nguyên tử hydro bằng liên kết cộng hoá trị phân cực

2: Vì nước có khả năng giữ nhiệt tốt và toả nhiệt chậm, giúp bảo vệ cây mạ khỏi sương giá và nhiệt độ lạnh

DNA là phân tử sợi kép bao gồm 1 chuỗi dài các nucleotide. RNA thường là chuỗi xoắn đơn gồm những nucleotide ngắn hơn

DNA:

+ Nucleotide (A,T,G,C)

+2 mạch polynucleotide

+Mang, bảo quản và truyền đạt thông tin di truyền

RNA:

+Nucleotide (A,U,G,C)

+1 mạch polynucleotide

+Tổng hợp protein, truyền đạt thông tin di truyền, cấu tạo ribosome